NGÀY DẠM NGÕ, MẸ CHỒNG TƯƠNG LAI NHÌN CĂN NHÀ CẤP BỐN CỦA TÔI RỒI C:ƯỜI KH:ẨY, ĐẨY TÚI CÀ PHÊ HẠT VÀ HỘP YẾN CHƯNG VỀ PHÍA MẸ TÔI: “BÀ Ở TRONG CÁI XÓ CHUỘT NÀY CẢ ĐỜI, CHẮC CHƯA BAO GIỜ BIẾT MÙI VỊ MỘT LY CÀ PHÊ NGON HAY MỘT CHÉN YẾN CHƯNG ĐÂU NHỈ!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)
(Tiếp theo phần 1)
Tấm ảnh vẫn giơ lên trong tay mẹ tôi, mép giấy ố vàng run theo từng nhịp thở của bà.
Bà Hương nhìn nó chừng ba giây. Rồi bà vung tay định giật. Tôi bước lên chắn trước mặt mẹ, gạt tay bà ra.
“Bác đừng đụng vào. Đây là ảnh của ba cháu.”
Giọng tôi lạ hoắc, chính tôi cũng không nhận ra. Bà Hương khựng lại, cố kéo cái vẻ khinh khỉnh lúc nãy về trên mặt, nhưng khóe môi bà giật giật.
“Một tấm ảnh cũ thì chứng minh được cái gì? Ai chẳng chụp được ảnh trước cổng xưởng. Bà bày trò gì ở đây? Định đến ăn vạ nhà tôi chắc?”
“Ăn vạ?” Mẹ tôi nói rất khẽ. “Hai mươi năm nay, tôi chưa một lần gõ cửa nhà bà. Hôm nay là bà tự bước vào nhà tôi, còn mang cả cà phê của cái xưởng đó đến.”
Mẹ đứng thẳng lưng lên, trông cao hơn thường ngày. Bà nhìn thẳng vào mắt bà Hương.
“Từ lúc bà bước qua cổng, tôi đã nhận ra bà rồi, bà Hương. Tôi chỉ mong mình nhìn nhầm. Cho đến khi tôi lật cái tem này.”
Căn bếp im đến mức tôi nghe rõ tiếng quạt trần kêu cót két ngoài phòng khách. Tôi liếc sang Khải. Anh đứng cạnh cửa, hai tay buông thõng, không dám nhìn mẹ anh, cũng không dám nhìn tôi. Chị Mai đứng sau anh, một tay nắm chặt quai túi xách, mặt trắng như tờ giấy.
“Mẹ…” Giọng Khải khô khốc. “Mẹ quen mẹ Thảo từ trước ạ?”
“Quen cái gì mà quen! Con im đi!”
“Mẹ, rốt cuộc là chuyện gì?” Tôi quay sang mẹ mình. “Ba làm sao? Sao mẹ chưa bao giờ nói với con về cái xưởng này?”
Mẹ nhìn tôi rất lâu, như nhìn đứa bé chín tuổi của hai mươi năm trước.
“Thảo, mẹ xin lỗi. Đáng lẽ mẹ phải kể từ lâu.”
Mẹ kể ngay trong gian bếp chật, trước mặt tất cả. Không ai đủ can đảm bỏ đi, kể cả bà Hương.
Hai mươi năm trước, ba tôi, ông Tâm, là thợ rang cà phê giỏi nhất vùng. Ông Hùng, chồng bà Hương, bạn thân của ba, lúc ấy đang làm ở cơ quan nhà nước nên không thể đứng tên kinh doanh. Hai người hùn vốn mở xưởng rang xay ở Buôn Ma Thuột, đặt tên Tâm Hùng, ghép từ tên hai ông.
“Ba con bán mảnh đất ông bà nội để lại, rồi thế chấp luôn căn nhà ở quê vay ngân hàng, đổ hết vào xưởng. Bốn trăm triệu, hồi đó là cả gia tài. Ông Hùng bảo anh Tâm cứ đứng tên giám đốc cho tiện giấy tờ, còn đầu ra để tôi lo. Ba con tin.” Mẹ ngừng một nhịp. “Mẹ cũng tin.”
Tôi nghe mà thấy cổ họng đắng lại. Mấy mùa hè hồi nhỏ, tôi theo mẹ lên xưởng, ngồi trên bao tải cà phê, mùi hạt khét lẹt trong lò rang bám vào tóc, về nhà gội mấy lần vẫn còn. Hồi đó tôi tưởng đó là mùi của ba. Giờ mới biết nó là mùi của một thứ đã bị lấy mất.
“Xưởng làm ăn khá lên từng tháng. Rồi ba con bệnh, phải nhập viện mổ ở Sài Gòn.” Mẹ nhìn bà Hương. “Ba nằm đúng mười ba ngày. Mười ba ngày đó, kho hàng bị chở đi, máy móc bị dỡ, khách quen quay sang đặt hàng ở một công ty khác. Giám đốc công ty đó là bà.”
Bà Hương cười gằn: “Làm ăn thua lỗ thì tự chịu. Chồng bà vô dụng, ch:ết sớm cũng đừng đổ cho người khác.”
Tôi siết chặt tay. Mẹ tôi vẫn bình tĩnh đến lạ.
“Thua lỗ? Nếu thua lỗ, sao khách của xưởng vẫn đặt hàng, chỉ là đổi sang tên bà?”
Bà Hương mím môi, không đáp được.
Mẹ kể tiếp. Khi ba ra viện, ngân hàng gửi giấy đòi nợ gần chín trăm triệu, người đứng tên khoản nợ là ba. Nhà ở quê bị siết. Sức khỏe ba tụt dần, không làm lại được nữa. Sáu năm sau, ba m:ất, lúc tôi học lớp chín. Mẹ lên thành phố, gom góp mua mảnh đất nhỏ này, dựng căn cấp bốn, mở tạp hóa nuôi tôi.
