NGÀY G:IỖ CHA, ANH CẢ N:ÉM NĂM TRĂM NGHÌN VÀO M:ẶT TÔI: “ĐỨA NGHÈO NHƯ MÀY KHÔNG CÓ TƯ CÁCH NGỒI CHUNG M:ÂM VỚI ANH CHỊ!” BA THÁNG SAU, ANH ĐẾN NHÀ TÔI LÚC NỬA ĐÊM, Q:UỲ XUỐNG XIN V:AY HAI TỶ! (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

NGÀY G:IỖ CHA, ANH CẢ N:ÉM NĂM TRĂM NGHÌN VÀO M:ẶT TÔI: “ĐỨA NGHÈO NHƯ MÀY KHÔNG CÓ TƯ CÁCH NGỒI CHUNG M:ÂM VỚI ANH CHỊ!” BA THÁNG SAU, ANH ĐẾN NHÀ TÔI LÚC NỬA ĐÊM, Q:UỲ XUỐNG XIN V:AY HAI TỶ! (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và văn bản

(Tiếp theo phần 1)

Tờ giấy nằm trên nền gạch, dưới ánh đèn hiên vàng vọt. Tôi không cúi nhặt ngay. Tôi nhìn anh Hải đang quỳ, rồi nhìn ra ngoài cổng. Ở đó, trong bóng tối cạnh cột điện, có một người đứng nép từ nãy đến giờ. Chị Lan.

“Chị cũng đến?”

Chị Lan bước ra, hai tay xoắn vào nhau, không dám nhìn tôi.

“Chị đi cùng anh. Chị sợ anh làm bậy.”

“Vào nhà đi.” Tôi nói. “Đứng ngoài này hàng xóm thấy.”

Tôi cúi nhặt tờ giấy rồi đóng cửa lại sau lưng hai người. Anh Hải ngồi xuống ghế, cái cặp da ôm chặt trước ngực. Chị Lan ngồi sát bên, đầu cúi gằm. Tôi rót hai ly nước. Tay tôi không còn run như hôm giỗ nữa.

Tôi mở tờ giấy ra. Đó là bản photo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, ký giữa ông Nguyễn Văn Sáu và một công ty tài chính tư nhân. Giá trị khoản vay: hai tỷ đồng. Tài sản thế chấp: căn nhà đất của ba, nơi anh Hải và chị dâu Quyên đang ở. Ngày ký: tám tháng trước khi ba mất.

“Ba vay hai tỷ?” Tôi ngẩng lên. “Ba nằm viện cả năm, đi còn không nổi, ba vay hai tỷ làm gì?”

Anh Hải không đáp. Chị Lan thở ra một hơi dài, rồi lên tiếng thay anh.

“Không phải ba vay. Là anh Hải làm.”

“Làm thế nào?”

“Anh đưa ba ký giấy lúc ba đã lú lẫn vì thuốc.” Giọng chị khản đi. “Anh bảo ba là giấy tờ bảo hiểm.”

Tôi nhìn anh Hải. Anh vẫn cúi đầu. Tôi nhìn chữ ký ở dòng cuối. Nét chữ nguệch ngoạc, run rẩy, khác hẳn chữ ký ngay ngắn của ba trên mọi giấy tờ tôi từng thấy.

“Hai tỷ đó, anh dùng làm gì?”

Anh Hải im lặng rất lâu. Rồi anh nói, nhỏ như tiếng muỗi:

“Anh đầu tư. Anh với chị Quyên đổ vào một dự án đất nền ở ngoại ô. Người ta hứa lời gấp đôi trong sáu tháng. Giờ dự án bốc hơi, chủ dự án biến mất.”

“Và công ty cho vay đòi nhà?”

“Họ gửi thông báo rồi. Còn đúng bảy ngày nữa là họ đến xử lý tài sản.” Anh ngẩng lên, mắt đỏ hoe. “Căn nhà đó là nhà thờ cúng ba mẹ, Phương. Bàn thờ ba vẫn đặt ở đó.”

Tôi tựa lưng vào ghế. Trong đầu tôi hiện lại hôm giỗ: cái sân đông người, tờ năm trăm nghìn đập vào mặt, câu “đứa nghèo như mày”. Hóa ra suốt buổi hôm ấy, người đang ngồi trên đống nợ chính là anh.

