MẸ CHỒNG H:ẤT NGUYÊN ĐĨA ĐÙI GÀ XUỐNG ĐẤT NGAY GIỮA BẢY M:ÂM CỖ TÔI NẤU CẢ ĐÊM. “ĐÚNG LÀ CON NHÀ NGHÈO, THẤY MIẾNG NGON LÀ QUÊN CẢ PHÉP TẮC!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

MẸ CHỒNG H:ẤT NGUYÊN ĐĨA ĐÙI GÀ XUỐNG ĐẤT NGAY GIỮA BẢY M:ÂM CỖ TÔI NẤU CẢ ĐÊM. “ĐÚNG LÀ CON NHÀ NGHÈO, THẤY MIẾNG NGON LÀ QUÊN CẢ PHÉP TẮC!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người

(Tiếp theo phần 1)

Tôi không đưa. Tay tôi siết chặt tờ giấy hẹn đến nhàu cả mép.

“Mẹ,” tôi nói, giọng khàn nhưng đủ nghe, “ba tháng trước mẹ bảo về quê ngoại nửa tháng. Mẹ ở đâu?”

Cả sân im bặt. Hai mươi bốn người ngồi nguyên chỗ, đũa còn cầm trên tay. Bà Tư nhìn quanh một vòng, rồi bất ngờ nắm lấy cổ tay tôi, kéo mạnh về phía bếp, giọng rít qua kẽ răng:

“Vào trong. Đừng làm mất mặt nhà này trước họ hàng.”

Tôi gỡ tay bà ra, không thô bạo nhưng dứt khoát:

“Mất mặt? Mới nãy mẹ gọi con là đồ ham ăn trước hai mươi bốn người, mẹ có sợ mất mặt không?”

Bà Tư đứng sững. Môi bà run lên, nhưng bà vẫn cố ngẩng đầu, giọng cứng như đá:

“Con đưa tờ giấy đây rồi muốn nói gì thì vào trong nói.”

Tôi nhìn sang cuối sân. Hiếu đã ngẩng lên, mặt tái nhợt, đang bước nhanh về phía chúng tôi. Anh gạt mấy cái ghế nhựa, suýt đụng vào mâm, vừa đi vừa nói:

“Lan, đưa anh. Vào bếp nói chuyện.”

“Anh viết dòng chữ này?” Tôi giơ tờ giấy lên cao, ngón tay chỉ vào dòng bút bi. “‘Lan nấu đủ bảy mâm là được rồi, đừng cho nó biết.’ Đừng cho ai biết cái gì? Và ‘nó’ là em?”

Hiếu mở miệng, định nói, nhưng ánh mắt anh lại liếc sang mẹ. Chỉ một cái liếc, thôi, nhưng tôi thấy rõ. Anh đang chờ bà ra hiệu.

Tám năm. Tám năm tôi chờ chồng đứng về phía mình, và lần nào anh cũng nhìn mẹ trước.

Tôi hít một hơi thật sâu, quay sang bà con đang ngồi dưới sân, cất giọng:

“Thưa các bác, các chú, các cô. Hôm nay giỗ bố chồng cháu, cháu đã nấu bảy mâm cho mọi người. Cháu xin phép mọi người ngồi yên ăn cơm, cho cháu vào trong năm phút với mẹ và chồng cháu. Có chuyện cần nói rõ.”

Không ai phản đối. Bà thím bên chồng cúi xuống nhặt miếng giò, ông chú hắng giọng làm như đang bận nhai. Tôi dắt bé Gạo từ chỗ bố nó về phía nhà. Thằng bé bám tay tôi, thì thầm:

“Mẹ ơi, bà nội có bị đau không?”

Câu hỏi của đứa trẻ sáu tuổi làm tôi nghẹn lại. Tôi vuốt tóc con:

“Con ra ngồi với bà ngoại con nhé.” Mẹ ruột tôi ở quê ra từ hôm qua phụ nấu, đang ngồi ở gian bên. Tôi gửi con cho bà, rồi quay vào bếp.

Bếp sau của nhà chồng tôi nhỏ, nồng mùi dầu mỡ và khói. Tôi đặt tờ giấy xuống mặt bàn inox, vuốt phẳng. Bà Tư đứng dựa vào tủ, hai tay ôm lấy cánh tay mình như đang lạnh. Hiếu đứng ở cửa, tay chống vào khung, không dám bước vào hẳn.

“Giờ nói đi,” tôi bảo. “Mẹ bị ung thư?”

Hai chữ ấy vừa ra khỏi miệng, bà Tư nhắm mắt lại. Hiếu thở hắt ra như bị ai đ:ấm vào bụng.

“Là ung thư vú,” bà nói rất nhỏ. “Giai đoạn hai. Mẹ mổ ở Chợ Rẫy hôm mùng năm tháng bảy. Bác sĩ cắt hết một bên. Giờ mẹ đang uống th:uốc.”

Tôi đứng im. Bao nhiêu câu hỏi chen nhau trong đầu mà không câu nào ra được.

“Sao mẹ không nói với con?”

“Nói để làm gì?” Giọng bà bỗng gắt lên, rồi lại chùng xuống ngay. “Để con nhìn mẹ bằng ánh mắt thương hại à? Mẹ không cần ai thương hại. Mẹ sống một mình hai chục năm, mẹ tự lo được.”

