SAU ĐÊM BỊ CHỒNG Đ:ÁNH ĐẾN MỨC KHÔNG MỞ NỔI MẮT, BỐ TÔI LẬP TỨC ĐẾN NHÀ CHỒNG ĐÓN C:ON G:ÁI VỀ. MẸ CHỒNG CHẶN NGAY CỬA, T:ÁT TÔI MỘT CÁI RỒI G:ÀO LÊN: “HỒI XƯA TÔI BỊ CHỒNG Đ:ÁNH SUỐT BA MƯƠI NĂM CÒN CẮN RĂNG CHỊU ĐỰNG, CÓ CHẠY VỀ NHÀ MẸ Đ:Ẻ NHƯ NÓ ĐÂU! ĐÀN BÀ ĐÃ LẤY CHỒNG THÌ SỐNG CH:ẾT CŨNG PHẢI Ở NHÀ CHỒNG!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Chiếc điện thoại trong túi áo bà Lệ vẫn sáng. Bà chộp lấy, ấn mạnh nút nguồn, nhét sâu xuống đáy túi, bàn tay run đến mức làm rơi cả vạt áo.
“Tin nhắn nhầm số!” Bà gào lên, giọng the thé. “Ông thông gia đưa chìa khóa đây! Đó là đồ của tôi!”
“Đồ của bà mà có tên con gái tôi buộc vào?” Bố tôi xòe bàn tay, chiếc chìa khóa nhỏ nằm giữa lòng bàn tay chai sạn, sợi chỉ đỏ lòng thòng. “Hạnh, con đọc đi.”
Tôi cầm mảnh giấy. Nét chữ run run, nghiêng nghiêng, tôi đã thấy nó vô số lần trên những tờ giấy ghi chú dán trên tủ lạnh: “Hạnh ăn cơm chưa con”, “Su sốt, mẹ đi mua thuốc”. Đúng là chữ của bà Lệ.
“Mẹ viết cái này từ khi nào?” Tôi hỏi, giọng khàn đặc vì môi còn nứt.
“Mày… mày không có quyền hỏi!” Bà Lệ lao tới định giật, nhưng bố tôi lùi một bước, che tôi sau lưng.
“Bà bình tĩnh,” bố nói. “Tôi không phải người ăn cắp. Nhưng con gái tôi vừa bị đ:ánh đến mù một bên mắt, và bà vừa t:át nó. Tôi nghĩ nó có quyền biết cái chìa khóa này mở ra cái gì.”
Đúng lúc ấy, tiếng giày vang lên ngoài ngõ. Tuấn bước vào sân, áo xộc xệch, mắt đỏ ngầu vì cơn say chưa tan hẳn. Anh vừa đi mua thuốc lá về, thấy cảnh trước mặt thì khựng lại, rồi mặt sầm xuống.
“Ông đến đây làm gì? Ai cho ông vào nhà tôi?”
“Tuấn,” bố tôi nhìn thẳng vào anh, giọng không cao nhưng nặng như đá. “Tôi đến đón con gái tôi.”
“Nó là vợ tôi!” Tuấn gầm lên. “Hạnh, vào nhà ngay! Mới sáng ra làm trò gì thế hả?”
Anh bước tới định túm tay tôi. Bố tôi đưa cánh tay chắn ngang. Tôi nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch, nhưng lạ thay, tôi không lùi. Ba năm qua, mỗi lần anh nổi nóng, tôi đều lùi. Hôm nay tôi nhìn anh, nhìn bàn tay anh đang giơ lên giữa không trung, và chợt nghĩ: chính bàn tay này tối qua đã đ:ánh mình trước mặt con gái ba tuổi.
“Anh đ:ánh em,” tôi nói chậm rãi, “trước mặt Su.”
“Tao say! Tao có biết gì đâu!” Tuấn quát. “Mày chọc tao trước còn gì!”
“Em hỏi anh về trễ vì sao. Chỉ một câu.”
Tuấn khựng lại. Bà Lệ bỗng lao đến nắm tay con trai, kéo mạnh: “Thôi, đừng làm lớn! Vào nhà, vào nhà mẹ nói!” Giọng bà bỗng cuống quýt, hoàn toàn khác với bà Lệ hung hăng vừa nãy. Tôi nhìn bà. Bà không nhìn tôi, mắt cứ ghim vào bàn tay bố tôi đang nắm chiếc chìa khóa.