“Vậy hôm giỗ, anh đuổi em để làm gì?”

Anh Hải mấp máy môi.

“Anh sợ.” Chị Lan nói thay. “Hôm đó có người từ công ty tài chính gọi điện cho anh ngay trong lúc cúng. Anh hoảng. Anh sợ em là kế toán, em nhìn giấy tờ là phát hiện. Anh muốn em đi cho khuất mắt.”

Tôi bật cười, một tiếng cười khô khốc, chua chát.

“Nghĩa là anh nhục mạ em trước cả họ hàng, trước ba, chỉ để giấu cái hợp đồng này?”

“Anh sai.” Anh Hải gục xuống. “Anh sai rồi.”

“Nhưng sao anh biết em có hai tỷ?” Tôi hỏi, giọng lạnh đi. “Chuyện này em chưa từng nói với ai. Kể cả chị.”

Chị Lan giật mình ngẩng đầu. Chị nhìn tôi rồi nhìn anh Hải.

“Phương có hai tỷ?”

Tôi không trả lời chị. Tôi nhìn thẳng anh Hải. Anh cắn môi, ngón tay bấu chặt quai cặp.

“Chị Quyên nói.” Anh thì thào. “Chị ấy bảo cuối năm ngoái, lúc dọn đồ của ba, chị tìm thấy một cuốn sổ tiết kiệm đứng tên em. Số dư hơn hai tỷ.”

Tôi chết sững. Hai tỷ đó là tiền tôi dành dụm tám năm, cộng với khoản thừa kế mẹ để lại cho tôi hồi bà mất, ba giữ hộ rồi trao lại. Ba dặn tôi giữ kín. Cuốn sổ ấy tôi gửi ba cất trong tủ, vì nhà tôi thuê trọ chật, tôi sợ mất.

“Chị Quyên lục tủ của ba?”

“Chị ấy dọn dẹp.” Anh Hải nói, giọng yếu đi. “Chị ấy thấy sổ, chụp ảnh lại. Chị ấy bảo em giàu mà giả nghèo, nên mới… nên mới bắt anh gạt em ra khỏi mâm giỗ, để em biết thân biết phận, đừng ra mặt khoe khoang.”

Tôi nhắm mắt lại. Hóa ra không phải một cơn nóng giận. Là một vở kịch có chủ đích, và người đạo diễn không có mặt đêm nay.

“Chị Quyên đâu?”

“Ở nhà. Chị ấy bảo anh đi vay em. Chị ấy bảo em mềm lòng, cứ quỳ xuống là em cho.”

Căn phòng im lặng đến mức tôi nghe rõ tiếng tủ lạnh chạy ở góc bếp. Tôi đứng dậy, đi vào phòng ngủ. Tôi mở ngăn kéo bàn làm việc, lấy ra một cái hộp nhựa. Bên trong là cuốn sổ tiết kiệm bìa đỏ, cuốn sổ ba đã lặng lẽ trả lại cho tôi vào tuần trước khi ông nhập viện lần cuối, kèm một phong bì nhỏ tôi chưa từng mở.

Tôi cầm cả hai thứ ra phòng khách.

“Cuốn sổ chị Quyên chụp ảnh, là cái này.” Tôi đặt sổ lên bàn. “Nhưng em đã rút và chuyển sang tài khoản mới từ lâu. Hơn nữa, số dư trong đó không phải hai tỷ.”

“Vậy là bao nhiêu?” Chị Lan hỏi.

“Một tỷ chín trăm triệu.” Tôi nói. “Tiền của em, và tiền ba để lại cho em.”

Anh Hải ngẩng phắt. Tôi nhìn thấy trong mắt anh một tia hy vọng, và điều đó khiến tôi tức đến nghẹn.

“Anh đừng mừng. Em chưa nói sẽ cho vay.”

Tôi cầm phong bì nhỏ lên. Nét chữ ngoài bì rất quen: “Cho Phương, đọc khi nào anh chị con gặp chuyện.”

Tay tôi bắt đầu run. Ba đã viết thứ này từ trước khi mất. Có nghĩa là ba đã biết.

