NỮ SINH NGHÈO CỞI ĐÔI DÉP Đ:ỨT QUAI Đ:ẶT LÊN BÀN KHI BỊ CẢ NHÓM GI:ẤU CẶP: “MÌNH KHÔNG CÓ T:IỀN… CÁC BẠN LẤY ĐÔI DÉP NÀY ĐƯỢC KHÔNG?” CHƯA AI KỊP C:ƯỜI, CẢ LỚP ĐÃ KH:ỰNG LẠI KHI THẤY THỨ BỊ LẬT RA TRONG LÓT DÉP (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Không ai trả lời câu hỏi của cô Thảo. Cả lớp đứng im như bị điểm huyệt.
“Cô hỏi lại lần nữa. Ai đã mở mảnh giấy này ra chưa?”
“Dạ… chưa ạ.” Chi lí nhí. Mặt nó vẫn trắng bệch, hai tay giấu ra sau lưng. “Con chỉ mới thấy tên thôi. Băng keo còn nguyên.”
Cô Thảo cúi xuống, nhặt mảnh giấy từ sàn bằng hai ngón tay, xoay nhìn từng mép dán. Cô gật đầu rất khẽ, như vừa thở ra được một hơi. Rồi cô quay sang tôi.
“Mai, em có biết trong này viết gì không?”
“Dạ không ạ.” Giọng tôi khản đặc. “Em chưa thấy bao giờ. Mẹ em chỉ dặn đừng làm mất đôi dép.”
Chi bỗng bật cười, một tiếng cười gượng gạo, khô khốc. “Cô ơi, bạn ấy giả vờ đấy. Nhà nghèo nên nhét thư vào dép, cố ý để rơi ra cho ba con thương hại, rồi xin tiền. Trò này con xem trên mạng đầy!”
Hân và Tú nhìn nhau, không dám phụ họa. Tôi nhìn Chi, tim đập thình thịch, nhưng lạ là tôi không muốn khóc nữa. Sáng giờ tôi đã khóc đủ rồi.
“Mình không biết ba bạn là ai,” tôi nói. “Mình chỉ biết tên ba bạn trong lớp, khi cô điểm danh phụ huynh. Nếu mình định xin tiền, mình đã không để các bạn lấy cặp mà chỉ dám xin lại. Mình còn không dám hỏi gì.”
“Mày…”
“Chi!” Cô Thảo cắt ngang, giọng chưa bao giờ nghiêm như vậy. “Em ngồi xuống.”
Chi mím môi, ngồi phịch xuống ghế. Cô Thảo đi lên bục giảng, lấy chiếc cặp của tôi xuống, đặt vào tay tôi. Tay cô hơi run.
“Cặp của em đây. Cô xin lỗi vì để chuyện này xảy ra trong lớp cô.”
Tôi ôm chiếc cặp vào ngực, cổ họng nghẹn lại. Lần đầu tiên từ sáng, có người nói xin lỗi với tôi.
Cô quay xuống lớp: “Ai quay video, đưa điện thoại lên bàn cô. Ngay bây giờ.”
Lớp học xôn xao. Một lát sau, năm sáu chiếc điện thoại nằm trên bàn giáo viên. Tú run run đưa chiếc cuối cùng. “Dạ… cái này của con quay từ lúc Chi lấy cặp…”
“Cô giữ hết. Không đứa nào được xóa.” Cô nhìn thẳng vào Tú, rồi nhìn cả ba đứa. “Các em quay lại để làm gì?”
Không ai đáp.
Tôi đứng đó, chân trần, nghe tiếng quạt trần quay vù vù. Rồi tôi nói, một câu mà chính tôi cũng không ngờ mình dám nói:
“Cô ơi, em không muốn các bạn bị phạt vì đôi dép.”
Cả lớp ngẩng lên nhìn tôi.