Tôi hít một hơi thật sâu.
“Mẹ,” tôi nói, “con sẽ không về trong nhà. Nhưng trước khi đi, con muốn mở cái tủ của mẹ. Chìa khóa này có tên con. Mẹ viết thế mà.”
“Không được!” Bà Lệ hét lên. “Đó là đồ riêng của tao! Tuấn, ngăn nó lại!”
Tuấn nhìn mẹ, rồi nhìn tôi, rồi nhìn bố tôi. Anh chưa từng thấy mẹ mình hoảng đến vậy.
“Mẹ, trong tủ có gì mà mẹ sợ?”
“Không có gì! Toàn đồ cũ của bố con!”
“Vậy thì để nó mở,” Tuấn nói, và tôi thấy một nét gì đó thoáng qua trong mắt anh, nửa tò mò, nửa ngờ vực. Anh tránh đường.
Bà Lệ ngồi sụp xuống bậc thềm, hai tay ôm đầu. Tôi bế Su, bố tôi đi trước, chúng tôi bước vào buồng bà, nơi tôi chưa từng được vào trong bốn năm làm dâu. Chiếc tủ gỗ cũ sẫm màu đứng ở góc phòng, mặt gỗ bóng lên vì bao năm bàn tay người ta lau chùi.
Tôi tra chìa vào ổ. Tiếng lách cách vang lên khô khốc.
Cánh tủ mở ra. Ngăn trên cùng chất đầy giấy tờ cũ buộc dây chun. Ngăn giữa là một chiếc hộp sắt, bên trên đặt cuốn sổ bìa đen mà tôi từng thấy bà ôm ba hôm trước. Ngăn dưới cùng, một chiếc túi vải màu xanh, miệng buộc kín.
Tôi mở cuốn sổ trước. Trang đầu là nét chữ của bà Lệ, ngay ngắn, rõ ràng: “Nhật ký thương tích – bà Lê Thị Lệ.”
Tôi lật tiếp. Từng trang, từng dòng, từng ngày tháng. “Ngày 12 tháng 3, ông ấy đ:ánh vào lưng, gãy một chiếc xương sườn. Đi viện nói ngã cầu thang.” “Ngày 5 tháng 9, ông ấy đ:ánh tới khi tôi ngất. Thằng Tuấn mới sáu tuổi đứng ngoài cửa khóc.” “Ngày 20 tháng 1, ông ấy ném chén vào đầu. Khâu bảy mũi. Bác sĩ hỏi, tôi nói tôi vấp.”
Những dòng chữ bầm dập, kéo dài suốt gần ba mươi năm.
Tôi đọc mà tay run lên. Bố tôi đứng sau lưng, im lặng. Tuấn nhìn qua vai tôi, mặt tái dần.
“Cái gì đây?” Anh lẩm bẩm. “Bố… bố con đ:ánh mẹ…?”
Bà Lệ vẫn ngồi ngoài thềm, không dám vào. Tôi nghe tiếng bà khóc, nhỏ thôi, nghẹn lại.
Tôi mở chiếc hộp sắt. Bên trong là một xấp giấy khám thương tích có dấu đỏ bệnh viện, mấy tấm ảnh chụp vết bầm tím ố vàng, và một cuốn sổ tiết kiệm đứng tên Lê Thị Lệ, số dư gần bảy trăm triệu. Dưới cùng là một phong bì dày, bên ngoài dán tờ giấy: “Gửi Hạnh. Mẹ gom từ hồi con về làm dâu. Nếu con cần chạy, con cầm lấy mà chạy.”
Tôi sững người. Tay buông xuống. Bố tôi bước đến, đỡ lấy vai tôi.
“Hạnh, con ngồi xuống.”
Tôi không ngồi. Tôi mở túi vải xanh. Bên trong là một chiếc điện thoại cũ, mấy bản sao giấy tờ nhà, một tờ đơn ly hôn đã điền sẵn thông tin, và một bản ghi chép dài, ngày cuối cùng là tuần trước, nét chữ vội vàng: “Thằng Tuấn đã đ:ánh con Hạnh lần thứ ba trong năm nay. Mẹ nghe thấy tiếng. Mẹ không dám ra. Mẹ lại hèn rồi.”
Tôi ngẩng lên, nhìn Tuấn. Anh đứng ngây ra như bị rút hết sinh khí, mắt dán vào dòng chữ cuối.