Tôi nhớ những năm đó nhà luôn có người đến đòi nợ. Và mẹ chỉ nói gọn một câu.
“Ba con làm ăn thất bại.”
Tôi đã tin câu đó suốt hai mươi năm.
“Còn tờ giấy?” Tôi hỏi. “Lúc nãy mẹ nói bà ấy muốn mẹ im lặng. Im lặng chuyện gì?”
Mẹ cúi đầu. Bàn tay bà vân vê vạt áo, đúng cái kiểu bà vẫn làm mỗi khi nói dối tôi chuyện tiền nong.
“Lúc nhà bị siết, ba con còn nằm viện. Bà Hương mang đến một trăm triệu, bảo giúp viện phí cho hai nhà êm chuyện. Chỉ cần mẹ ký giấy cam kết không nhắc lại chuyện xưởng, không đòi hỏi, không kiện tụng.” Mẹ ngẩng lên, mắt đỏ hoe. “Mẹ ký. Mẹ nhận tiền. Con còn nhỏ, ba con thì ngày nào cũng cần thuốc. Hai mươi năm nay mẹ xấu hổ vì chuyện đó, nên mẹ không dám kể với con.”
Tôi đứng đó, không biết nên giận ai trước. Giận bà Hương? Giận mẹ? Hay giận chính mình vì hai mươi năm chưa từng hỏi mẹ một câu cho ra nhẽ?
Bà Hương đón lấy khoảnh khắc ấy như đón cái phao.
“Đấy! Chính miệng bà nhận đấy nhé. Nhận tiền, ký giấy, giờ còn muốn lật lại?” Bà bước lên một bước, giọng the thé. “Tờ cam kết tôi vẫn giữ. Bà mà há miệng nói thêm một chữ ra ngoài cái nhà này, tôi đem nó ra cho cả xóm biết bà nhận tiền bịt miệng!”
Mẹ tôi tái mặt, không nói được gì. Còn tôi nhìn bà Hương, bỗng thấy mọi lời xỉa xói ban nãy hiện ra theo một thứ tự khác.
“Ra là vậy.” Tôi nói chậm. “Từ lúc bước chân vào nhà, bác đã biết mẹ cháu là ai. Bác chê nhà cháu là xó chuột không phải vì khinh thường. Bác cố chọc cho mẹ cháu tức mà bỏ đi, dạm ngõ tự hủy, bác khỏi phải đứng đối diện với mẹ cháu. Đúng không ạ?”
Sắc mặt bà Hương đổi đi. Chỉ một thoáng, nhưng tôi đã kịp thấy.
“Cô giỏi tưởng tượng.”
“Mẹ.” Khải lên tiếng, khản đặc. “Mẹ trả lời con đi.”
“Con im! Chuyện người lớn!”
Tôi quay lại phía bà. Lần này tôi không còn run nữa.
“Lúc nãy bác bảo mẹ cháu chưa bao giờ biết mùi vị một ly cà phê ngon. Mẹ cháu đứng canh lò rang của xưởng Tâm Hùng ba mùa hè liền, bác ạ. Cái mùi trong túi này, mẹ cháu nhớ từng độ khét.” Tôi chỉ vào cái túi trong tay bà. “Bác còn giữ nguyên cái tên, cái tên có chữ Tâm của ba cháu, để đem đi bán đến tận hôm nay.”
Tôi chỉ sang hộp yến trên bàn.
“Còn chén yến chưng, cháu không biết vị nó thế nào. Nhưng cháu biết một thứ đắt hơn nhiều: tiền thuốc của ba cháu. Và nhà bác đã ăn nó hai mươi năm.”
Chị Mai đưa tay bịt miệng. Khải nhắm mắt lại, như vừa bị ai đ:ánh trúng.
Khải bước lên, đứng giữa hai bên, nhưng là đứng cạnh tôi chứ không phải cạnh mẹ anh. Tôi nhận ra điều đó, dù lúc ấy chưa biết mình nên cảm thấy gì.
“Tối qua chị Mai gọi cho anh.” Anh nhìn tôi, giọng thấp xuống. “Chị hỏi tên đầy đủ của ba mẹ em. Anh nói. Chị im rất lâu rồi bảo anh đi hỏi mẹ. Anh hỏi, mẹ bảo anh nghĩ vớ vẩn. Anh định sáng nay tự nhìn cho rõ.”
“Anh biết từ tối qua?”
“Anh không biết, anh chỉ nghi. Anh sợ nói ra mà sai thì em hoảng, còn nếu đúng…” Anh nuốt khan. “Anh sợ mất em. Anh xin lỗi.”
“Nghi mà vẫn để em đứng nghe mẹ anh xỉ vả mẹ em cả buổi sáng?”
Khải không đáp. Cũng chẳng còn gì để đáp.
Bà Hương bắt đầu lấy lại thế. Bà hất cằm, giọng cứng như đá.
“Cho dù có thế thì sao? Giấy chuyển nhượng xưởng, ông Tâm tự tay ký, ai cũng biết. Giấy cam kết, bà Lan tự tay ký. Không có tờ nào làm giả. Hai mươi năm rồi, ai còn nhớ cái gì mà đòi nói chuyện phải trái!”
Tôi quay sang mẹ.
“Mẹ, mẹ đã bao giờ thấy tờ chuyển nhượng đó chưa?”
“Chưa. Họ chỉ nói ba con đã ký.”
“Vậy là chỉ có mình bác nói ba cháu ký.” Tôi nhìn bà Hương. “Không ai thấy, không ai chứng minh được. Bác chắc chắn thế chứ?”
Bà Hương mở miệng, nhưng người lên tiếng không phải bà.
“Con thấy rồi.”
