CHỒNG Q:UẬT TUNG BÀI VỊ MẸ RUỘT TÔI, MẸ CHỒNG THÁO BÀI VỊ TỔ TIÊN Đ:ẶT XUỐNG ĐẤT. “CÔ MUỐN THỜ AI THÌ VỀ NHÀ Đ:Ẻ MÀ THỜ, ĐỪNG BIẾN NHÀ TÔI THÀNH NHÀ TỪ ĐƯỜNG!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Phòng khách im phăng phắc. Chỉ còn tiếng tivi đang chiếu quảng cáo gì đó, vui vẻ đến lạc lõng.
Mẹ chồng nhìn chằm chằm vào trang giấy trên bàn. Bà đưa tay định cầm lên, tôi đặt bàn tay mình xuống trước.
“Mẹ đừng chạm vào. Chờ luật sư tới rồi đọc cho đàng hoàng.”
“Cô làm trò gì vậy hả?” Giọng bà the thé, nhưng tôi nghe ra nó run. “Giấy tờ giả ở đâu ra? Tuấn, con xem nó làm trò gì đây!”
Anh Tuấn không nói gì. Mặt anh từ đỏ chuyển sang trắng bệch, môi mấp máy như muốn nói mà không ra tiếng.
Tôi quay sang anh.
“Anh Tuấn, em hỏi một lần thôi. Giấy này có phải giả không?”
“Lan… em… em nghe anh giải thích đã.”
Chỉ một câu đó thôi. Không phải “giả”, không phải “em điên rồi”. Là “nghe anh giải thích”.
Mẹ chồng quay phắt sang con trai. “Giải thích cái gì? Con giải thích cái gì?”
Chuông cửa reo.
Tôi ra mở. Bác Hòa đứng đó, bảy mươi tuổi, tóc bạc, áo sơ mi trắng cài kín cổ, tay xách chiếc cặp da cũ sờn. Bác là bạn thân của ba tôi từ hồi còn trẻ, cũng là luật sư duy nhất mẹ tôi tin.
Bác nhìn tôi, rồi nhìn hũ tro đặt trên ghế. Bác khẽ gật đầu chào, rất trang trọng, như chào một người còn sống.
“Bác xin phép thắp cho chị Hạnh nén nhang trước.”
Chưa ai kịp phản ứng, bác đã móc trong cặp ra một nén nhang, đặt cạnh hũ tro, xá ba xá. Mẹ chồng đứng đó, miệng há ra rồi lại ngậm lại.
Xong rồi, bác mới ngồi xuống ghế sofa, mở cặp.
“Tôi là Hòa, luật sư, đại diện cho di nguyện của bà Nguyễn Thị Hạnh, vừa mất tuần trước. Hôm nay tôi đến để công bố những giấy tờ liên quan đến căn nhà này.”
“Căn nhà này là của con trai tôi!” Mẹ chồng gào lên. “Đứng tên nó, sổ đỏ nó giữ, ông là ai mà tới đây nói bậy?”
“Thưa bà, sổ đỏ đang nằm trên bàn kia.” Bác Hòa chỉ tay, giọng vẫn đều đều. “Bà đọc dòng chữ trên cùng đi.”
Mẹ chồng không đọc. Bà quay sang anh Tuấn, lần này giọng không còn là giọng của người đang quát nữa.
“Tuấn. Nói đi.”
Anh Tuấn ngồi phịch xuống ghế. Hai tay anh ôm lấy đầu.
Tôi kể lại cho đúng, vì đến lúc ấy tôi cũng chỉ vừa biết được mấy ngày.
Hôm đưa mẹ tôi về quê lo hậu sự, đêm cuối, bác Hòa gọi tôi ra riêng. Bác đưa cho tôi một phong bì dày, bảo là mẹ tôi gửi bác từ sáu năm trước, dặn khi nào bà mất thì giao lại cho tôi, đừng giao sớm.
Trong phong bì có sổ đỏ, một bản hợp đồng, và một lá thư viết tay. Nét chữ nguệch ngoạc của mẹ tôi, người chỉ học hết lớp năm.