“Lần thứ ba?” Tôi nói. “Mẹ ghi lần thứ ba. Em nhớ có lần mẹ bảo em té cầu thang, mẹ đưa em đi viện khâu chân mày. Hóa ra mẹ biết hết.”
Bà Lệ lảo đảo bước vào cửa, mặt đầm đìa nước mắt. Bà không còn là người đàn bà vừa t:át tôi giữa sân nữa. Bà đứng đó, tóc rối, tay bấu vào khung cửa, như một người sắp ngã.
“Hạnh…” Bà nói, giọng vỡ ra. “Mẹ… mẹ…”
“Mẹ biết con bị đ:ánh,” tôi nói, giọng run nhưng không gắt. “Mẹ viết nhật ký, mẹ gom tiền cho con chạy, mẹ chuẩn bị cả đơn ly hôn. Vậy sao sáng nay mẹ t:át con? Sao mẹ nói con phải sống ch:ết ở nhà chồng?”
Bà Lệ ôm mặt, khuỵu xuống.
“Vì mẹ sợ!” Bà bật khóc nấc. “Mẹ sợ con đi rồi, thằng Tuấn nó phát điên lên. Nó giống bố nó! Bố nó mà mất bình tĩnh thì…” Bà nghẹn không nói hết. “Mẹ nghĩ nếu mẹ làm dữ, mẹ t:át con trước mặt nó, nó sẽ nghĩ mẹ đứng về phía nó, nó hạ giận. Mẹ không dám để nó thấy mẹ giúp con…”
Tôi đứng chết lặng. Tuấn lùi một bước, tựa vào tường.
“Mẹ,” giọng anh khàn hẳn. “Mẹ nói gì vậy? Con… con giống bố?”
“Con say rượu, con đ:ánh vợ, y hệt cái cách bố con làm,” bà Lệ nói, nước mắt chảy dài. “Con nhớ hồi sáu tuổi con đứng ngoài cửa khóc không? Mẹ ghi trong sổ đó. Con nói với mẹ, lớn lên con sẽ không bao giờ như bố. Vậy mà…”
Tuấn trượt dọc theo bức tường, ngồi bệt xuống đất, hai tay ôm đầu. Tôi chưa từng thấy anh như thế, người đàn ông hay quát tháo, hay gồng lên, giờ co người lại như đứa trẻ sáu tuổi trong ký ức của mẹ.
Nhưng tôi cũng không thể mềm lòng. Mắt trái tôi vẫn nhức nhối, bụng vẫn đau âm ỉ. Cơn đau ấy không biến mất chỉ vì anh khóc.
“Tuấn,” tôi nói, “anh hiểu ý nghĩa của những gì anh vừa đọc không? Mẹ chịu đựng ba mươi năm, bây giờ mẹ gom tiền cho em chạy, vì mẹ không muốn em giống mẹ. Còn anh, anh biết bố đ:ánh mẹ, anh khóc ngoài cửa, mà anh vẫn chọn đ:ánh vợ.”
“Anh say… anh không cố ý…”
“Bố anh cũng nói thế đúng không?” Tôi hỏi. “Mẹ ghi trong sổ, ông ấy lúc nào cũng nói ‘tao say, tao không cố ý’.”
Tuấn không đáp. Căn buồng im lặng đến mức tôi nghe rõ tiếng Su thở nhẹ trong lòng tôi, tay con bé níu chặt áo tôi.
Bố tôi bước đến, đặt bàn tay lên vai bà Lệ, và tôi thấy ông cúi xuống, nói rất khẽ điều gì đó mà tôi không nghe rõ. Bà Lệ gật đầu, khóc to hơn.
Tôi lấy điện thoại, bấm số, bật loa ngoài. “Alô, công an phường à? Tôi muốn trình báo một vụ b:ạo hành gia đình…”
“Hạnh!” Tuấn bật dậy, mặt trắng bệch. “Em điên à? Em báo công an?”
“Em chụp ảnh vết thương sáng nay rồi, em còn video camera nhà hàng xóm quay được đêm qua,” tôi nói, và lần này tôi nhìn thẳng vào mắt anh. “Anh còn nhớ nhà bên cạnh lắp camera hướng ra sân không?”
Anh sững lại. Bà Lệ ngẩng lên, mắt mở lớn.