Tôi xé mép phong bì. Bên trong là một tờ giấy kẻ ô li gập đôi và một chiếc chìa khóa nhỏ màu đồng.

“Phương,

Ba biết thằng Hải nó đã ký tên ba vào một tờ giấy ba không đọc được. Ba nằm đây nhưng không phải kẻ mù. Ba không nói với ai vì ba muốn xem nó có tự thú không. Nó không.

Ba đã nhờ ông Bảy công chứng làm một bản di chúc khác. Căn nhà ba để lại cho cả ba anh em, mỗi đứa một phần ba. Không đứa nào được tự ý thế chấp, cầm cố khi chưa có đủ ba chữ ký. Bản gốc ba gửi trong két ở phòng công chứng. Chìa khóa này là của két.

Con giữ cho kỹ. Ba tin con là đứa duy nhất giữ được nhà cho cả ba anh em.

Ba.”

Tôi đọc xong, ngồi im. Chị Lan khóc thành tiếng. Anh Hải sững người như bị ai tạt gáo nước lạnh.

“Di chúc?” Anh lắp bắp. “Ba để di chúc?”

“Anh nói hôm ký, ba đã lú lẫn?” Tôi hỏi, giọng đều đều. “Nhưng bản di chúc này ghi ngày mười một tháng ba. Hợp đồng thế chấp anh đưa ghi ngày hai mươi tháng bảy. Di chúc trước, hợp đồng sau. Theo di chúc, căn nhà thuộc về cả ba anh em, và việc thế chấp cần đủ ba chữ ký. Anh có chữ ký của em không? Của chị Lan không?”

Anh Hải im lặng. Chị Lan lắc đầu liên tục.

“Chị không biết gì cả. Chị chỉ biết tối nay anh bảo đi cùng đến nhà em.”

“Vậy nghĩa là hợp đồng thế chấp này không hợp lệ.” Tôi nói. “Anh dùng chữ ký của ba lúc ba yếu để thế chấp tài sản chung. Công ty cho vay có thể đòi anh, nhưng họ không thể thu căn nhà.”

Anh Hải mở miệng, nhưng không thốt được gì. Mặt anh trắng bệch như tờ giấy.

“Anh biết điều đó không?” Tôi hỏi.

“Anh… anh không biết có di chúc.”

“Anh có biết là anh đang làm giả chữ ký người đã mất không?”

Anh không trả lời. Chị Lan nhìn anh bằng ánh mắt mà tôi chưa từng thấy ở chị: nửa sợ hãi, nửa thất vọng. Chị đứng dậy, bước ra giữa phòng.

“Phương, chị xin lỗi. Hôm giỗ, chị biết anh làm sai, chị vẫn đứng nhìn.”

“Em biết.”

“Chị nhát. Chị sợ anh, sợ chị Quyên. Chị nhìn ba trên bàn thờ mà không dám lên tiếng.” Chị cúi xuống thật thấp trước mặt tôi. “Chị xin lỗi em.”

Tôi nhìn chị. Tôi chưa biết nên tha thứ hay không. Nhưng tôi biết đêm nay chị là người duy nhất trong hai người này dám nhận sai thẳng thắn.

“Chị đứng dậy đi.”

Tôi quay sang anh Hải.

“Em sẽ không cho anh vay hai tỷ. Cho dù em có đủ.”

“Phương…”

“Hôm giỗ ba, anh ném tiền vào mặt em và bảo em nghèo. Bây giờ anh quỳ xin em hai tỷ. Em chỉ muốn hỏi một câu: nếu hôm đó em không có sổ tiết kiệm, nếu em nghèo thật như anh nói, thì đêm nay anh có đến quỳ trước cửa nhà em không?”

Anh Hải cúi gằm. Rất lâu sau, anh mới thì thào:

“Không.”

“Cảm ơn anh đã thành thật.”

Tôi đứng dậy, đi vào bếp, tắt đèn, rồi quay ra.

“Ngày mai em sẽ đến phòng công chứng lấy bản di chúc gốc. Em sẽ nhờ luật sư xem xét hợp đồng thế chấp. Anh về nói với chị Quyên một câu: chuyện này không còn là chuyện nhà nữa.”