Sáu năm trước, anh Tuấn bỏ vốn chơi chứng khoán, rồi vay thêm tiền ngoài để gỡ. Gỡ không được, anh lại c:ờ b:ạc online cho “nhanh”. Đến lúc ngân hàng gửi thông báo, anh đã n:ợ gần một tỷ tám, thế chấp bằng chính căn nhà này. Lúc đó sổ đỏ đứng tên một mình anh.
Anh không dám nói với tôi. Không dám nói với mẹ anh. Anh đi tìm mẹ tôi.
Mẹ tôi lúc đó vừa nhận tiền đền bù đất ruộng vì mở rộng đường, đúng một tỷ tám. Tôi nhớ bà gọi cho tôi, bảo “mẹ gửi tiết kiệm, để dưỡng già, con đừng lo”. Tôi tin. Tôi chưa bao giờ hỏi thêm.
Anh Tuấn quỳ ngay trước mặt mẹ tôi giữa vườn rau, xin bà đừng nói với tôi. Anh nói tôi sẽ bỏ anh, con Mai còn nhỏ, nhà sẽ bị siết.
Trong thư, mẹ tôi viết: “Mẹ không thương nó. Mẹ thương con và thương cháu Mai. Nhà mất thì con và cháu ở đâu.”
Bà đưa hết số tiền, nhưng không phải cho không. Bà nhờ bác Hòa soạn hợp đồng: anh Tuấn chuyển nhượng căn nhà cho bà Hạnh để bà trả nợ ngân hàng, cho phép cả nhà tiếp tục ở, và anh có năm năm để chuộc lại bằng đúng số tiền đó. Quá hạn, nhà thuộc về bà.
Anh Tuấn đã ký. Đã công chứng. Đã sang tên.
Hạn chót là cách đây đúng một năm.
“Một năm rồi.” Bác Hòa nói, nhìn thẳng vào anh Tuấn. “Cậu không chuộc, cũng không nói với ai. Chị Hạnh biết, nhưng chị vẫn chờ. Chị bảo, biết đâu thằng bé tỉnh ra, tự nói với vợ.”
Căn phòng im đến mức tôi nghe được tiếng quạt trần kêu kẽo kẹt.
Mẹ chồng ngồi xuống. Bà không ngồi, đúng hơn là chân bà khuỵu xuống, ngồi vào chiếc ghế gần nhất.
“Con…” Bà nhìn con trai, như nhìn một người lạ. “Con bán nhà? Con thế chấp nhà của mẹ, của ba con để lại?”
“Mẹ, con định chuộc lại mà…”
“Chuộc bằng cái gì?!” Bà đ:ập tay xuống bàn, đúng cạnh bài vị tổ tiên. “Thế mà hồi nãy con đứng đây, con bảo vợ con thờ mẹ nó thì về nhà đ:ẻ mà thờ! Nhà này nhà ai? Nhà ai hả Tuấn?”
Anh Tuấn không đáp.
Tôi nhìn bà. Mười năm, đây là lần đầu tiên tôi thấy bà Phượng không biết nói gì.
Tôi không thấy hả hê. Thật đấy. Tôi chỉ thấy mệt, một sự mệt nặng đến mức muốn ngồi xuống sàn.
Nhưng tôi không ngồi. Tôi nhìn sang góc cửa, Mai vẫn đứng đó, ôm gấu bông, mắt mở to. Tôi bước tới, quỳ xuống ngang tầm con.
“Mai, con lên phòng đọc truyện một lát nhé. Mẹ ở đây xử lý việc người lớn.”
“Mẹ ơi, bà ngoại mất rồi, đúng không ạ?”
Con bé hỏi nhỏ xíu. Cổ họng tôi nghẹn lại.
“Ừ. Nhưng bà ngoại vẫn ở đây với mẹ con mình.”
Con gật đầu, ôm gấu chạy lên cầu thang. Tôi đứng dậy, quay lại, và lần này tôi không còn run nữa.