Cuộc gọi kết thúc. Tôi cúp máy, quay sang bà Lệ: “Mẹ, con cần mẹ một việc. Mẹ có dám ra làm chứng không? Cuốn sổ này, tất cả giấy khám thương tích này, mẹ có dám đưa cho công an không?”
Bà Lệ nhìn tôi, nhìn đứa con trai ngồi bệt dưới đất, nhìn cuốn sổ bìa đen mà bà đã giấu suốt ba mươi năm. Môi bà run lên. Một lúc rất lâu sau, bà nói, giọng khàn nhưng rõ:
“Mẹ dám.”
Đúng lúc ấy, tiếng chuông cổng vang lên. Người đàn ông đứng ngoài là một người phụ nữ chừng bốn mươi lăm tuổi, mặc áo vest nâu, tay xách cặp da, ánh mắt sắc sảo. Bà ấy nhìn quanh sân, rồi nhìn bà Lệ.
“Chị Lệ, tôi là Mai, luật sư. Tôi đến theo đúng hẹn.”
Bà Lệ lau nước mắt, bước ra, hai bà nắm tay nhau rất chặt. Luật sư Mai quay sang tôi, gật đầu: “Chị Hạnh, tôi nghe chị Lệ nói nhiều về chị. Tôi xin vào nhà, có vài tài liệu cần chị xem trước khi công an tới.”
Tuấn đứng chết lặng nhìn mẹ, nhìn luật sư, nhìn vợ. Anh chưa kịp hỏi gì thì luật sư Mai đã mở cặp, rút ra một tập hồ sơ, đặt lên bàn.
“Đây là bản di chúc của ông Tuấn Văn Hòa, bố anh Tuấn, lập từ mười năm trước.” Bà nói, giọng đều đều như đọc một bản án. “Và đây là bản sao đơn tố cáo bà Lệ viết gần ba mươi năm trước, nhưng chưa bao giờ nộp.”
Tôi cúi xuống đọc. Tờ giấy đầu tiên khiến tim tôi như ngừng đập. Chữ ký cuối trang, tên người lập di chúc, là Nguyễn Văn Hòa. Dưới đó là tên người làm chứng: Lê Văn Thành.
Là bố tôi.
Tôi ngẩng phắt lên nhìn ông. Bố đứng yên, không giải thích, chỉ nhìn bà Lệ, rồi chậm rãi cúi đầu. Tôi chưa từng thấy ông cúi đầu trước ai như vậy.
“Bố,” tôi nói, giọng run bần bật. “Bố biết bà Lệ từ trước?”
Bố tôi nhắm mắt lại, rồi nói khẽ, mỗi chữ như một viên đá rơi xuống:
“Con ơi, năm hai mươi sáu năm trước, bố từng là người hàng xóm bên cạnh nhà này. Và chính bố đã nghe thấy tiếng bà ấy kêu cứu đêm đó, mà bố không bước sang.”
Tôi đứng đó, tay vẫn ôm Su, và cả căn buồng như nghiêng đi. Bố tôi, người đàn ông chưa bao giờ nói dối tôi một câu, đang đứng trước mặt một người phụ nữ mà tôi gọi là mẹ chồng, cúi đầu như một kẻ có tội.
“Bố nói rõ cho con nghe,” tôi nói, giọng khản đặc. “Từng chữ một.”
Bố ngồi xuống mép chiếc giường cũ của bà Lệ, hai bàn tay chai sạn đan vào nhau, đặt giữa hai đầu gối.
“Hồi con ba tuổi, mẹ con còn sống, nhà mình thuê một gian nhà sát vách nhà này. Con không nhớ đâu. Hai năm sau mẹ con m:ất, bố bồng con về quê.” Ông ngừng lại, nuốt khan. “Trong hai năm ấy, đêm nào bố cũng nghe tiếng bên kia tường. Tiếng ông Hòa chửi. Tiếng đồ vỡ. Tiếng một người đàn bà cố nín mà không nín được.”
Bà Lệ đứng ở cửa, tay bấu khung gỗ, không nói gì.
“Có một đêm, bà ấy kêu thành tiếng. Bà ấy gọi tên bố. Bà gọi: ‘Anh Thành ơi, cứu tôi với.’” Giọng bố vỡ ra. “Bố ra tới hàng rào. Bố đứng đó. Ông Hòa to con, lại là bạn nhậu của bố, bố sợ. Bố tự nhủ chuyện vợ chồng người ta, mình xen vào chỉ thêm họa. Rồi bố quay vào nhà. Bố nghe tiếng kêu ấy tắt dần, tắt hẳn.”