Mọi người quay lại. Chị Mai đứng sát cửa bếp, hai tay siết quai túi đến trắng bệch cả khớp. Mặt chị không còn giọt máu, nhưng giọng chị không run.
“Mai! Mày nói linh tinh cái gì đấy?”
“Không phải linh tinh đâu mẹ.” Chị mở khóa túi, rút ra một phong bì giấy nâu cũ, mép đã mềm nhũn vì thời gian. “Hôm đó mẹ đưa cho con, bảo mang ra sân sau đốt. Con mười bốn tuổi. Con ra sân, con không đốt. Con giấu nó hai mươi năm.”
Bà Hương lao tới. Chị Mai lùi một bước, giấu phong bì ra sau lưng. Khải chặn ngang, giữ tay mẹ anh lại.
“Mẹ, đứng lại.”
“Hai mươi năm con sống trong sợ hãi.” Chị Mai nói, nước mắt chảy dài mà giọng vẫn đều. “Mỗi lần ba nhắc đến tên chú Tâm, mẹ lại lảng sang chuyện khác. Mỗi lần con ngồi vào bàn ăn, con tự hỏi bữa cơm này của ai. Tối qua Khải đọc tên bác gái, con về lục lại cái hộp. Sáng nay con mang theo, mà con cũng không biết sẽ làm gì với nó, cho đến khi con nghe mẹ nói câu đó với cô.”
Chị quay sang mẹ tôi, cúi đầu thật thấp.
“Con xin lỗi cô. Nhà con đã l:ừa nhà cô.”
Chị đặt phong bì lên bàn nước, ngay cạnh hộp yến.
Tôi mở ra. Mấy tờ giấy ngả màu, một tờ đóng dấu đỏ đã mờ. Tiêu đề in đậm: HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG TOÀN BỘ CƠ SỞ RANG XAY TÂM HÙNG. Bên chuyển nhượng: ông Phạm Văn Tâm. Bên nhận: bà Nguyễn Thị Hương. Giá chuyển nhượng: năm mươi triệu đồng. Ký tại Buôn Ma Thuột, ngày mười hai tháng ba.
Tôi đọc hai lần. Bảy năm làm kế toán, thứ đầu tiên tôi học là đối chiếu ngày tháng.
“Mẹ, ba nhập viện ngày nào?”
“Mồng chín tháng ba. Ra viện hai mươi hai.”
“Mẹ còn giữ phiếu ra viện không?”
Mẹ nhìn tôi, và tôi thấy trong mắt bà có thứ gì đó vừa sáng lên, như người mất phương hướng bỗng nhìn thấy đèn.
“Trong hộp sắt, dưới đáy. Mẹ giữ hai mươi năm mà không biết giữ để làm gì.”
Tôi chạy vào phòng lần nữa, lật tung đáy hộp, tìm thấy phiếu ra viện bọc trong lớp ni lông đã ngả vàng. Tôi quay ra, đặt hai tờ giấy cạnh nhau trên bàn, ngay trước mặt mọi người.
“Hợp đồng ghi ông Tâm ký tại Buôn Ma Thuột ngày mười hai tháng ba. Phiếu này ghi ông Tâm nằm viện ở Sài Gòn từ mồng chín đến hai mươi hai tháng ba, vừa mổ xong.” Tôi ngẩng lên nhìn thẳng bà Hương. “Bác giải thích giúp cháu, ba cháu ký bằng cách nào, khi đang nằm trên giường bệnh cách đó hơn ba trăm cây số?”
Không ai trả lời. Tiếng quạt trần vẫn kêu cót két.
“Còn nữa. Mẹ, ba góp vốn bao nhiêu?”
“Bốn trăm triệu.”
“Cả máy móc, kho hàng, khách quen, mà chuyển nhượng năm mươi triệu.” Tôi đặt ngón tay lên con số. “Cháu không phải luật sư, không dám nói gì về chuyện pháp lý. Nhưng cháu biết đọc ngày tháng và biết tính tiền. Tờ này, ba cháu không ký.”
“Tờ cam kết bà Lan ký thì sao?” Bà Hương gào lên. “Nó ghi rõ bà ấy không được khiếu nại gì hết!”
“Tờ cam kết đó nói về một trăm triệu bác đưa. Nó không nhắc một chữ nào về tờ chuyển nhượng này, vì mẹ cháu chưa từng được thấy nó.” Tôi nói chậm, rõ từng chữ. “Cháu chưa nói sẽ làm gì tiếp. Nhưng từ hôm nay, chuyện này không còn nằm yên trong hộp sắt nhà cháu hay trong tay bác nữa.”
Bà Hương nhìn quanh một vòng. Chị Mai, con gái bà, đứng đó không rời mắt khỏi bà. Khải, con trai bà, không còn đứng phía bà. Tôi thấy bà hiểu ra mình đang bị bỏ lại một mình.
Và bà làm điều duy nhất bà còn làm được: quát.
“Khải! Đi về! Hôm nay con bước ra khỏi cái nhà này cùng mẹ! Con gái nhà này vào nhà mình, mẹ không đồng ý!”
Khải đứng yên.
“Mẹ, ba m:ất năm năm rồi. Hôm ba m:ất, ba nắm tay con, bảo con sống cho tử tế. Con cứ tưởng ba nói chuyện làm ăn.” Anh nhìn tờ hợp đồng trên bàn. “Giờ con thấy không phải thế.”
“Mẹ làm tất cả những thứ này vì ai?” Bà Hương rít lên, mất hết kiểm soát. “Vì anh! Vì chị Mai! Cái cửa hàng ở phố, mấy năm anh ăn học, cái ăn cái mặc của hai chị em, anh nghĩ từ đâu ra? Mẹ khổ sở cả đời cũng chỉ để các con…”
Bà khựng lại. Quá muộn. Câu nói đã nằm giữa gian bếp, không ai nhặt lên được nữa.