“Anh Tuấn.” Tôi nói. “Anh biết điều làm em đau nhất là gì không? Không phải chuyện nhà. Là mười năm nay anh nhìn em ăn cơm, nhìn em đưa lương, nhìn em đi làm về nấu nướng, mà không một lần nói với em rằng mẹ em đã cứu cả cái nhà này.”
“Anh sợ em…”
“Anh sợ mất mặt.” Tôi cắt ngang. “Anh sợ mẹ anh biết anh thua bạc. Anh sợ họ hàng biết anh phải nhờ bà thông gia quê mùa mới giữ được nhà. Còn mẹ em, người anh nhờ vả, anh để bà về dự đám cưới với hai giỏ gạo nếp mà nhìn người ta cười.”
Mẹ chồng bật khóc. Tiếng khóc của bà khô khốc, nghèn nghẹn, nghe không giống bà.
“Lan, mẹ…” Bà đưa tay về phía tôi. “Mẹ không biết. Mẹ thật sự không biết…”
“Dạ, con tin mẹ không biết.” Tôi lùi một bước. “Nhưng mẹ không cần biết mới nói được những lời hồi nãy. Mẹ cầm bài vị tổ tiên đặt bịch xuống bàn, bảo mẹ con là người ngoài. Một người ngoài bán cả ruộng để giữ cho mẹ cái mái nhà.”
Bà cúi gằm mặt.
Bác Hòa hắng giọng, đặt thêm một tờ giấy lên bàn.
“Còn đây là di chúc của bà Hạnh. Bà để lại toàn bộ tài sản, trong đó có căn nhà này, cho con gái duy nhất là chị Lan. Có công chứng, hợp lệ.”
Anh Tuấn ngẩng lên, mắt đỏ ngầu.
“Lan, em không thể làm vậy. Anh là chồng em. Con Mai cũng sống ở đây.”
“Em biết.” Tôi nhìn thẳng vào anh. “Nên em sẽ không đuổi ai ra đường ngay tối nay. Em không giống anh.”
Tôi nói chậm từng chữ, vì tôi đã nghĩ những lời này suốt đường về.
“Thứ nhất, hũ tro của mẹ em sẽ được đặt trên bàn thờ của chính căn nhà này, vì căn nhà này là của mẹ em. Em không đụng vào bài vị nhà anh, đó là tổ tiên của Mai, em tôn trọng. Nhưng nó sẽ nằm cạnh mẹ em, không phải dưới kho.”
Tôi quay sang mẹ chồng.
“Mẹ muốn tháo thì cứ tháo hết, rồi mẹ về quê mẹ thờ. Còn nếu mẹ ở lại, mẹ đặt lại bài vị ngay ngắn, và mẹ thắp nhang cho mẹ con.”
Bà Phượng nhìn tôi rất lâu. Rồi bà làm một việc mà tôi chưa từng nghĩ sẽ thấy. Bà đứng dậy, cầm bài vị tổ tiên bằng cả hai tay, run run, bước lên gác thờ, đặt lại chỗ cũ. Rồi bà bước xuống, đi tới chỗ hũ tro. Bà không nói gì. Bà thắp một nén nhang, cắm vào bát hương tạm, đứng đó cúi đầu. Vai bà rung lên.
Tôi nhìn bà, và tôi biết đó không phải sự tha thứ. Chỉ là bà không còn lời nào để nói.
“Thứ hai,” tôi quay lại phía anh Tuấn, “anh dọn ra ngoài. Ngay tối nay.”
“Lan!”
“Em không đuổi anh vì anh thua bạc. Em đuổi anh vì anh để mẹ em sống sáu năm với bí mật này mà không dám nhìn mặt em. Bà đã chuộc cho anh một lần. Anh còn không chuộc nổi cái lòng tin.”
Anh Tuấn quỵ xuống. Anh quỳ thật, ngay giữa phòng khách, trước mặt mẹ anh, trước mặt luật sư, trước hũ tro của người mà anh vừa gọi là “người ngoài”.