Tôi nhắm mắt lại. Su ngọ nguậy trong lòng tôi, tôi vỗ nhẹ lưng con bé theo phản xạ.
“Sáng hôm sau bố thấy bà ấy ra giếng, tay băng trắng. Bà ấy nhìn bố, chỉ nói: ‘Tôi ngã.’ Bố không dám hỏi thêm. Hai tháng sau bố chuyển đi, nhưng bố chưa ngày nào quên được cái hàng rào ấy.”
“Ông không có lỗi,” bà Lệ bỗng lên tiếng, giọng nhỏ mà rõ. “Tôi chưa từng trách ông.”
“Tôi có lỗi,” bố nói. “Mười năm trước ông Hòa bệnh nặng, nhờ người tìm tôi làm chứng cho tờ di chúc. Tôi đi, vì tôi muốn nhìn tận mặt người đàn ông đó lúc hắn yếu nhất. Hắn nằm trên giường, vàng vọt, nói với tôi một câu: ‘Anh Thành, tôi sống không ra gì với vợ tôi. Anh ký giúp, để nhà này sau này là của bà ấy.’ Bố ký. Đó là việc duy nhất bố làm được cho bà ấy suốt hai mươi sáu năm.”
Tôi mở mắt, nhìn bố rồi nhìn bà Lệ. “Vậy sao… sao bố gả con vào đây?”
Bố im lặng rất lâu. Rồi ông nói câu khiến tôi lặng người.
“Hôm cưới, bà ấy nắm tay bố, nói: ‘Ông yên tâm, tôi sẽ thương con gái ông như con đẻ.’ Bố nhìn đôi mắt ấy, bố tin. Bố nghĩ một người đàn bà đã chịu từng ấy năm sẽ không bao giờ để chuyện đó xảy ra với đứa con dâu của mình. Bố tin, mà bố quên mất một điều: người từng bị đ:ánh quá lâu thì đôi khi không còn biết cách ngăn người khác bị đ:ánh.”
Bà Lệ ôm mặt, bờ vai run lên. Tôi nghe tiếng bà thốt ra qua kẽ tay, đứt quãng:
“Ông nói đúng. Tôi đã nghĩ thằng Tuấn khác bố nó. Tôi đã tự dối mình bốn năm.”
Luật sư Mai đặt bàn tay lên tập hồ sơ, giọng bình tĩnh kéo cả căn buồng về thực tại.
“Chị Hạnh, tôi xin nói phần việc của tôi. Hai năm trước chị Lệ tìm đến văn phòng tôi, lúc ấy chị mới chỉ hỏi một câu: nếu con dâu muốn ly hôn thì cần chuẩn bị những gì. Từ đó chị ấy gửi tôi giữ bản sao nhật ký, giấy khám thương tích, sổ tiết kiệm và tờ đơn tố cáo viết từ gần ba mươi năm trước.”
“Tại sao đơn đó không nộp?” Tôi hỏi.
“Vì hồi đó ông Hòa dọa nếu nộp, ông sẽ làm hại đứa nhỏ,” bà Lệ trả lời thay luật sư, không ngẩng đầu. “Thằng Tuấn mới năm tuổi. Tôi giữ tờ đơn ấy trong người bao nhiêu năm, ông Hòa m:ất rồi tôi vẫn không dám nộp, vì lúc ấy tôi sợ cả cái tiếng ‘đàn bà bị chồng đ:ánh’.”
Tuấn vẫn ngồi bệt dưới sàn. Anh ngẩng lên, đôi mắt đỏ hoe, môi mấp máy: “Mẹ… mẹ giữ hết những thứ này mà không nói với con một câu?”
“Nói gì?” Bà Lệ quay sang con trai, nước mắt chảy dài nhưng giọng đã cứng lại. “Nói bố con là thế nào, rồi nhìn con lớn lên thành một thằng đàn ông cầm cái chén ném vào vợ?”
Tuấn không đáp được.
Lúc ấy, tiếng còi xe vang lên ngoài ngõ. Hai cán bộ c:ông an phường bước vào sân, theo sau là bà Năm hàng xóm, tay cầm chiếc điện thoại, mặt tái mét. Tôi nhận ra bà, người ở nhà bên cạnh, vẫn hay cho Su quả ổi mỗi lần đi ngang.