“Dép em đứt thì em buộc lại được. Nhưng hồi nãy Chi nói ‘bệnh thì liên quan gì tụi tao’. Em muốn bạn ấy nói lại câu đó trước mặt mẹ em. Mẹ em nằm liệt giường từ đầu năm. Em đi học là mẹ ở nhà một mình.”
Chi ngẩng phắt đầu. Môi nó mấp máy, nhưng không nói được chữ nào. Tôi thấy mắt nó đỏ lên, không biết vì tức hay vì thứ gì khác.
Cô Thảo im lặng một lúc. Rồi cô nói khẽ, như nói với chính mình: “Giống anh ấy quá.”
“Dạ?” tôi hỏi.
Cô không trả lời. Cô rút điện thoại từ túi áo dài, bấm một số quen thuộc. “Alo, anh Tuấn à? Em là Thảo, cô chủ nhiệm lớp 7A2 của cháu Chi. Anh có thể đến trường ngay bây giờ không? Chuyện này… em nghĩ anh nên có mặt. Không phải chuyện của Chi, mà là chuyện anh tìm sáu năm nay.”
Chi bật dậy. “Cô ơi, cô gọi ba con làm gì? Ba đang họp mà!”
“Em ngồi xuống.” Cô Thảo không nhìn nó. “Ba em sẽ đến.”
Mười lăm phút sau, cả lớp vẫn ngồi im, không ai dám nhúc nhích. Tôi được cô cho ngồi vào ghế đầu bàn, hai chân gác lên thanh sắt cho đỡ lạnh. Hân lén đẩy đôi dép của tôi lại gần. Tôi xỏ vào, quai đứt, tôi buộc lại bằng sợi dây thun cũ trong túi áo. Hân nhìn tôi, chưa nói gì, nhưng tai nó đỏ hẳn.
Cô Thảo kéo ghế ngồi cạnh tôi, hạ giọng: “Mai, cô hỏi em một chuyện. Ba em tên Lê Văn Hoàng, đúng không? Mẹ em là cô Nhàn?”
“Dạ… sao cô biết?”
“Hồ sơ nhập học của em, cô đọc kỹ lắm. Nhưng cô chỉ dám chắc từ khi nhìn thấy mảnh giấy này.” Cô nhìn tôi, mắt rưng rưng. “Sáu năm trước, ba em hy sinh ở một công trình. Ba em đẩy ông chủ ra khỏi chỗ sàn cốp pha sập xuống. Ông chủ thoát được. Ba em thì không.”
Tôi nhìn cô, không hiểu.
“Người được ba em đẩy ra, tên là Nguyễn Anh Tuấn.”
Tiếng ghế đổ vang lên sau lưng. Chi đã đứng dậy, hai tay ôm miệng. “Không… không đúng. Ba con chưa bao giờ kể chuyện đó.”
“Vì ba em đã tìm mẹ con bạn Mai suốt sáu năm,” cô Thảo nói, “và không tìm thấy.”
Tôi nhớ đến lời mẹ: Sau này con sẽ biết. Tay tôi lạnh ngắt.
Cánh cửa lớp mở ra. Một người đàn ông cao, vai rộng, áo sơ mi nhàu, vừa chạy vội lên cầu thang nên còn thở dốc. Ông có đôi mắt giống hệt Chi, nhưng đôi mắt đó không có vẻ hống hách nào, chỉ đầy mệt mỏi.
“Cô Thảo, có chuyện gì?” ông hỏi, rồi thấy Chi đứng ôm miệng, thấy mảnh giấy trong tay cô, và thấy tôi.
Ông đứng sững. Không biết vì sao, ông nhìn tôi rất lâu, như nhìn một bóng ma quen thuộc.
“Cháu… cháu tên là gì?”
“Dạ, cháu là Ngọc Mai ạ.”
“Ngọc Mai…” Giọng ông lạc đi. “Cháu cho chú hỏi… mẹ cháu có phải tên Nhàn không?”