Anh Hải nhìn tôi bằng ánh mắt tuyệt vọng. Chị Lan đỡ anh dậy. Hai người ra về lúc hai giờ sáng. Tôi đứng ở cửa, nhìn bóng họ khuất sau cột điện.

Tôi không ngủ được. Tôi ngồi bên bàn, tay vân vê chiếc chìa khóa đồng. Trời vừa hửng sáng thì điện thoại rung lên. Số lạ.

“Chào chị Phương.” Giọng một người đàn ông, trầm và lạnh. “Tôi là người của công ty tài chính. Tôi nghe nói tối qua anh Hải đã đến gặp chị. Tôi gọi để báo trước: hợp đồng thế chấp mà anh ấy đưa chị xem chỉ là bản sao. Bản gốc có thêm một trang phụ lục mà anh ấy chưa bao giờ cho ai thấy.”

Tôi nắm chặt điện thoại.

“Phụ lục gì?”

“Phụ lục ghi rõ người đồng bảo lãnh khoản vay.” Người đàn ông ngừng một nhịp. “Và người đó có tên là Nguyễn Thị Phương.”

Tôi siết chặt điện thoại đến mức các khớp tay trắng bệch.

“Anh nói lại đi. Người đồng bảo lãnh là ai?”

“Nguyễn Thị Phương, ba mươi hai tuổi, nhân viên kế toán, có kèm số căn cước và chữ ký.” Giọng đàn ông vẫn đều đều. “Chữ ký này, tôi nghĩ chị nên tự đến xem. Chín giờ sáng nay, văn phòng chúng tôi mở cửa.”

Anh ta cúp máy. Tôi ngồi im trong ánh sáng xám của buổi sớm, nghe tiếng tim đập. Tôi chưa từng ký bất cứ thứ gì cho công ty đó. Nhưng tôi nhớ lại một việc: hai năm trước, anh Hải nhờ tôi ký “giấy xác nhận thu nhập” để anh làm thủ tục vay vốn kinh doanh nhỏ. Tôi ký ba tờ trắng ở phần cuối, vì anh bảo công ty sẽ tự điền. Tôi tin anh là anh ruột.

Tôi gọi cho Ngân, bạn cùng lớp đại học, giờ là luật sư. Chị nghe tôi kể trong im lặng rồi hỏi đúng một câu:

“Em còn giữ bản sao ba tờ giấy hôm đó không?”

“Em chụp ảnh lại hết. Em là kế toán, em không bỏ thói quen đó.”

“Tốt. Gửi chị. Chín giờ chị đi cùng em.”

Tám giờ, tôi lấy chìa khóa đồng đến phòng công chứng trước. Ông Bảy, công chứng viên năm xưa, đã nghỉ hưu, nhưng cô nhân viên ở đó tra hồ sơ ngay. Chiếc két mở ra bằng chiếc chìa của ba. Bên trong là bản di chúc gốc, đóng dấu đỏ, ngày mười một tháng ba, đúng như ba viết. Kèm theo là một phong bì thứ hai, dán kín, ghi: “Giao cho Phương khi con đã đọc xong thư thứ nhất.”

Tôi mở ra ngay tại quầy. Là một tờ giấy ghi âm bằng văn bản, ba tôi nhờ người chép lại lời mình nói, có chữ ký người làm chứng. Ba kể rằng tháng sáu năm đó, ông vô tình nghe Hải và Quyên bàn trong phòng khách, khi cả hai tưởng ông ngủ. Họ nói về chuyện “đứng tên bảo lãnh cho đủ hồ sơ, em út giỏi giang, dễ qua vòng thẩm định”. Ba đã ghi lại thời điểm, từng câu họ nói.

Ngay dưới đó là một dòng nữa, chữ ba run rẩy: “Ba để Phương giữ chứng cứ này, không phải để con kiện anh. Mà để khi cần, con có thể bảo vệ mình và cứu anh con khỏi chính nó.”

Tôi gập tờ giấy lại, ngồi xuống chiếc ghế nhựa ngoài hành lang, và khóc. Không phải vì giận. Mà vì một người đã nằm trên giường bệnh, đã nhìn thấy tất cả, và vẫn nghĩ cho cả hai đứa con.