“Vậy là mẹ nhận.” Khải nói rất khẽ. “Từ nhỏ đến lớn, con ăn học bằng thứ này.”
Anh nhắm mắt một lúc rồi mở ra, nhìn mẹ mình lần đầu tiên không né tránh.
“Nếu là thế thì con không cần. Không cần cửa hàng, không cần gì hết.”
Mẹ tôi lúc này mới lên tiếng. Bà cầm túi cà phê và hộp yến, đặt lại vào tay bà Hương.
“Bà mang về đi. Nhà tôi nghèo thật, nhưng quà này nhà tôi không nhận.”
Bà Hương cầm lấy, tay run bần bật. Bà nhìn tôi bằng ánh mắt mà tôi sẽ nhớ rất lâu: không phải căm ghét, mà là sợ.
“Được. Các người cứ làm đi. Khải, cửa hàng đứng tên tôi, anh bước ra khỏi cổng này thì đừng mơ lấy lại thứ gì!”
“Con biết ạ.”
Bà Hương xô ghế đi ra, tiếng giày nện xuống nền gạch gấp gáp. Đến cổng, bà còn quay lại, hét vọng vào:
“Rồi các người sẽ hối hận!”
Chị Mai đứng nguyên chỗ cũ, nước mắt lăn dài. Mẹ tôi bước đến, đặt tay lên vai chị.
“Con giữ giấy hai mươi năm, thế là đủ rồi. Cô không giận con.”
Chị Mai gật đầu, không nói được lời nào, rồi chạy theo mẹ ra cổng.
Trong căn nhà chỉ còn lại tôi, mẹ và Khải. Anh đứng ngay cửa bếp, không dám bước thêm.
“Hôm nay em không thể gật đầu.” Tôi nói. “Lễ dạm ngõ dừng ở đây.”
“Anh hiểu.”
“Không phải vì anh. Là vì em cần biết ba em đã mất những gì.”
Khải gật đầu. Anh đứng im một lúc rồi nói, giọng thấp mà chắc:
“Kho cũ của cửa hàng còn một thùng sổ sách của xưởng. Mẹ khóa từ lâu, không cho ai đụng vào. Chìa khóa anh có.”
“Anh làm vậy để chuộc lỗi?”
“Anh làm vì ba em. Còn chuyện giữa mình, em muốn quyết thế nào anh cũng chịu.”
Anh cúi chào mẹ tôi thật sâu rồi ra về. Tôi đứng nhìn bóng anh khuất sau cánh cổng sắt, trong lòng rối như tơ vò.
Chiều muộn, hai mẹ con ngồi lại trong bếp. Mẹ không pha cà phê. Bà không nói gì, chỉ ngồi nhìn tấm ảnh ba. Tôi lần lượt lấy hết giấy tờ ra khỏi phong bì chị Mai để lại, xếp ngay ngắn lên bàn. Hợp đồng, bản photo giấy tờ ngân hàng, và dưới cùng là một tấm ảnh nhỏ, màu đã phai gần hết, chụp lễ khai trương xưởng.
Ba tôi đứng bên trái, cười toe toét. Ông Hùng bên phải, trẻ hơn nhiều, tay cầm kéo cắt băng. Giữa hai người là một người đàn ông thứ ba, khoác vai cả hai, cười như thể là người thân thiết nhất của cái xưởng này. Mặt sau tấm ảnh có dòng chữ bút bi nhòe: “Tâm – Hùng – Quang. Ngày khai trương.”
Tôi biết người đàn ông đó. Mười bốn năm nay, mỗi dịp giỗ ba, chú ấy đều mang hoa quả sang thắp hương. Chú đã cho mẹ vay tiền mở tạp hóa, đã đứng ra bảo lãnh khi mẹ mua mảnh đất này. Mẹ tôi vẫn gọi chú là ân nhân.
“Mẹ.” Tôi lắp bắp, đẩy tấm ảnh về phía bà. “Sao chú Quang lại đứng trong ảnh khai trương xưởng của ba?”
Mẹ nhìn tấm ảnh. Bà không trả lời, chỉ lần tay tìm thành bàn như người sắp ngã. Đúng lúc đó điện thoại của mẹ rung lên trên mặt bàn, màn hình sáng lên hai chữ: “Chú Quang”.
Mẹ không bắt máy. Bà nhìn chằm chằm vào cái tên ấy, môi khẽ mấp máy như nói với chính mình:
“Sao ông ấy lại gọi đúng hôm nay?”
Điện thoại rung hết hồi chuông thứ nhất, mẹ vẫn không bắt máy. Đến hồi thứ hai, bà đưa ngón tay run run lên màn hình, bấm nghe, rồi bật loa ngoài. Tôi không hiểu sao bà làm vậy. Có lẽ bà muốn có người cùng nghe.
“Alo.”
“Lan à.” Giọng chú Quang khàn khàn, thở dốc như người vừa chạy. “Tôi đang đứng trước cổng nhà chị. Hương vừa gọi cho tôi, chị ấy khóc, chị ấy chửi, tôi nghe không rõ hết. Chị mở cửa cho tôi. Có chuyện tôi phải nói với chị, đáng lẽ phải nói từ hai mươi năm trước.”
Mẹ nhìn tôi. Tôi nhìn tấm ảnh khai trương trên bàn, rồi đứng dậy ra mở cổng.
Chú Quang đứng ngoài, sáu mươi ba tuổi, tóc đã bạc gần hết, áo sơ mi nhàu, tay ôm một cái cặp nylon cũ đựng đầy giấy. Mười bốn năm nay, tôi quen thấy chú cầm túi trái cây, cười hiền, gọi mẹ tôi là “chị Lan” bằng cái giọng của người em biết ơn. Hôm nay chú không cười. Chú nhìn tôi, rồi cúi đầu.