“Dạ phải ạ. Mẹ cháu đang bệnh, nằm ở nhà.” Tôi đứng dậy, hai tay nâng mảnh giấy cô Thảo vừa đưa lại cho tôi. “Mẹ cháu dặn thư này chỉ đưa tận tay chú.”
Ông không đưa tay ra ngay. Bàn tay ông run, như sợ chạm vào nó thì mọi thứ sẽ tan biến. Cuối cùng ông nhận lấy, bóc từng mép băng keo vàng ố, rất chậm. Cả lớp nín thở.
Ông đọc thầm. Rồi ông ngồi thụp xuống chiếc ghế gần nhất, mắt đỏ lên, không kìm được nữa. Tôi nghe thấy ông đọc thành tiếng, từng chữ khản đặc:
“Anh Tuấn, tôi là Nhàn, vợ anh Hoàng. Hôm đám tang anh Hoàng, anh quỳ trước linh cữu, hứa sẽ lo cho mẹ con tôi. Tôi tin anh. Ba tháng sau, tôi bế con bé đến nhà anh vì không còn gạo. Chị nhà ra cổng, nói anh đi công tác xa, rồi đưa cho tôi một phong bì và bảo: ‘Cầm lấy rồi đừng đến nữa, nhà tôi không có họ hàng nghèo.’”
Tôi quay sang nhìn Chi. Nó đứng chết trân.
“Tôi không nhận phong bì. Tôi không giận chị. Tôi chỉ nghĩ có lẽ chị chưa hiểu. Tôi về, tự bán bánh nuôi con. Tôi không đòi gì ở anh. Anh Hoàng cứu anh vì anh ấy muốn cứu, không phải để lấy ơn. Nhưng tôi viết thư này để một ngày tôi không còn, con gái tôi không phải bơ vơ. Nó tên Ngọc Mai. Nó rất ngoan. Nếu anh còn nhớ lời hứa hôm đó, xin anh đừng để nó một mình.”
Tuấn dừng lại, tay ông ôm trán. Tiếng nấc trong lớp vang lên, tôi không biết là của ai. Có thể là của Hân. Có thể là của chính ông.
“Mẹ cháu… mẹ cháu đã đến tận nhà chú?” ông nhìn tôi, giọng vỡ ra. “Chú không biết. Chú thề chú không biết. Sáu năm nay chú về quê anh Hoàng hỏi từng nhà, ai cũng nói chị Nhàn dọn đi nơi khác. Chú đăng cả tin tìm người trên báo. Chú lập quỹ học bổng mang tên anh ấy ngay trong trường này, chỉ để mong một ngày con gái anh ấy xuất hiện.”
Cô Thảo lau mắt, khẽ gật. “Em là người giữ hồ sơ dự tuyển học bổng đó, anh Tuấn ạ. Mỗi năm anh đều hỏi em có học sinh nào họ Lê, ba tên Hoàng không. Em chỉ dám chắc hôm nay.”
Chi bỗng chạy đến, nắm lấy tay ba nó. “Ba… ba ơi, con không biết… con không biết bạn ấy là con của chú Hoàng…”
“Con không biết,” ông Tuấn nhìn con gái, không to tiếng, “nhưng con có cần biết mới biết đối xử tử tế không? Con nói với bạn ấy câu gì khi bạn ấy chỉ xin lại cái cặp của chính mình?”
Chi òa khóc. Nó không dám nhìn tôi.
Tôi đứng đó, bỗng thấy mình không hả hê. Tôi chỉ thấy tội nó. Nhưng tôi vẫn bước tới trước mặt nó, giọng run run mà rõ ràng:
“Mình không cần bạn xin lỗi vì đôi dép. Dép của mình đứt thật, bạn nói đúng. Nhưng mình muốn bạn xin lỗi vì câu ‘bệnh thì liên quan gì’. Vì mẹ mình đang bệnh thật.”
Chi nức nở: “Mình xin lỗi… mình xin lỗi Mai… mình không nghĩ… mình tưởng chỉ là đùa…”
“Với mình đó không phải đùa.”