“Chị Hạnh phải không? Chúng tôi nhận được tin báo b:ạo hành gia đình,” một cán bộ nói.
Tuấn bật dậy. Khuôn mặt anh co rúm lại, hoảng loạn.
“Không… không có gì hết, vợ chồng tôi chỉ c:ãi nhau thôi! Hạnh, em nói đi, em nói là hiểu lầm!”
Anh lao đến, hai tay nắm chặt vai tôi, giật mạnh. Su khóc thét. Cơn đau từ vết bầm trên cánh tay bùng lên, tôi bật kêu thành tiếng.
“Em không được đi! Em đi là anh mất hết! Mất nhà, mất con, mất việc! Em nói đi!”
Tôi chưa kịp lùi thì một bóng người xông vào giữa hai chúng tôi.
Bà Lệ. Năm mươi chín tuổi, nhỏ thó, tóc rối, đôi chân run lẩy bẩy, nhưng bà dang rộng hai tay, chắn ngang trước mặt tôi và Su, đúng cái tư thế sáng nay bà chặn cửa. Chỉ khác là lần này, bà chặn con trai mình.
“Bỏ tay ra,” bà nói, giọng khàn mà dứt khoát.
“Mẹ…”
“Bỏ tay ra khỏi vai nó! Mày đ:ánh nó hôm qua, mày dám giật nó hôm nay, mẹ không để mày thành bố mày thêm một ngày nào nữa!” Giọng bà bật lên, vỡ tung, hơn ba mươi năm nghẹn lại tuôn ra một lần. “Mẹ chịu đủ rồi! Mẹ im đủ rồi! Mẹ là đứa hèn, mẹ để thằng Hòa đ:ánh mẹ, mẹ để mày lớn lên nhìn, mẹ để con Hạnh bị mày đ:ánh trong cái nhà này! Mẹ hèn đủ rồi!”
Tuấn buông tay, loạng choạng lùi lại như bị ai đẩy. Anh nhìn mẹ, nhìn đôi bàn tay gầy guộc đang giang rộng, và tôi thấy một thứ gì đó trong anh sụp đổ hoàn toàn.
Bà Năm hàng xóm bước lên, giơ điện thoại ra. “Đêm qua tôi nghe tiếng la, mở camera trước nhà xem. Có quay lại hết. Tôi xin lỗi chị Hạnh, tôi tưởng chuyện vợ chồng, tôi sợ xen vào…”
Bà không nói hết câu, nhìn sang bố tôi, rồi cả hai cùng cúi đầu. Tôi chợt hiểu đây là cảnh người ta tự trách mình vì đã đứng bên kia hàng rào.
“Cô cho cháu xin đoạn video,” tôi nói, và lần đầu tiên sau suốt hai ngày, giọng tôi vững vàng. “Cháu không trách ai. Nhưng từ hôm nay cháu muốn không còn ai phải đứng bên kia hàng rào nữa.”
Hai cán bộ lập biên bản. Họ chụp lại vết thương trên mặt, trên tay tôi, ghi nhận lời khai của bà Lệ, của bà Năm, của bố tôi. Bà Lệ run đến mức không cầm nổi bút, bà nhờ luật sư Mai đỡ tay, từng nét ký xiêu vẹo nhưng rõ ràng. Khi cán bộ đưa tay nhận cuốn sổ bìa đen, bà siết nó thêm một giây rất ngắn, như tạm biệt một người bạn đã đồng hành quá lâu, rồi mới buông.
Tuấn bị đưa đi làm việc. Lúc đi ngang qua tôi, anh dừng lại. Mắt anh đỏ ngầu, nhưng không còn là cơn giận. Anh nhìn Su đang nấp trong lòng tôi, đưa tay ra rồi lại rụt về.
“Hạnh,” anh nói, “anh xin lỗi.”
“Em nghe rồi,” tôi đáp. “Nhưng một lời xin lỗi không xóa được đêm qua. Anh làm gì tiếp theo, mới là thứ em nhìn.”
Anh gật đầu, đầu cúi gằm, bước theo hai cán bộ ra cổng.