“Thảo, cho chú vào.”
Chú bước vào bếp, thấy tấm ảnh nằm giữa bàn thì khựng lại. Chú đứng đó một lúc lâu rồi kéo ghế ngồi xuống, đặt cái cặp lên đùi, hai bàn tay chồng lên nhau.
“Chị thấy rồi.”
“Ông đứng giữa ảnh khai trương xưởng của chồng tôi.” Giọng mẹ tôi bình thản đến đáng sợ. “Mười bốn năm tôi gọi ông là ân nhân. Giờ ông nói đi, ông là ai trong cái xưởng này?”
Chú Quang nhắm mắt.
“Tôi là kế toán của xưởng Tâm Hùng. Ba năm đầu, mọi sổ sách thu chi đều qua tay tôi.”
Tôi sững người. Kế toán. Cái nghề tôi đang làm, cái nghề tôi chọn vì nghĩ mình thích những con số. Tôi chưa bao giờ hỏi tại sao mẹ cứ đồng ý ngay khi tôi nói muốn học kế toán, chỉ cười và bảo “ừ, nghề đó ngay thẳng”.
“Hôm anh Tâm vào viện, anh Hùng gọi tôi lên phòng.” Chú nói chậm, từng chữ như đang nhả ra một hòn sỏi. “Anh ấy đưa tôi một xấp giấy, bảo chuẩn bị hợp đồng chuyển nhượng, ghi giá năm mươi triệu, ghi ngày mười hai tháng ba. Tôi hỏi anh Tâm đã đồng ý chưa. Anh Hùng bảo anh Tâm đang nằm viện, sống hay ch:ết chưa biết, xưởng không thể đứng yên chờ.”
“Và ông làm?” Tôi hỏi.
“Tôi soạn. Còn chữ ký của anh Tâm, người ta lấy mẫu từ mấy tờ phiếu xuất kho cũ, nhờ một người quen tập viết lại.” Chú mở mắt nhìn mẹ tôi. “Tôi không cầm bút ký. Nhưng tôi biết hết, và tôi im lặng. Hôm sau anh Hùng đưa tôi ba mươi triệu, bảo là tiền cảm ơn. Tôi cầm.”
Căn bếp im phăng phắc. Tôi nghe tiếng mẹ thở, rất khẽ, rất đều, như đang cố giữ thứ gì đó khỏi vỡ.
“Ba mươi triệu.” Mẹ lặp lại.
“Hồi đó vợ tôi ốm, con tôi còn nhỏ. Tôi tự nhủ mình chỉ làm giấy tờ, không làm điều gì ác. Nhưng khi tôi nhìn thấy anh Tâm ra viện, gầy như cái que, ngày nào cũng ngồi nhìn cái xưởng trống không…” Chú nghẹn lại. “Tôi xin nghỉ ngay hôm sau. Anh Hùng bảo tôi mà hé răng thì người đầu tiên vào t:ù là tôi, vì chính tay tôi soạn giấy.”
Mẹ nhìn chú, không chớp mắt.
“Rồi sao ông đến nhà tôi?”
“Anh Tâm m:ất, tôi không dám đến đám tang. Sáu tháng sau tôi mới dám gõ cửa nhà chị. Tôi không biết nói thế nào, nên tôi nói chị cần vay tiền thì cứ bảo tôi.” Chú lau mặt bằng mu bàn tay. “Tôi tự thấy mình đang trả nợ. Nhưng trả đến đâu, tôi cũng không thấy nhẹ đi một chút nào.”
Mẹ tôi đứng dậy. Tôi tưởng bà sẽ tát chú, hay ít nhất quát lên. Nhưng bà chỉ đi đến bên cửa sổ, quay lưng lại, nhìn ra cái bồn hoa nứt ngoài sân rất lâu.
“Mười bốn năm, mỗi dịp giỗ ông Tâm, ông cầm nén hương đứng trước ảnh ảnh.” Giọng bà rất nhỏ. “Lúc đó ông nghĩ gì?”
“Tôi xin ảnh tha lỗi, chị ạ.” Chú nói. “Hôm nào cũng xin.”
Mẹ không đáp. Tôi cũng không biết lúc ấy mình nên giận hay nên thương người đàn ông này. Có lẽ cả hai. Tôi chỉ nhìn cái cặp trong lòng chú.
“Chú mang gì đến đây?”
Chú Quang đặt cặp lên bàn, mở ra. Bên trong là một cuốn sổ cái bìa đen đã sờn gáy, vài tờ giấy A4 đã ngả màu, và một xấp giấy nháp kẹp bằng kẹp sắt gỉ.
“Đây là sổ cái thật của xưởng, ba năm. Đáng lẽ tôi phải giao nộp lại, nhưng tôi giữ.” Chú đẩy về phía tôi. “Còn đây là bản nháp hợp đồng chuyển nhượng. Chỗ ngày tháng, anh Hùng tự tay gạch bỏ, sửa lại. Chữ của anh ấy, chị Lan nhìn là nhận ra.”
Tôi mở sổ cái. Mấy chục năm làm kế toán, tôi chưa bao giờ đọc một cuốn sổ nào mà tay run đến vậy.
Trang đầu ghi rõ: vốn góp ông Phạm Văn Tâm, bốn trăm triệu đồng. Vốn góp ông Hùng, một trăm năm mươi triệu. Dòng cuối cùng của cuốn sổ, ngày mồng tám tháng ba, tức một ngày trước khi ba tôi nhập viện, ghi xưởng đang có lãi ba tháng liền.
“Chú.” Tôi ngẩng lên. “Lãi ba tháng liền. Vậy hồ sơ bên ngân hàng báo thua lỗ để đòi nợ ba cháu là giấy tờ gì?”
Chú Quang cúi đầu thấp hơn nữa.
“Là giấy tờ do công ty mới của chị Hương làm.”