Hân và Tú cũng cúi gằm đầu, lí nhí xin lỗi. Tôi không nói gì, chỉ gật. Không phải tha thứ ngay. Chỉ là đã nghe.
Chú Tuấn lau mặt, đứng dậy. “Mai, cháu cho chú đến thăm mẹ cháu ngay bây giờ được không? Chú không có tư cách xin gì, nhưng chú muốn nói với cô ấy một câu: chú chưa bao giờ quên.”
Tôi ôm cặp, gật đầu.
“Chú đưa cháu đi,” chú nói. “Cô Thảo, em giúp anh xin phép cho cháu. Chi, con ở lại, xin lỗi cô và cả lớp, rồi chờ ba.”
Chú đi được hai bước thì dừng lại. Mảnh giấy vẫn còn trong tay chú, và chú lật sang mặt sau, nơi tôi thấy còn vài dòng chữ nhỏ, nét chữ của mẹ đã run hơn hẳn, như viết thêm vào sau cùng. Chú đọc nốt, rất khẽ, đến mức tôi chỉ nghe được nửa câu:
“…Tôi không nói với ai chuyện này, chỉ nói với anh. Người ký duyệt cái giàn cốp pha hôm đó, không phải anh Hoàng.”
Màu máu rút khỏi mặt chú Tuấn.
Cô Thảo nhíu mày. “Anh Tuấn, sao vậy?”
Chú không trả lời. Mắt chú nhìn thẳng ra phía cửa lớp, nơi một người phụ nữ ăn mặc sang trọng vừa đứng sững lại từ lúc nào, túi xách buông thõng bên tay. Chị ấy đến đón Chi, theo lời nhắn của cô Thảo, và chị đã nghe được gần hết.
“Diệp,” chú Tuấn nói, giọng thấp đến mức đáng sợ. “Sáu năm trước, hôm cô ấy đến cổng nhà mình… em đã nói gì với cô ấy?”
Mẹ của Chi không đáp. Môi chị run lên, và chị lùi một bước, ánh mắt trượt qua tôi, qua tờ giấy trong tay chồng, rồi dừng lại ở chiếc dép đứt quai dưới chân tôi, như vừa nhìn thấy một thứ chị tưởng đã chôn kín từ lâu.
Cả lớp im phăng phắc. Chỉ có tiếng quạt trần quay chậm và tiếng thở dồn của chú Tuấn.
“Diệp, anh hỏi em một lần nữa,” chú nói, từng chữ nặng như đá. “Sáu năm trước, hôm chị Nhàn bế con đến cổng nhà mình, em đã nói gì?”
Cô Diệp siết quai túi xách. Cô liếc quanh, thấy hơn ba mươi cặp mắt đang nhìn mình, thấy cô Thảo đứng chắn ngay cửa, và cuối cùng thấy Chi đang khóc nức nở.
“Anh… mình ra ngoài nói chuyện được không?” cô khẽ nói.
“Không. Nói ở đây. Con gái em vừa làm nhục con gái anh Hoàng ở đây, em cũng nên nói ở đây.”
Cô Diệp tái mặt. Một lúc sau, giọng cô mới run run bật ra: “Em… em có gặp chị ấy. Hôm đó anh đi công tác. Em sợ… em sợ chị ấy đến đòi tiền, đòi bồi thường, rồi chuyện công trình bị xới lên. Lúc đó công ty đang bị thanh tra, anh nhớ không? Em chỉ muốn yên chuyện. Em đưa chị ấy phong bì, bảo chị ấy đừng đến nữa.”
“Phong bì đó bao nhiêu?” chú Tuấn hỏi.
“Năm… năm triệu.”
“Năm triệu,” chú lặp lại, cười một tiếng không có chút vui nào. “Mạng người em trả bằng năm triệu.”