Chín giờ mười lăm, tôi ngồi trong văn phòng công ty tài chính, bên cạnh chị Ngân. Người đàn ông gọi điện sáng nay tên Khoa, trạc bốn mươi, mặc sơ mi trắng, thái độ không niềm nở nhưng lịch sự. Anh ta đẩy bộ hồ sơ gốc ra giữa bàn.

Tôi lật đến trang phụ lục. Dòng cuối: “Người đồng bảo lãnh: Nguyễn Thị Phương.” Chữ ký bên dưới trông giống chữ ký của tôi, nhưng nếu nhìn kỹ, nét móc ở chữ “P” được kéo quá cứng, như người vẽ lại từ mẫu. Và ngày ký là hai mươi tháng bảy, đúng cái ngày ba tôi ký vào hợp đồng.

“Ngày hai mươi tháng bảy, tôi đang họp ở công ty từ sáng đến chiều.” Tôi nói. “Chị Ngân đây có biên bản họp và bảng chấm công, tôi sẽ nộp ngay.”

“Chữ ký là bị làm giả?” Anh Khoa hỏi.

Chị Ngân đặt lên bàn ba bức ảnh tôi chụp hai năm trước. Ba tờ trắng, mỗi tờ chỉ có chữ ký tôi ở góc dưới, phần còn lại để trống.

“Chữ ký trong phụ lục này được cắt ghép từ ba tờ này.” Chị nói. “Bên anh có thể giám định. Nếu kết quả khớp, thì trách nhiệm không nằm ở thân chủ tôi.”

Khoa im lặng khá lâu. Rồi anh ta thở ra, tựa lưng vào ghế.

“Tôi nói thẳng. Hồ sơ này, ngay từ đầu tôi đã thấy có vấn đề. Người trực tiếp đến giao dịch là chị Quyên, vợ anh Hải. Chị ấy mang theo ông Sáu, ngồi xe lăn, hầu như không nói được. Chị ấy nói ông bị đột quỵ nhẹ, chỉ cần ký, còn mọi thủ tục chị lo.”

“Anh có ghi hình không?” Chị Ngân hỏi.

“Có camera ở sảnh. Tôi giữ bản sao.” Khoa nhìn tôi. “Tôi gọi chị sáng nay vì hôm qua tôi thấy anh Hải đứng ngoài cổng công ty gần hai tiếng, tay ôm cái cặp, không dám vào. Tôi nghĩ nếu một người định lừa tôi, người ấy không đứng ngoài nắng hai tiếng.”

Tôi nhìn Khoa. Tôi không biết nên cảm ơn hay oán trách anh ta, nhưng anh ta vừa trao cho tôi thứ quan trọng nhất: sự thật về người đứng sau.

Tôi rời văn phòng lúc mười một giờ, mang theo bản sao camera và đơn đề nghị giám định chữ ký. Chị Ngân dặn tôi một câu trước khi chia tay:

“Nộp đơn thì em nộp được. Nhưng người em phải đối mặt trước tiên là chị dâu em.”

Tôi biết. Tôi đã biết ngay từ khi anh Hải thì thào cái tên Quyên trong đêm.

Tối hôm đó, tôi đến nhà anh Hải. Căn nhà ba tầng ba mình từng lớn lên, nơi bàn thờ ba mẹ vẫn đặt ở gian chính. Chị Lan đã có mặt từ chiều. Anh Hải ngồi co ro ở góc ghế. Chị Quyên đứng giữa phòng khách, mặc bộ đồ lụa, tóc búi cao, mặt không một nếp nhăn lo lắng.

“Ồ, tiểu thư kế toán đến rồi.” Chị cười nhạt. “Nghe nói hôm nay em đi khắp nơi gom giấy tờ. Định kiện cả nhà à?”

“Em đến để nói chuyện.” Tôi đặt túi hồ sơ lên bàn. “Chị ngồi xuống đi.”

“Chị đứng.”

Tôi mở túi, lấy ra từng thứ một. Bản di chúc gốc. Bản sao camera công ty tài chính in thành ảnh. Bản kết quả đối chiếu chữ ký sơ bộ. Thư của ba.