“Anh sai rồi. Anh xin lỗi. Anh xin lỗi mẹ, xin lỗi em, xin lỗi con…”
Tôi nhìn anh quỳ ở đó và nhận ra tôi không còn thấy thương. Cũng không thấy hận. Chỉ thấy một khoảng trống, giống như nhà vừa dọn xong, còn lại mỗi bốn bức tường.
“Anh về nhà bạn, hoặc thuê khách sạn. Chuyện ly hôn, em sẽ nói với anh sau khi em lo xong bốn mươi chín ngày cho mẹ.”
Bác Hòa đứng dậy, xếp giấy tờ lại, đưa tôi một bản.
“Cháu làm đúng rồi. Chị Hạnh mà thấy, chắc chị yên lòng.”
Tôi gật đầu, không nói được gì.
Anh Tuấn đứng dậy, lảo đảo lên phòng thu xếp vài bộ đồ. Mẹ chồng ngồi lặng ở ghế, hai tay đan chặt vào nhau như người đang cầu xin điều gì. Bà không nhìn tôi. Tôi cũng không nhìn bà.
Tôi ôm hũ tro, bước lại chỗ bàn thờ. Tôi lau bụi, đặt hũ tro lên, thật ngay ngắn. Tôi đặt ảnh mẹ cạnh đó. Bức ảnh chụp từ năm mẹ năm mươi tuổi, tóc búi gọn, cười hiền, đôi tai trống.
“Mẹ ơi, con đưa mẹ về nhà rồi.” Tôi thì thầm.
Tiếng bước chân anh Tuấn xuống cầu thang, kéo theo chiếc vali nhỏ. Anh đứng ở ngưỡng cửa, quay lại nhìn tôi lần cuối, định nói gì đó.
Đúng lúc đó, chuông cửa lại reo. Hai hồi dài, gấp gáp.
Anh Tuấn khựng lại. Tôi thấy tay anh siết chặt quai vali.
Tôi bước ra mở cửa. Ngoài sân là một người đàn ông cao to, mặc áo khoác đen, đi cùng hai thanh niên đứng phía sau. Ông ta không chào tôi, chỉ nhìn qua vai tôi, vào trong nhà, rồi cười nhạt.
“Anh Tuấn đây rồi. Tôi tìm anh cả tuần nay.”
Ông ta rút trong túi áo ra một tờ giấy gấp làm tư, mở ra, giơ trước mặt tôi.
“Hợp đồng vay hai tỷ, ký cách đây tám tháng. Tài sản bảo đảm là căn nhà này. Người bảo lãnh, bà Nguyễn Thị Phượng.”
Tôi quay lại. Mẹ chồng đang đứng ở giữa phòng khách, mặt xám ngoét như tro.
“Tôi…” Môi bà run lên, mắt nhìn tờ giấy rồi nhìn con trai. “Tôi chưa từng ký tờ nào hết.”
Còn anh Tuấn, người vừa quỳ xin lỗi tôi mười phút trước, buông tay khỏi vali, và không dám ngẩng đầu lên.
Người đàn ông áo đen bước vào nhà như bước vào nhà mình. Hai thanh niên đi sau đứng chắn ngay cửa, tay đút túi quần.
“Tôi tên Khải.” Ông ta kéo ghế ngồi xuống, đặt tờ giấy lên bàn, ngay cạnh bài vị tổ tiên. “Anh Tuấn vay của tôi hai tỷ. Lãi tháng này chưa đóng, gốc cũng chưa. Hôm nay tôi đến để lấy nhà.”
“Lấy nhà?” Mẹ chồng thét lên. “Ai cho ông lấy? Tôi chưa ký, tôi nói rồi, tôi chưa từng ký!”
“Chữ ký của bà nằm đây.” Khải gõ ngón tay xuống tờ giấy. “Bà nói không ký thì đi mà hỏi con bà.”
Tôi bấm nhẹ vào điện thoại trong túi áo, bật ghi âm. Mười hai năm làm kế toán, tôi quen với một điều: lời nói bay đi, giấy tờ và âm thanh thì ở lại.