Mẹ quay phắt lại.
Tôi chưa từng thấy mẹ như vậy. Mắt bà đỏ, nhưng không có nước. Bà bước đến bàn, đặt hai tay lên mặt bàn, nhìn xuống chú Quang như nhìn một người xa lạ.
“Ông giữ mấy thứ này hai mươi năm.”
“Vâng.”
“Sao hôm nay mới mang đến?”
“Vì hôm nay chị Hương gọi tôi.” Chú nói. “Chị ấy bảo nhà chị bắt đầu lật lại chuyện cũ. Chị ấy ra lệnh cho tôi nếu có ai hỏi thì phải nói tôi chưa từng làm kế toán xưởng, chưa từng thấy tờ giấy nào. Tôi đã nghe lệnh hai mươi năm rồi, chị Lan ạ.” Chú ngẩng lên. Hai mắt chú đỏ ngầu. “Hôm nay tôi không nghe nữa.”
Mẹ tôi im lặng rất lâu. Rồi bà nói, từng chữ rõ ràng:
“Tôi không còn gọi ông là ân nhân nữa. Số tiền ông cho tôi vay, tôi đã trả đủ từ lâu, ông cũng biết rồi. Nhưng ông Tâm của tôi, hằng năm đến ngày giỗ, ông vẫn cứ sang thắp cho ông ấy nén hương.”
Chú Quang khóc. Một người đàn ông sáu mươi ba tuổi, ngồi trong căn bếp chật nhà tôi, khóc mà không phát ra một tiếng.
Tối hôm đó, khoảng chín giờ, cổng nhà tôi lại vang lên tiếng chuông.
Khải đứng ngoài, một mình, mồ hôi ướt lưng áo. Phía sau anh, trên chiếc xe máy cũ, buộc chặt một thùng các-tông to bằng cái tủ lạnh nhỏ. Anh không nói gì, chỉ cùng tôi khiêng thùng vào nhà.
“Mẹ anh biết chưa?” Tôi hỏi.
“Mẹ ngủ rồi. Anh lấy chìa khóa từ ngăn kéo của mẹ.” Anh thở ra. “Chị Mai biết. Chị ấy giữ cửa kho cho anh.”
Chúng tôi mở thùng ngay giữa phòng khách. Mẹ tôi ngồi một bên, chú Quang ngồi bên kia, không ai bảo ai nhưng không ai đi ngủ. Hóa đơn xuất kho, phiếu nhập hàng, sổ theo dõi khách quen, bản sao những tờ giấy ngân hàng gửi từ hai mươi năm trước.
Tôi làm việc suốt đêm. Mỗi tờ giấy tôi lật ra đều khớp với một dòng trong cuốn sổ cái chú Quang đưa. Phiếu xuất kho ghi ngày mười một, mười hai, mười ba tháng ba, kho hàng của xưởng Tâm Hùng chuyển sang một công ty mới thành lập, người nhận hàng ký tên Nguyễn Thị Hương. Chữ ký còn nguyên nét đặc trưng, cái móc cuối chữ “g” kéo dài như cái đuôi.
Mười một giờ đêm, Khải lấy từ đáy thùng ra một cuốn sổ nhỏ bìa nâu, bọc nhựa đã ố. Anh lật mở, rồi đưa cho mẹ tôi mà không nói gì.
Mẹ cầm cuốn sổ, lật trang đầu tiên.
Là nét chữ của ba tôi. Từng dòng ghi nhiệt độ lò, thời gian rang, độ nở của hạt, cả những ghi chú nhỏ bên lề kiểu “hạt Cầu Đất, hôm nay ẩm, giảm lửa sớm”. Hơn hai mươi trang, nét chữ còn nguyên. Ở trang cuối, ba tôi viết: “Cho Thảo, nếu con muốn học nghề của ba.”
Tôi không nhớ mình đã ngồi xuống sàn từ lúc nào. Tôi chỉ nhớ mùi hạt khét bám trong tóc những mùa hè xưa, và mẹ ôm tôi, im lặng, để mặc tôi khóc đến khi mệt lả.
Sáng hôm sau tôi gọi cho Ngân, bạn học cùng đại học, giờ là luật sư. Chị nghe tôi kể xong, không nói gì suốt một phút.
“Em à, về chuyện chữ ký giả mạo và hồ sơ báo lỗ, tài liệu em có là rất nặng. Tờ cam kết một trăm triệu kia, nếu chứng minh được mẹ em ký trong tình trạng bị che giấu sự thật, nó cũng rất khó giữ nguyên giá trị. Nhưng chị nói thẳng, kiện tụng sẽ kéo dài, tốn kém, và mẹ em phải ra mặt nhiều lần.”
“Chị khuyên sao?”
“Chị khuyên em đưa cho bà ấy một cơ hội ngồi xuống thương lượng trước, có mặt chị. Bà ấy biết rõ hồ sơ nếu ra tòa thì ai thiệt.”
Tôi kể lại với mẹ. Mẹ ngồi im, tay mân mê góc cuốn sổ rang của ba.
“Mẹ không muốn kiện, Thảo.”
“Mẹ, ba đã chịu đủ rồi.”
“Mẹ biết.” Bà ngước lên nhìn tôi. “Mẹ không muốn kiện, mẹ muốn bà ấy phải nói ra sự thật. Nói bằng chính miệng bà ấy, trước mặt những người đã ăn bữa cơm đó suốt hai mươi năm.”
Chúng tôi thống nhất: một cuộc gặp, một tuần sau, tại nhà bà Hương, trên căn nhà phố. Nếu bà từ chối, tôi sẽ nộp đơn.