Chị Quyên liếc qua, rồi bật cười, giọng cao vút:

“Giấy lộn. Di chúc thì sao? Ông già lú lẫn viết gì chẳng được. Camera thì chứng minh được cái gì? Tôi dắt cha chồng đi ký giấy thì có tội gì?”

“Tội ở chỗ chị dắt ba đi, và chị đưa chữ ký của em vào hồ sơ mà em không hề biết.” Tôi nói. “Cái đó người ta gọi là giả mạo.”

“Chứng cứ đâu?” Chị Quyên lùi một bước. “Chữ ký em tự ký chứ ai!”

Tôi lấy ra tờ giấy ghi lời ba. Tôi không đưa chị đọc. Tôi tự đọc, từng chữ, trong căn phòng chỉ còn tiếng quạt.

Khi tôi đọc đến đoạn “họ bàn chuyện đứng tên bảo lãnh cho đủ hồ sơ, em út giỏi giang, dễ qua vòng thẩm định”, chị Quyên đổi sắc mặt. Chị quay sang anh Hải, giọng rít lên:

“Anh nói gì với nó?”

“Tôi không nói.” Anh Hải ngẩng đầu, lần đầu tiên tôi thấy anh nhìn thẳng vào vợ mình. “Ba nghe hết rồi, Quyên. Ba nằm đó, ba nghe hết.”

Chị Quyên chết lặng. Chị đứng yên một lúc, rồi nở một nụ cười méo mó, thứ nụ cười tôi chưa từng thấy ở chị.

“Được. Ông già nghe thì nghe. Nhưng chuyện đã xong rồi. Căn nhà này tôi có quyền ở, tôi là dâu trưởng. Còn em, Phương, em giàu thế sao em không cho vay hai tỷ cứu anh em? Em ác thế này, họ hàng người ta nói gì?”

“Họ hàng nói gì thì kệ họ.” Tôi đáp. “Nhưng em muốn nói một việc khác: hôm giỗ ba, chị là người bảo anh Hải gạt em ra khỏi mâm. Chị chụp ảnh sổ tiết kiệm của em, rồi bày ra màn kịch đó để làm gì? Để em biết thân biết phận, hay để em quỳ xuống xin anh chị cho ở lại, rồi tự tay đưa tiền ra?”

Chị Quyên mím môi, không trả lời.

“Chị tính sai rồi.” Tôi nói. “Em không cần mâm giỗ của chị. Em cần ba được nằm yên.”

Tôi quay sang anh Hải.

“Anh có đồng ý cùng em đi trình báo với cơ quan chức năng, tự nhận phần mình, và đưa ra toàn bộ giấy tờ về dự án đất nền không?”

Anh Hải nhìn tôi rất lâu. Rồi anh nhìn lên bàn thờ ba, nơi khói hương vẫn lãng đãng.

“Anh đồng ý.”

“Anh Hải!” Chị Quyên quát lên. “Anh định đẩy vợ vào t:ù sao?”

“Không phải anh đẩy.” Anh nói rất khẽ. “Là em tự bước vào từ ngày em đưa ba đi ký giấy. Anh là đồng phạm, anh không chối. Nhưng anh không để em tiếp tục kéo thêm em Phương vào nữa.”

Chị Lan bước đến cạnh tôi, đặt tay lên vai tôi. Chị không nói gì, nhưng tôi biết chị đã chọn.

Chị Quyên nhìn quanh phòng. Không ai đứng cạnh chị. Chị túm lấy túi xách trên ghế, giọng gần như gào lên:

“Được! Các người cứ làm đi! Tôi không cần cái nhà này!”

Chị đóng sầm cửa, tiếng giày nện xuống nền gạch xa dần. Hai ngày sau, nghe nói chị về nhà ngoại ở Nam Định, đặt điện thoại ở chế độ im lặng. Nhưng chị không thể trốn mãi.

Sáu tuần sau, kết quả giám định chữ ký có kết luận: phụ lục bảo lãnh chứa chữ ký bị dựng lại từ mẫu cắt ghép, không phải do tôi ký. Công ty tài chính hủy tư cách đồng bảo lãnh của tôi. Bản gốc di chúc của ba được xác nhận hợp lệ. Hợp đồng thế chấp bị tuyên vô hiệu một phần: căn nhà không bị phát mại, nhưng khoản nợ gốc hai tỷ vẫn thuộc trách nhiệm cá nhân của anh Hải và chị Quyên, vì họ là người trực tiếp nhận tiền.