“Anh Khải.” Tôi bước tới. “Cho tôi xem hợp đồng.”
“Cô là ai?”
“Tôi là vợ anh Tuấn. Và là chủ căn nhà này.”
Khải nhướng mày, nhìn Tuấn. Tuấn vẫn cúi đầu. Ông ta đẩy tờ giấy về phía tôi, miệng nhếch lên, kiểu người chắc mẩm mình cầm cán.
Tôi đọc chậm, từng dòng. Ngày ký cách đây tám tháng. Bên vay: Nguyễn Văn Tuấn. Tài sản bảo đảm: căn nhà này. Kèm theo là một bản photo sổ đỏ, đứng tên anh Tuấn. Lãi suất ghi bằng bút bi, đè lên chữ in: bốn phần trăm một tháng.
Tôi đưa tờ giấy cho bác Hòa. Bác đeo kính vào, đọc lướt, rồi bỏ kính xuống.
“Anh Khải, anh có nhìn kỹ bản photo sổ đỏ này không?”
“Thì sổ nhà nó.”
“Là sổ cũ.” Giọng bác Hòa vẫn đều đều như đang đọc bản án. “Căn nhà này đã được chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hạnh từ sáu năm trước, có công chứng, có sang tên. Cuốn sổ gốc đứng tên bà Hạnh nằm trên bàn kia. Người ký hợp đồng với anh tám tháng trước không còn là chủ căn nhà này nữa.”
Phòng khách im lặng. Khải nhìn bác Hòa, nhìn cuốn sổ đỏ trên bàn, rồi từ từ quay sang anh Tuấn.
“Mày bảo nhà mày.”
Tuấn không đáp.
“Tao hỏi mày! Mày đưa tao tờ này, mày bảo nhà đứng tên mày!” Khải đập tay xuống bàn, hũ tro trên bàn thờ như rung lên một cái. Hai thanh niên ngoài cửa bước vào nửa bước.
Tôi chắn ngay giữa, quay lưng về phía bàn thờ.
“Anh Khải. Anh đang đứng trong nhà tôi, có hai người chặn cửa, trước mặt bà cụ sáu mươi tuổi và một hũ tro cốt mới đưa về tuần này. Tôi khuyên anh hạ giọng.”
“Cô dọa tôi?”
“Tôi nói thật. Điện thoại tôi đang ghi âm từ lúc anh bước vào. Camera ngoài cổng chạy hai bốn trên hai bốn. Anh muốn đ:e d:ọa thì cứ tiếp tục, tôi gọi một cuộc là có người tới.”
Khải nhìn tôi rất lâu. Rồi ông ta ngả lưng ra ghế, cười nhạt, nhưng tôi thấy mắt ông ta đã khác. Ông ta là dân làm ăn, biết lúc nào mình đang cầm lá bài yếu.
“Được. Vậy nói chuyện cho đàng hoàng.”
Tôi quay sang mẹ chồng.
“Mẹ, mẹ viết tên mẹ ra đây cho con xem.”
Bà không hiểu, nhưng vẫn run run cầm bút tôi đưa, viết lên mặt sau tờ hợp đồng: Nguyễn Thị Phượng. Chữ bà nghiêng, nét đầu móc, nét cuối kéo dài ra như đuôi con tôm.
Tôi lật mặt trước, đặt hai chữ ký cạnh nhau.
Chữ ký bảo lãnh trên hợp đồng thì tròn, đều, chữ P cuối có một cái vòng nhỏ ở chân.
“Em biết cái vòng này.” Tôi nói, giọng thấp xuống. “Anh ký tên Phượng thay mẹ từ hồi nào, anh Tuấn? Đơn xin tạm hoãn học phí của Mai năm ngoái, anh ký tên anh, còn cái chữ P ở dòng họ tên cha mẹ, em nhớ nó có vòng này.”
Anh Tuấn ngẩng lên. Mặt anh không còn chút máu nào.