Chủ nhật, mười giờ sáng. Căn nhà ba tầng ở phố, mặt tiền là cửa hàng bán cà phê và đặc sản, lối vào bên hông. Tôi đến cùng mẹ, chú Quang và chị Ngân. Khải và chị Mai đã ở trong phòng khách, ngồi hai bên chiếc ghế bành lớn, nơi bà Hương ngồi thẳng lưng, mặc áo dài lụa xanh, nhìn chúng tôi như nhìn những kẻ đến ăn xin.
“Đông đủ cả nhỉ.” Bà nói, giọng nhẹ nhàng đến lạnh người. “Hay là nhà chị Lan định dựng chuyện để đòi tiền?”
“Chúng tôi chỉ đến để nói chuyện.” Mẹ tôi nói. “Bà cho phép.”
Chị Ngân đặt bộ hồ sơ lên bàn: phiếu ra viện, bản hợp đồng chuyển nhượng, sổ cái, phiếu xuất kho có chữ ký bà Hương, bản nháp hợp đồng có bút tích ông Hùng. Bà Hương liếc qua rồi bật cười.
“Toàn giấy lộn. Ông Quang này là kẻ phản chủ, ăn tiền của nhà tôi rồi quay sang cắn lại. Lời ông ta nói ra có ai tin?”
“Phải.” Chú Quang đứng dậy, giọng khản nhưng chắc. “Tôi nhận ba mươi triệu. Tôi nhận tôi sai. Nhưng sổ cái ghi ngày tháng, phiếu xuất kho ghi chữ ký chị, bản nháp ghi chữ anh Hùng. Tôi không cần ai tin lời tôi. Cứ đối chiếu giấy tờ.”
“Giỏi lắm.” Bà Hương nhếch môi. “Vậy các người định đưa tôi vào t:ù à? Một bà sáu mươi tuổi, hai đứa con…”
“Mẹ.” Chị Mai lên tiếng.
Cả phòng quay sang. Chị đứng dậy, bước đến giữa phòng, tay vẫn nắm chặt quai túi như lần trước.
“Hôm ba ch:ết, mẹ nhớ không? Ba gọi con vào phòng, mẹ ra ngoài lấy thuốc.” Giọng chị đều đều. “Ba nắm tay con, bảo: ‘Chuyện của nhà chú Tâm, ba có lỗi. Con nhớ nhắc mẹ trả lại.’ Con về nói với mẹ. Mẹ bảo ba lú lẫn vì thuốc, đừng nói linh tinh. Con im. Hai mươi năm con im.”
Bà Hương mở miệng, nhưng không thốt được chữ nào.
“Hôm nay con không im nữa.” Chị nói. “Nếu cần ra khai, con sẽ khai.”
Khải đứng dậy bên cạnh chị.
“Con cũng vậy.”
Bà Hương nhìn hai đứa con. Rồi bà nhìn mẹ tôi, nhìn tôi, nhìn chú Quang, nhìn chồng giấy trên bàn. Tôi thấy cái mặt nạ khinh khỉnh trên mặt bà rơi ra từng mảnh, rất chậm. Không ai nói gì. Chỉ có tiếng điều hòa chạy ì ầm.
“Hồi đó nhà tôi thuê trọ.” Bà bắt đầu, giọng rất khác. “Hai đứa con còn nhỏ, một đứa mười bốn, một đứa mười một. Ông Hùng sắp bị cơ quan kỷ luật vì chuyện gì đó tôi không rõ, chỉ biết nếu mất việc thì cả nhà ra đường. Tôi nhìn cái xưởng làm ăn khá lên từng tháng, nhìn ông Tâm bệnh nặng, tôi nghĩ… tôi nghĩ ông ấy sống không nổi nữa.”
“Nên bà lấy.” Mẹ tôi nói.
“Tôi nghĩ mình chỉ mượn tạm.” Bà Hương ngẩng lên, mắt đỏ. “Rồi tôi không dừng lại được. Mỗi ngày qua đi, cái xưởng càng thành của tôi, cái nhà càng thành của tôi, các con tôi càng quen với chuyện được ăn học đàng hoàng. Càng về sau, tôi càng không dám nhìn lại.”
“Vậy hôm dạm ngõ, bác chọc mẹ cháu để làm gì?” Tôi hỏi.
Bà Hương im lặng một lúc, rồi bật cười, một tiếng cười mệt mỏi.
“Tôi nhìn thấy bà ấy ở cửa, tôi nhận ra ngay. Tôi sợ. Tôi nghĩ nếu chọc cho bà ấy giận, bà ấy bỏ đi, cuộc dạm ngõ hủy, tôi khỏi phải ngồi cùng một bàn với người mà tôi nợ cả đời.” Bà nhìn tôi. “Nhưng bà ấy đứng đó, rót nước cho tôi. Tôi đã nói câu tệ nhất tôi từng nói, và bà ấy vẫn rót nước.”
Mẹ tôi không đáp. Bà đưa mắt nhìn chị Ngân. Chị Ngân gật đầu và đặt một tờ giấy lên bàn.
“Đây là biên bản thỏa thuận chị Thảo và mẹ chị ấy đề xuất.” Chị nói. “Bà đọc kỹ rồi hãy quyết.”
Tôi đã tính toán suốt ba đêm. Phần vốn góp của ba tôi theo sổ cái. Phần lợi nhuận đáng lẽ ông được hưởng trong những năm xưởng còn hoạt động dưới tên Tâm Hùng. Khoản nợ ngân hàng mà ba tôi gánh oan, cộng lãi. Tôi lập thành một bảng chi tiết, từng dòng có chứng từ đi kèm.
Biên bản ghi: bà Hương nhận trách nhiệm về việc chuyển nhượng không có sự đồng ý của ông Tâm, hoàn trả cho bà Lan khoản tiền tương ứng bảng tính kèm theo, bằng cách bán cửa hàng ở phố. Chấm dứt sử dụng thương hiệu Tâm Hùng. Tờ cam kết một trăm triệu bị hủy ngay trước mặt luật sư.