“Em không nói thế…”
“Chị Nhàn không nhận,” tôi bỗng nói. Cả lớp quay lại nhìn tôi. “Trong thư mẹ cháu viết, mẹ cháu không nhận phong bì đó. Mẹ cháu về nhà, tự bán bánh nuôi cháu.”
Cô Diệp quay sang nhìn tôi lần đầu tiên. Ánh mắt cô thoáng chùng xuống, như nhận ra khuôn mặt tôi giống một người cô từng gặp ở cổng nhà mình.
“Cô… cô xin lỗi cháu,” cô lắp bắp.
Tôi không đáp. Tôi chưa biết phải đáp gì.
Chú Tuấn thở ra một hơi dài, rồi quay sang cô Thảo: “Cô Thảo, tôi cần xem lại mặt sau mảnh giấy. Đoạn cuối.”
Cô Thảo đưa mảnh giấy. Chú lật sang, đọc lại, rất chậm. Đoạn chữ nhỏ cuối cùng mà lúc nãy tôi chỉ nghe được nửa câu giờ vang lên đủ trong phòng:
“Tôi không nói với ai chuyện này, chỉ nói với anh. Người ký duyệt cái giàn cốp pha hôm đó, không phải anh Hoàng. Anh Hoàng chỉ là tổ trưởng, ông ấy phản đối việc dựng giàn sớm vì chưa đủ chống, nhưng bị ép. Tờ biên bản nghiệm thu có chữ ký anh Hoàng là giả. Anh Hoàng nói với tôi trước hôm xảy ra chuyện. Tôi giữ bản chụp tin nhắn của ông ấy gửi cho tôi hôm đó. Tin nhắn nằm trong chiếc hộp đựng bánh của tôi, ở dưới lớp lót.”
Chú Tuấn ngẩng lên, mắt đỏ au. “Chị Nhàn… chị Nhàn nghi ngờ chuyện này, nhưng không dám nói với ai.”
“Vì sao mẹ cháu không dám?” tôi hỏi, giọng nhỏ lại.
“Vì người ký giả chữ ký anh Hoàng, nếu đúng như chị ấy nghi,” chú Tuấn nói, quay hẳn sang vợ mình, “là người trong nhà này.”
Cô Diệp lùi thêm một bước, lưng chạm vào khung cửa.
“Không phải em!” cô gần như hét lên. “Anh đừng nghĩ là em! Em chỉ đưa phong bì thôi! Chuyện nghiệm thu là… là chuyện của anh Khải!”
Không khí đông cứng.
“Khải nào?” chú Tuấn hỏi.
Cô Diệp bật khóc, che miệng. “Anh Khải, anh họ của em, giám đốc kỹ thuật của anh. Em chỉ nghe loáng thoáng… Hôm xảy ra chuyện, em có nghe anh Khải gọi điện, nói ‘phải làm xong biên bản trước khi người bên thanh tra đến’. Em không biết ông ấy làm gì. Em chỉ biết sau khi anh Hoàng… sau khi chuyện xảy ra, anh Khải đến nhà, dặn em đừng để chị Nhàn nói chuyện với anh. Ông ấy bảo chị ấy là người không biết điều, sẽ làm hỏng cả công ty.”
Chú Tuấn nhắm mắt lại. Khi mở ra, trong mắt chú không còn sự dao động nào.
“Cô Thảo, phiền cô cho tôi mượn phòng hiệu trưởng gọi vài cuộc điện thoại. Tôi sẽ trở lại ngay.”
Chú nhìn tôi, giọng dịu xuống: “Mai, cháu cho chú vài phút. Rồi chú đưa cháu về với mẹ.”
Tôi gật đầu. Hân và Tú đẩy ghế cho tôi ngồi xuống. Chi vẫn đứng đó, hai tay buông thõng, mắt nhìn mẹ như chưa bao giờ thấy người ấy.
“Mẹ…” Chi nghẹn giọng. “Mẹ biết hết từ lúc đó sao?”
“Mẹ không biết hết. Mẹ chỉ…” Cô Diệp ngồi xuống, ôm mặt. “Mẹ sợ.”