“Là… là anh…”
Mẹ chồng nhìn tờ giấy, nhìn con, nhìn lại tờ giấy. Bà không khóc nữa. Bà đứng dậy, đi tới trước mặt con trai, bàn tay đưa lên, rồi dừng lại giữa không trung. Bà không tát. Bà hạ tay xuống.
“Con giả chữ mẹ.”
“Mẹ, con không còn cách nào…”
“Con giả chữ mẹ để vay hai tỷ.” Bà nhắc lại, như thể muốn tự nghe cho rõ. “Hai tỷ.”
“Anh nói đi.” Tôi bước tới. “Nói hết. Bác Hòa ở đây, mẹ ở đây, người cho vay cũng ở đây. Hai tỷ đi đâu?”
Anh Tuấn bật khóc. Lần đầu tiên tôi thấy anh khóc thành tiếng, vai co rúm, giống đứa trẻ bị bắt gặp.
“Anh định chuộc nhà.” Anh nói, giọng đứt quãng. “Hết hạn rồi, anh biết. Anh nghĩ… anh vay đủ một tỷ tám, mang lên quê xin bác, xin bác cho chuộc lại, bác thương anh chắc sẽ đồng ý. Anh vay thêm hai trăm triệu để lo lãi, lo việc.”
“Tiền đâu?”
“Anh… anh có tiền trong tay rồi. Cầm ở nhà ba ngày. Rồi anh nghĩ, mang lên mà bác hỏi thì lấy gì chứng minh anh còn làm ăn được. Anh nghĩ chơi một ván cuối, gỡ thêm chút, để có thêm vốn…”
Tôi nhắm mắt lại.
“Anh thua sạch.”
“Sạch.” Anh gật đầu, nước mắt rớt xuống sàn. “Một đêm.”
Không ai nói gì. Cái quạt trần vẫn kêu kẽo kẹt. Hai thanh niên ngoài cửa nhìn nhau, có vẻ không biết mình đang đứng giữa chuyện gì.
Bác Hòa chậm rãi mở cặp, rút ra lá thư của mẹ tôi, tờ giấy nhàu vì được gấp đi gấp lại nhiều lần.
“Lan, cháu đọc đến đoạn cuối chưa?”
“Dạ… cháu chưa.” Tôi nói thật. Đêm đó tôi mới đọc được đến đoạn đầu thì nước mắt đã nhòe hết chữ.
“Đọc đi.” Bác đưa tôi. “Đọc to lên. Để nó nghe.”
Tay tôi run. Nét chữ nguệch ngoạc của mẹ nằm đó, dòng cuối cùng viết ép sát mép giấy, như sợ không đủ chỗ.
Tôi đọc:
“Nếu một ngày nó mang đủ tiền lên, dù trễ hạn, con cứ trả sổ lại cho nó. Mẹ không cần nhà, mẹ chỉ cần con và cháu Mai có chỗ ở. Còn nếu nó không mang lên thì… thôi, con đừng giận nó lâu. Nó cũng là cha của cháu.”
Tôi đọc xong, không giữ nổi giọng nữa.
Anh Tuấn gục xuống, trán chạm vào sàn gỗ. Không ai đỡ anh. Mẹ chồng ngồi thụp xuống ghế, bịt miệng, tiếng nấc bị nén lại nghe như tiếng ai bóp nghẹt cổ họng.
Bà Hạnh đã chừa cho anh một cánh cửa. Mẹ tôi, người bị cả nhà này gọi là “quê mùa”, đã giữ cánh cửa đó mở suốt một năm, chờ một người đàn ông mang tiền đến gõ.
Anh ấy đã mang tiền đến gõ vào một bàn c:ờ b:ạc.
Tôi lau mắt, gấp lá thư lại, đưa cho bác Hòa cất. Tôi không để mình khóc thêm. Còn một việc chưa xong.
“Anh Khải.” Tôi quay sang. “Giờ tôi nói về hợp đồng của anh.”
Bác Hòa chỉnh lại gọng kính, tiếp lời tôi, giọng của người đã đứng trước nhiều phiên tòa hơn số tuổi tôi.