Anh Hải bị lập biên bản, khai nhận toàn bộ hành vi. Vì anh tự thú, hợp tác điều tra, và bản thân khoản vay đã được xử lý theo hướng trả nợ dần chứ không để mất tài sản, anh không bị khởi tố hình sự, nhưng phải cam kết trả nợ trong tám năm và bán lại phần nhà thuộc quyền của anh cho chị Lan và tôi để lấy vốn trả bớt. Chị Quyên bị triệu tập làm việc nhiều lần. Do hành vi dựng chữ ký bảo lãnh, chị phải chịu xử lý theo quy định, và chuyện của chị đến giờ vẫn chưa khép lại hoàn toàn.

Tôi không cho anh Hải vay hai tỷ. Nhưng tôi ngồi với anh và chị Lan thêm một buổi nữa, bàn một việc khác. Ba anh em cùng ký, bán một phần đất vườn phía sau nhà, lấy tiền cho anh trả bớt khoản nợ lãi cao nhất. Phần còn lại, anh tự trả bằng chính đôi tay mình. Tôi lập cho anh một bảng kế hoạch chi tiết, từng tháng, từng khoản. Anh nhìn bảng ấy rất lâu rồi nói một câu mà tôi nhớ mãi:

“Anh từng nghĩ em nghèo nên em yếu. Hóa ra người yếu là anh.”

Chị Lan đổi nghề, chuyển về cửa hàng tạp hóa của mình, mỗi tháng đều gửi một khoản nhỏ đỡ anh trả nợ. Chị bảo chị không thể sửa chuyện mình đã im lặng hôm giỗ, nhưng có thể sửa phần còn lại.

Đến ngày giỗ ba năm sau, tôi đến từ sáu giờ sáng. Căn nhà vẫn đó, bàn thờ vẫn đó, chỉ khác là sân nhà đã sạch sẽ, anh Hải tự tay lau từng cái ghế, mặt rám nắng vì làm thêm nhiều việc. Chị Lan đang nấu canh bên bếp. Không có chị Quyên. Không ai nhắc tên chị.

Anh Hải bưng bát canh ra, đặt xuống mâm, rồi quay sang tôi. Anh cầm lên một chiếc phong bì mỏng, đưa cho tôi bằng cả hai tay.

“Năm trăm nghìn. Anh trả lại cho em, cái hôm đó anh ném vào mặt em.” Anh nói, giọng khàn khàn. “Không phải để chuộc lỗi. Anh biết số tiền này không chuộc được gì. Nhưng anh muốn em cầm nó, để anh nhớ mình đã sai ở đâu.”

Tôi cầm phong bì, nhìn anh. Không còn gì trong ánh mắt anh ngoài sự mệt mỏi và một chút bình yên của người đã nói ra hết những điều mình giấu.

“Em nhận.” Tôi nói. “Nhưng em để nó ở bàn thờ ba.”

Tôi đặt phong bì cạnh bát hương, thắp ba nén nhang, lạy ba ba lạy. Khói hương bay lên, quện với mùi canh nóng từ gian bếp.

“Hôm nay con xin phép ba.” Tôi thì thầm. “Cả ba anh em đều ở đây.”

Ngoài sân, tiếng chị Lan gọi vọng vào:

“Phương, anh Hải, vào ăn cơm! Mâm giỗ dọn xong rồi!”

Tôi quay lại. Anh Hải đứng chờ, tay chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh anh, vị trí chính giữa mâm, nơi hôm giỗ năm ấy tôi từng bị đuổi ra.

“Ngồi đi.” Anh nói. “Đây là chỗ của em.”

Tôi ngồi xuống. Ba người, ba chiếc chén, ba đôi đũa. Ở giữa mâm, di ảnh ba nhìn xuống, cười hiền như những ngày chưa bệnh. Tôi gắp miếng thịt gà quê đầu tiên đặt vào bát anh Hải, rồi miếng thứ hai vào bát chị Lan. Không ai nói gì. Nhưng tôi biết, ba đã nghe thấy tất cả.

-HẾT-