Chi im lặng rất lâu, rồi quay sang tôi, chậm rãi cúi đầu thật sâu. “Mai, mình xin lỗi. Không chỉ vì cái cặp. Vì chuyện của nhà mình nữa.”
Tôi nhìn nó. Tôi nghĩ đến mẹ, đến đôi dép, đến những lần mẹ ho trong đêm nhưng vẫn cười bảo con ngủ đi. Tôi nói, rất nhỏ: “Mình sẽ nói lại cho mẹ mình nghe. Mẹ mình sẽ quyết định.”
Chiều hôm đó, căn nhà trọ nhỏ của hai mẹ con tôi chưa bao giờ đông người đến thế. Chú Tuấn đứng ở ngưỡng cửa, tay ôm một giỏ trái cây và bộ hồ sơ dày, không dám bước vào. Mẹ tôi nằm trên giường, gầy đi nhiều, đôi mắt vẫn sáng.
Chú quỳ xuống bên giường, hai tay run: “Chị Nhàn… tôi là Tuấn. Tôi xin lỗi chị. Tôi tìm chị sáu năm nay.”
Mẹ tôi nhìn chú rất lâu, rồi mỉm cười, một nụ cười mệt nhưng không có chút oán giận nào. “Anh Tuấn, anh đến rồi. Tôi chờ anh lâu lắm.”
“Tôi không biết chị đã đến nhà. Tôi không biết gì cả.”
“Tôi biết,” mẹ nói. “Nhìn anh là tôi biết. Người đứng giữa không đáng bị trách bằng người đứng sau lưng.”
Chú Tuấn bật khóc như một đứa trẻ. Tôi đứng sau cánh cửa, nghe hết, bàn tay bấu vào gấu áo.
Mẹ chỉ tay vào chiếc hộp bánh cũ dưới gầm giường. Tôi lôi ra, mở lớp lót. Dưới đó là một chiếc điện thoại nắp gập đã tắt pin, và một tập giấy chụp những dòng tin nhắn của ba, nét chữ in mờ nhưng đọc được. Ba viết: “Em ơi, giàn chưa đủ chống, anh nói mãi mà anh Khải không nghe. Mai anh kiên quyết không ký. Nếu có chuyện gì, em giữ tin nhắn này.”
Tôi nghẹn họng. Ba tôi đã linh cảm trước.
Chú Tuấn cầm chiếc điện thoại cũ, nâng niu như đang cầm một thứ thiêng liêng. “Chị Nhàn, chị cho tôi mượn cái này. Tôi hứa với chị, tôi sẽ nói cho rõ ràng, trước pháp luật.”
Mẹ tôi gật đầu, rồi quay sang nhìn tôi. “Mai, lại đây.”
Tôi bước tới. Mẹ nắm tay tôi, bàn tay gầy guộc mà ấm.
“Mẹ giấu thư trong dép vì mẹ sợ nếu đưa cho con, con sẽ giận người ta, sẽ lớn lên với nỗi oán trong lòng. Nhưng mẹ cũng không muốn lỡ mẹ đi rồi, con không có ai. Con hiểu không?”
“Con hiểu,” tôi nghẹn ngào.
“Con không cần trả thù ai. Con chỉ cần sống tử tế, học giỏi, để ba con tự hào.”
Hai tháng sau, mọi chuyện đi đến hồi kết trong im lặng và lặng lẽ như nước chảy.
Vụ án cốp pha được mở lại. Nhờ chiếc điện thoại cũ và bản chụp tin nhắn, cơ quan chức năng xác định biên bản nghiệm thu bị làm giả, người ký giả là ông Khải. Ông Khải bị khởi tố vì làm giả giấy tờ và vi phạm quy định an toàn lao động dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Hồ sơ nghiệm thu giả, vốn từng dùng để quy trách nhiệm cho ba tôi, được hủy bỏ. Tên ba tôi được đính chính: ông là người đã phản đối đến cùng, và hy sinh khi cứu đồng nghiệp.