“Thứ nhất, tài sản bảo đảm không thuộc quyền sở hữu của người vay, khoản thế chấp này không có hiệu lực với căn nhà. Thứ hai, chữ ký của người bảo lãnh là gi:ả m:ạo, tôi sẵn sàng đề nghị giám định, và người dùng chữ ký giả để vay tiền là người chịu trách nhiệm, không phải bà Phượng. Thứ ba, lãi bốn phần trăm một tháng vượt xa mức pháp luật cho phép. Nếu anh đưa việc này ra tòa, phần lãi anh đòi sẽ bị tuyên vô hiệu, và anh còn phải giải trình nguồn tiền cùng cách anh đòi nợ.”
Khải im lặng. Ông ta rút một điếu thuốc ra, nhìn quanh nhà, nhìn bàn thờ, rồi lại cất điếu thuốc vào túi.
“Tôi chỉ cần gốc.” Ông ta nói sau một lúc. “Hai tỷ.”
“Gốc là của anh Tuấn.” Tôi nói. “Anh ấy vay, anh ấy trả. Bằng tiền của anh ấy, bằng sức của anh ấy. Không phải căn nhà này, không phải tiền của mẹ chồng tôi, không phải lương của tôi.”
“Nó có gì mà trả?”
“Anh ấy sẽ viết cam kết trả nợ, có luật sư làm chứng, trả góp theo tháng. Anh lấy hay không thì tùy. Nếu không, chúng ta ra tòa, và đoạn ghi âm này tôi đã có.”
Khải nhìn tôi chằm chằm, rồi quay sang anh Tuấn đang nằm rạp dưới sàn.
“Mày nghe vợ mày nói chưa? Đứng lên, ký.”
Tuấn bò dậy, ký. Tay anh run đến mức nét chữ lệch hẳn đi. Lần này là chữ của chính anh, chữ của người tự nhận món nợ của mình. Khải thu giấy, đứng dậy, ra hiệu cho hai thanh niên. Trước khi bước qua cửa, ông ta quay lại.
“Cô là kế toán à?”
“Dạ.”
“Thằng này có phúc mới lấy được cô.” Ông ta nói, rồi đi thẳng ra sân, không đóng cửa lại.
Bác Hòa tiễn ông ta ra cổng, rồi quay vào, xá hũ tro thêm một lần nữa, trước khi chào tôi ra về. Bác chỉ nói một câu: “Cháu làm tốt lắm. Bác về báo với ba cháu.”
Tôi biết bác nói đùa nửa vời, vì ba tôi mất đã hơn hai mươi năm. Nhưng tôi vẫn gật đầu.
Trong phòng khách chỉ còn ba người lớn và một hũ tro.
Mẹ chồng lau mặt bằng cổ tay áo, đứng dậy, nhìn thẳng vào con trai.
“Mẹ không trả nợ thay con.” Giọng bà khản đặc nhưng rõ ràng. “Mẹ nuôi con ba mươi chín năm. Mẹ chiều con từ nhỏ. Mẹ sai. Nhưng từ hôm nay, con làm gì, con chịu.”
“Mẹ…”
“Đi đi, Tuấn.” Bà quay mặt đi. “Đi làm mà trả. Khi nào con ra hồn người thì hãy về.”
Anh Tuấn đứng đó rất lâu. Anh nhìn tôi, tôi không nói gì. Anh nhìn lên cầu thang, nơi Mai đang ngồi thu mình sau tay vịn, mắt nhìn xuống. Con bé không khóc, chỉ im lặng.
Anh xách vali, đi ra cửa. Lần này không ai gọi anh lại.
Bốn mươi chín ngày sau, tôi làm lễ cúng mẹ ngay tại nhà. Không ồn ào, chỉ có tôi, Mai, bác Hòa và vài người hàng xóm quê lên. Mẹ chồng tôi dậy từ năm giờ sáng, nấu xôi, luộc gà, làm mâm cơm cúng. Bà không nói nhiều. Bà chỉ nấu, xếp, lau bàn thờ, rồi lui vào bếp ngồi một mình.