Ba ngày sau, kết quả giám định thương tích có. Mắt trái tôi bị tổn thương phần mềm quanh hốc mắt, dây chằng bụng bầm giập, tỷ lệ thương tật vượt ngưỡng phải xử lý hình sự. Hồ sơ được chuyển lên cơ quan điều tra. Luật sư Mai đứng ra giúp tôi làm đơn ly hôn, nộp kèm biên bản, video của bà Năm, giấy khám và cuốn nhật ký của bà Lệ.
Tuấn không chối. Điều đó khiến tôi bất ngờ nhất. Trong buổi làm việc, anh nhận hết, nói thẳng rằng mình đã đ:ánh vợ ba lần trong một năm, lần nào cũng vì rượu, lần nào cũng thề không tái phạm. Anh ký cam kết tự nguyện điều trị cai rượu tại trung tâm. Sau ba tháng, tòa tuyên anh án cải tạo không giam giữ, kèm điều kiện bắt buộc điều trị và cấm tiếp cận tôi trong một thời hạn. Việc anh bị mất chức quản lý kho là điều không ai ngạc nhiên.
Phiên tòa ly hôn diễn ra sau đó một tháng. Tôi được quyền nuôi Su. Tuấn không tranh giành. Anh ngồi ở dãy ghế phía sau, người gầy rộc, và khi quan tòa hỏi anh có đồng ý ly hôn không, anh nói một chữ “Có” khàn đặc, rồi cúi xuống.
Còn bà Lệ, người đã im lặng ba mươi năm, ngồi hàng ghế đầu, tay nắm chặt khăn mùi xoa. Tòa hỏi bà có ý kiến gì không. Bà đứng dậy, nói, từng chữ rõ ràng:
“Tôi xin nói một câu. Hồi trước tôi bảo con dâu tôi: đàn bà đã lấy chồng thì sống ch:ết cũng phải ở nhà chồng. Câu đó sai. Tôi nói sai suốt ba mươi năm. Đàn bà phải sống ở nơi mình được sống. Nơi nào chỉ cho mình ch:ết dần thì không phải là nhà.”
Cả phòng xử im lặng. Tôi nhìn bà, và thấy mắt mình cay.
Sau phiên tòa, bà Lệ chờ tôi ngoài hành lang. Bà đưa cho tôi một chiếc túi vải xanh, chính cái túi tôi từng mở trong ngăn tủ.
“Số tiền trong sổ tiết kiệm, mẹ để vào tài khoản đứng tên cháu Su,” bà nói. “Căn nhà theo di chúc là của mẹ, mẹ đã làm giấy tặng lại cho cháu, nằm ở chỗ luật sư Mai. Con không cần lấy, con cứ coi như mẹ gửi cho cháu.”
“Mẹ…” Tôi nói.
“Đừng từ chối,” bà ngắt lời, giọng run run. “Đây là thứ duy nhất mẹ làm được cho hai mẹ con. Mẹ không xin con tha thứ. Nhưng mẹ muốn Su lớn lên có một chỗ để về.”
Tôi nhìn người phụ nữ đã t:át tôi giữa sân nhà, rồi cũng chính người ấy giang tay chặn con trai mình để bảo vệ tôi. Trong lòng tôi có quá nhiều thứ lẫn lộn, giận, thương, xót, cả một nỗi hiểu ra muộn màng. Cái t:át hôm đó, tôi không quên, và tôi biết mình sẽ không bao giờ quên. Nhưng tôi cũng hiểu cái t:át ấy là mũi dao bà Lệ tự cắm vào chính mình để che cho tôi khỏi một cơn thịnh nộ lớn hơn.
“Con nhận cho Su,” tôi nói chậm. “Nhưng con xin mẹ một điều.”
“Con nói.”
“Mẹ đi khám sức khỏe, mẹ đi gặp người ta nói chuyện, mẹ đừng một mình nữa. Ba mươi năm là đủ rồi.”
Bà Lệ bật khóc, gật đầu rất lâu mà không nói được lời nào.
Tôi và Su dọn về ở với bố. Căn nhà nhỏ bốn mươi cây số ngoài huyện, mái ngói thấp, cái sân đầy nắng. Mắt trái tôi mất hai tháng mới hết sưng, để lại một vết sẹo nhỏ nơi đuôi mày, bác sĩ nói để lâu sẽ mờ. Tôi xin chuyển sang chi nhánh gần nhà, ngày ngày chạy xe bốn mươi phút, chiều đón Su ở trường mầm non.