Chú Tuấn không né tránh trách nhiệm của mình. Chú tự nộp đơn xin xem xét việc buông lỏng giám sát nội bộ, chấp nhận mọi mức xử lý. Công ty chú bị phạt, chú mất hợp đồng lớn, nhưng chú nói với tôi: “Chú mất tiền thì còn làm lại được. Mất niềm tin của chính mình thì không.”
Cô Diệp xin gặp mẹ tôi một lần. Lần đó tôi không có mặt, nhưng nghe mẹ kể lại, cô quỳ xuống xin lỗi, đưa một tấm thẻ ngân hàng mà mẹ nhất quyết không nhận. “Tôi nhận lời xin lỗi,” mẹ nói. “Còn tiền, chị hãy dùng nó để dạy con chị biết thương người.” Cô Diệp khóc rất lâu. Sau đó, cô tự xin nghỉ việc ở công ty, đi làm thiện nguyện ở một quỹ bảo trợ trẻ em nghèo, nơi cô nói là chỗ cô học lại cách nhìn người.
Về phần mẹ tôi, chú Tuấn lo toàn bộ chi phí điều trị. Mẹ được chuyển sang bệnh viện tuyến trên, tiếp nhận phác đồ mới. Tôi không biết gọi đó là kỳ tích hay chỉ là một chút may mắn muộn màng, nhưng sau ba tháng, mẹ ngồi dậy được, rồi tự đi được vài bước quanh phòng.
Trong lớp, mọi thứ cũng thay đổi. Cô Thảo họp phụ huynh, xử lý nghiêm vụ việc giấu cặp và quay video. Chi, Hân và Tú bị hạ hạnh kiểm một kỳ, phải viết bản kiểm điểm trước lớp và tham gia đội tình nguyện của trường. Tôi xin cô đừng đuổi học đứa nào, và cô đồng ý.
Sáng đầu tiên Chi quay lại lớp sau kỳ kỷ luật, nó đặt lên bàn tôi một chiếc hộp nhỏ. Bên trong là đôi dép mới, quai chắc, đế dày.
“Mình không mua bằng tiền ba mẹ,” nó nói, mắt nhìn xuống. “Mình để dành tiền ăn sáng hai tháng. Cậu… cậu không nhận cũng được.”
Tôi nhìn chiếc hộp rất lâu. Rồi tôi lấy đôi dép cũ đứt quai của mẹ từ trong cặp ra, đặt cạnh.
“Mình nhận đôi mới,” tôi nói. “Nhưng đôi cũ mình giữ. Đó là của mẹ mình.”
Chi gật đầu, lần đầu tiên khóe môi nó cong lên một nụ cười thật.
Cuối năm học, chú Tuấn đứng trước toàn trường, đọc tên quỹ học bổng “Lê Văn Hoàng”, và trao suất học bổng đầu tiên cho tôi. Khi tôi bước lên, chú cúi xuống thì thầm:
“Chú không trao cho cháu vì chú thấy tội nghiệp. Chú trao vì ba cháu xứng đáng được nhớ bằng cái tên này.”
Dưới hàng ghế khán giả, mẹ tôi ngồi xe lăn, được cô Thảo đẩy vào. Mẹ nhìn tôi, tay đưa lên che miệng, nước mắt rơi xuống. Tôi giơ tấm bằng khen lên cao, nhìn về phía mẹ, mỉm cười thật tươi.
Đôi dép đứt quai của mẹ giờ nằm gọn trong tủ kính ở nhà, bên cạnh tấm ảnh ba. Thỉnh thoảng tôi vẫn lấy ra nhìn. Không phải để nhớ về những ngày nghèo khó, mà để nhớ rằng có một người mẹ đã gói cả lòng tin và lời hứa vào lớp lót mỏng manh ấy, và chờ đợi sáu năm cho nó đến đúng người.
-HẾT-