Chiều hôm đó, tôi thấy bà đứng trước ảnh mẹ tôi, tay cầm một cái hộp nhỏ. Bà mở ra. Bên trong là một đôi bông tai vàng, nhỏ thôi, nhưng sáng.
“Mẹ đổi cái dây chuyền của mẹ.” Bà nói, không quay lại. “Mẹ nghe người ta kể bà thông gia bán đôi bông tai cưới lấy tiền cho con. Mẹ… mẹ muốn bà có lại một đôi.”
Tôi đứng sau lưng bà, cổ họng nghẹn cứng.
“Mẹ xin lỗi bà.” Bà cúi đầu trước ảnh, giọng run đến mức tôi tưởng bà sắp gục. “Mười năm trước mẹ cười bà quê mùa. Giờ mẹ mới biết, cả cái nhà này sống được là nhờ bà quê mùa ấy.”
Tôi không nói gì. Tôi bước lên, đỡ khuỷu tay bà. Bà ngẩng lên nhìn tôi, mắt đỏ hoe, và lần đầu tiên sau mười năm, tôi thấy trong mắt bà không còn chút khinh người nào.
Tôi không gọi đó là tha thứ. Nhưng tôi nghĩ, đó là điểm bắt đầu.
Tôi đặt đôi bông tai cạnh ảnh mẹ. Bức ảnh chụp từ năm mẹ năm mươi tuổi, tóc búi gọn, cười hiền, đôi tai trống. Lần này, bên cạnh mẹ có một đôi bông vàng nhỏ, lấp lánh dưới ánh nhang.
Chuyện ly hôn, tôi làm đúng như đã nói, sau khi xong bốn mươi chín ngày. Anh Tuấn không phản đối, không níu kéo. Anh ký đơn, ký cam kết trả nợ, ký luôn giấy thỏa thuận để Mai ở với tôi. Anh được thăm con, nhưng chỉ khi anh trả đủ phần nợ của mình đúng hạn và bỏ hẳn c:ờ b:ạc. Tôi viết điều kiện đó vào giấy, bác Hòa làm chứng. Không phải để trừng phạt. Chỉ là tôi không muốn Mai lớn lên bên cạnh một người cha chưa học được cách giữ lời.
Anh đi làm bốc xếp ở một kho hàng ngoài thành phố, ở trọ, ăn mì gói. Cuối tháng đầu tiên, anh gửi cho Khải đúng số tiền ghi trong cam kết, rồi gửi cho tôi một tin nhắn, chỉ có ba chữ: “Anh trả rồi.”
Tôi đọc, không trả lời. Nhưng tôi không xóa.
Mẹ chồng ở lại. Bà tự xin ở lại, nói rằng bà sẽ dọn xuống phòng nhỏ dưới nhà, phụ tôi đưa đón Mai, nấu cơm, lo bàn thờ. Tôi đồng ý, với một điều kiện duy nhất: nhà này thờ cả hai bên, và Mai có hai bà.
Bà gật đầu, không cãi một lời.
Tối nào cũng vậy, sau bữa cơm, Mai thắp nhang. Con bé thắp ba nén: một cho ông bà nội, một cho cha nó dù cha nó đang ở xa, và một cho bà ngoại. Con bé luôn thắp nén cho bà ngoại sau cùng, rồi đứng im một lát.
Một tối, nó quay sang tôi.
“Mẹ ơi, bà ngoại có nhìn thấy nhà mình không ạ?”
Tôi nhìn lên bàn thờ. Bài vị tổ tiên nhà họ Nguyễn đặt ngay ngắn bên trái. Bên phải là ảnh mẹ tôi, hũ tro, và đôi bông tai vàng nhỏ. Giữa hai bên là bát hương chung, khói quyện vào nhau, bay lên rồi tan vào mái nhà.
“Có chứ con.” Tôi nói. “Bà ngoại đang nhìn. Và bà đang ở nhà.”
–HẾT–