Bà Hương đọc rất lâu. Khi đến dòng cuối, bà ngẩng lên nhìn mẹ tôi.
“Bà không đòi phần lãi?”
Mẹ tôi lắc đầu. Bà đã gạch phần lãi trong bảng tính của tôi từ tối hôm trước, trước khi tôi kịp phản đối.
“Tôi lấy phần của ông Tâm. Phần của bà thì bà giữ.” Mẹ nói. “Tôi không cần bà đổ thêm thứ gì. Tôi cần bà thừa nhận cái đã làm, và trả cái đã lấy.”
Bà Hương cầm bút. Tay run đến mức nét chữ nhòe ra. Bà ký tên bằng cái móc cuối chữ “g” kéo dài, đúng cái đuôi ngày xưa trong phiếu xuất kho. Rồi bà đặt bút xuống, nhìn tờ cam kết cũ trên bàn. Chị Ngân xé đôi nó, rồi xé tiếp, bỏ vào thùng rác nhỏ dưới chân bàn.
Bà Hương ngồi đó, trông già đi mười tuổi.
“Tôi xin lỗi.” Bà nói, rất khẽ, không nhìn ai cả. “Tôi không xin được tha thứ. Chỉ là phải nói.”
Mẹ tôi gật đầu, chậm rãi, như người vừa đặt xuống một cái gùi nặng đã mang suốt hai mươi năm.
“Ông Tâm không thể nghe được rồi.” Bà nói. “Nhưng nếu bà có lòng, thì chủ nhật nào rảnh, bà lên thắp cho ông ấy một nén hương.”
Cửa hàng ở phố bán xong sau ba tháng. Bà Hương dọn về thuê một căn phòng gần nhà chị Mai. Chị Mai vẫn đi làm, vẫn chăm sóc bà, nhưng nghe nói hai mẹ con mất rất lâu mới nói chuyện lại bình thường. Chú Quang nghỉ hưu, mỗi dịp giỗ ba vẫn mang hoa quả sang, nhưng chú không gọi mẹ tôi là chị Lan nữa. Chú gọi là “bà Lan”, và mẹ tôi để yên.
Khải bỏ hẳn việc ở công ty cũ. Anh xin vào làm phụ việc tại một xưởng rang nhỏ ở Gò Vấp, bắt đầu lại từ vị trí xúc hạt, đổ lò. Mỗi tối anh mang về nhà cuốn sổ rang của ba tôi, ngồi đối chiếu, thử từng mẻ nhỏ. Có hôm anh làm cháy cả mẻ, mặt tiu nghỉu như đứa trẻ. Mẹ tôi chỉ cười, bảo hồi xưa ba con cũng làm cháy cả mẻ đầu tiên.
Tôi không vội gật đầu. Một năm trời, tôi để Khải tự chứng minh anh sẵn sàng sống thế nào khi không còn cửa hàng, không còn tên đứng sau lưng. Anh không đòi hỏi gì. Cuối tuần nào anh cũng sang, sửa mái tôn, vá lại bồn hoa nứt, bê hàng cho tạp hóa của mẹ.
Đến mùa thu năm sau, đám cưới của chúng tôi diễn ra ngay trong căn nhà cấp bốn, trải bàn ren mượn của hàng xóm vẫn cái khăn năm nào. Chỉ mời đúng ba bàn. Chị Mai đến sớm nhất, mang theo một bó hoa cúc trắng cho ba tôi. Chú Quang đứng ở cuối sân, nhìn tôi cười, nụ cười lần đầu tiên không còn cúi đầu.
Hôm đó không có bà Hương. Tôi cũng không mong.
Nhưng cuối tháng ấy, một buổi chiều chủ nhật, cổng nhà tôi lại vang lên tiếng gõ.
Bà Hương đứng ngoài, mặc bộ đồ vải đơn giản, không áo dài, không dây chuyền vàng. Tay bà xách một túi cà phê nhỏ, bao bì trắng, không nhãn hiệu. Mẹ tôi ra mở cổng. Hai người đứng nhìn nhau một lúc.
“Tôi lên thắp hương cho ông Tâm.” Bà Hương nói. “Nếu bà cho phép.”
Mẹ tôi gật đầu, tránh sang bên.
Bà Hương thắp hương trước bàn thờ rất lâu. Khi quay ra, bà đặt túi cà phê lên bàn nước.
“Cái này không phải hàng đặt riêng, cũng không phải loại gì ghê gớm. Tôi tự mua hạt, nhờ người rang nhẹ. Tôi không biết nó có ngon không.”
Mẹ tôi nhìn túi cà phê. Rồi bà đi vào bếp, lấy ấm, phin và hai cái ly nhỏ ra. Bà pha cà phê như người đã pha cả đời, từng giọt rơi đều, mùi thơm dậy lên khắp căn nhà nhỏ.
Bà rót cho bà Hương một ly, rót cho mình một ly.
Bà Hương nhấp một ngụm. Tôi thấy vai bà khẽ run.
“Dở.” Bà nói, mắt đã ướt. “Hạt rang non, hơi chua.”
“Ừ.” Mẹ tôi mỉm cười, lần đầu tiên sau hai mươi mốt năm, nụ cười không còn nặng. “Hôm nào bà sang, tôi cho bà thử hạt thằng Khải rang. Nó đang học nghề của ông Tâm.”
Bà Hương cúi đầu, nước mắt rơi xuống miệng ly. Mẹ tôi không nói gì thêm. Bà chỉ rót thêm cho bà Hương nửa ly nữa, rồi hai người phụ nữ ngồi lặng lẽ bên nhau, uống hết ly cà phê dở ấy trong căn nhà cấp bốn, nơi hai mươi năm trước, ba tôi từng rang những mẻ hạt đầu tiên của đời ông.
-HẾT-