Một buổi chiều cuối tuần, bố gọi tôi ra hiên. Ông đặt xuống nền gạch một chiếc ghế gỗ nhỏ, đóng bằng gỗ mít, mặt ghế nhẵn thín, bốn chân vuông vức, sau lưng ghế khắc tên Su bằng nét chữ cẩn thận của người thợ cả đời cầm đục.
“Bố đóng hồi tối qua,” ông nói, tránh ánh mắt tôi. “Hồi đó… hồi đó bố chưa kịp làm được gì cho con. Giờ làm cái ghế thôi.”
Tôi ngồi xuống bên cạnh ông. Su chạy ra, leo lên chiếc ghế mới, hai chân nhỏ đung đưa, cười toe toét.
“Bố,” tôi nói, “con không trách bố đâu. Con nghĩ bố đã đền bù cái đêm hôm đó rồi. Sáng nay, bố chỉ mất một tiếng mà đến đón con.”
Bố không nói gì. Ông đưa bàn tay thô ráp lên lau mắt, quay mặt sang hướng khác, nhưng tôi thấy rõ vai ông run.
Bà Lệ vẫn đến thăm Su vào mỗi Chủ nhật. Lần đầu bà đứng ngoài cổng rất lâu, không dám gõ. Tôi ra mở cửa. Bà ngập ngừng, rồi đưa túi bánh dẻo nhỏ, gói trong lá chuối. Su ôm lấy chân bà, gọi “Bà nội”, và tôi thấy bà quỳ gối xuống ngay giữa sân, ôm cháu rất chặt.
Về sau, bà kể tôi nghe, bà đã đến hội phụ nữ phường tham gia buổi gặp mặt dành cho những người từng bị b:ạo hành. Lần đầu bà không nói được một lời, chỉ ngồi, nghe người khác kể. Lần thứ ba, bà đứng lên đọc một đoạn trong cuốn nhật ký, giọng run đến mức phải dừng giữa chừng. Lần thứ năm, có một người phụ nữ trẻ ôm lấy bà, nói: “Cô ơi, nhờ cô mà con dám báo c:ông an.”
Tuấn hoàn thành điều trị cai rượu sau sáu tháng. Anh không liên lạc với tôi, chỉ gửi qua luật sư một lá thư ngắn, nét chữ run run, cam kết cấp dưỡng đều đặn cho Su và xin được nhìn con một lần mỗi tháng nếu tôi cho phép. Tôi đọc thư ba lần rồi cất vào ngăn kéo. Tôi chưa trả lời, và tôi biết mình sẽ không trả lời vội. Có những cánh cửa không đóng sập, nhưng cũng không mở ra chỉ bằng một lá thư. Nếu có một ngày, người ta thật sự thay đổi, thì thời gian sẽ tự chứng minh.
Một buổi tối, trước khi ngủ, Su nằm trong lòng tôi, hỏi bằng giọng ngọng líu ríu của đứa trẻ ba tuổi:
“Mẹ ơi, sao bà nội với ông ngoại hay khóc?”
Tôi vuốt tóc con, nhìn lên trần nhà quen thuộc của căn phòng cũ.
“Vì hai người đã giữ trong lòng một chuyện buồn rất lâu, con ạ. Bây giờ họ kể ra được rồi nên mới khóc. Khóc xong là nhẹ.”
“Vậy mẹ có khóc không?”
“Mẹ khóc rồi,” tôi mỉm cười. “Và mẹ không phải khóc một mình nữa.”
Con bé gật đầu, nhắm mắt, hơi thở đều dần. Tôi nằm yên, nghe tiếng gió lùa qua tán mít ngoài sân và tiếng bố khẽ ho ở gian bên. Chiếc ghế gỗ nhỏ vẫn đặt cạnh cửa sổ, ánh trăng rọi xuống hai chữ Su khắc sâu.
Tôi không còn sợ tiếng bước chân ngoài cổng. Không còn nín thở mỗi khi nghe tiếng xe máy về khuya. Cánh cửa nhà tôi giờ đây chỉ là một cánh cửa, mở ra khi tôi muốn, đóng lại khi tôi cần.
Và lần đầu tiên sau rất nhiều năm, tôi ngủ một giấc trọn vẹn, không có tiếng đồ vỡ, không có tiếng ai gọi tên cầu cứu qua bức tường.
–HẾT–