“Mẹ ở nhà con tám năm, mẹ không sống một mình.”

“Con biết mẹ muốn nói gì mà,” bà bật cười khô khốc. “Con là con dâu. Con không phải con gái mẹ.”

Câu nói đâm vào ngực tôi đau hơn tất cả những lời mỉa mai ban nãy. Tôi nhìn bà, rồi nhìn Hiếu. Anh vẫn cúi gằm.

“Anh biết hết?”

“Anh biết,” anh khẽ đáp. “Mẹ bảo anh đừng nói với em.”

“Và anh nghe?”

“Mẹ bảo em đang bận con nhỏ, bận đi làm, lại phải lo giỗ…”

“Anh viết ‘Lan nấu đủ bảy mâm là được rồi’. Nghĩa là anh biết mẹ ốm nặng, mà vẫn để em thức hai đêm liền nấu bảy mâm cỗ một mình, vẫn đứng nhìn mẹ nói em là đồ ham ăn?”

Hiếu không trả lời được. Tôi quay sang bà Tư, giọng nhẹ đi, nhưng từng chữ vẫn rõ:

“Mẹ à, con có thể hiểu nếu mẹ giấu bệnh. Nhưng con không hiểu vì sao mẹ phải làm nhục con trước họ hàng. Một cái đùi gà thì có gì phải hất xuống đất?”

Bà Tư quay mặt đi. Ánh mắt bà lại hướng về phía bàn thờ ngoài gian chính, giống như khoảnh khắc ban nãy tôi đã thấy. Bà nói, rất khẽ, như nói với ai khác:

“Không phải vì cái đùi gà.”

“Vậy vì cái gì?”

Bà im lặng. Tôi chờ. Bên ngoài sân vẫn nghe tiếng bát đũa lách cách, tiếng ai đó cười gượng. Trong bếp, chỉ có tiếng nước sôi trong nồi canh măng, ùng ục.

Cuối cùng, bà bước đến, kéo cái ngăn tủ dưới cùng, lôi ra một cái hộp sắt cũ, loại hộp bánh quy ngày xưa. Bà đặt hộp lên bàn, mở nắp. Bên trong là một xấp giấy ố vàng, vài tấm ảnh đen trắng, và một cuốn sổ nhỏ bọc nilon.

“Con xem đi,” bà nói. “Đây là lý do mẹ sợ cái đùi gà.”

Tôi nhặt cuốn sổ lên. Mở trang đầu. Nét chữ đàn ông, nghiêng, cứng cáp. Chữ bố chồng tôi.

Ngày 14/3. Hôm nay bà Tư đãi khách nhà quê ra thăm, làm gà luộc. Mình ngồi ăn đùi gà, bà ấy nhường. Cả đời ăn cánh, ăn cổ, nhường chồng, nhường con. Mình ăn mà nghẹn. Hứa với mình, năm sau nhất định sẽ gắp cho bà ấy một cái đùi.

Tôi lật tiếp. Trang sau, trang sau nữa. Cuốn sổ ghi những dòng ngắn, mỗi dòng một ngày, dòng nào cũng nhắc đến bà Tư. Bà ốm, ông nấu cháo. Bà thức khuya khâu áo cho Hiếu, ông ngồi cạnh nhìn. Có những dòng ông viết như viết cho chính mình: Mình có lỗi với bà ấy. Cả đời bà ấy chỉ ăn phần thừa.

Trang cuối cùng, ngày ghi cách đây mười năm, đúng tuần ông mất:

Nếu mình đi trước, mong Tư đừng giữ cái nếp này nữa. Mong Tư để cho con dâu được ăn một cái đùi gà nguyên vẹn. Đừng để nó như mình sống với bà.

Tay tôi bắt đầu run. Tôi ngẩng lên:

“Mẹ… mẹ biết ông muốn thế?”

Bà Tư bật cười, nước mắt đã lăn xuống từ lúc nào. Bà ngồi sụp xuống cái ghế đẩu, ôm mặt:

“Mẹ đọc cuốn sổ này ngay hôm chôn ông. Mẹ biết ông muốn mẹ thay đổi. Nhưng mẹ không làm được. Mẹ lớn lên với cái nếp đó. Mẹ sống với mẹ chồng mẹ, bà cũng bắt mẹ ăn phần thừa. Mẹ nghĩ làm dâu là phải thế. Rồi mười năm trôi qua, mẹ nhìn con ăn cánh, ăn cổ, mẹ biết là sai, mẹ… mẹ không biết sửa như thế nào, không biết mở lời ra sao.”

Tôi nhìn bà. Một người phụ nữ sáu mươi tuổi, mới mổ, mới mất một bên ngực, ngồi co ro trong cái bếp chật hẹp, giữa bảy mâm cỗ giỗ chồng.

“Vậy sao hôm nay mẹ hất đĩa gà?”

“Vì mẹ sợ,” bà nói, giọng vỡ ra. “Hôm qua mẹ nhặt được trong túi con cái đĩa nhỏ có một cái đùi gà con giấu riêng. Mẹ biết con định ăn thử, vì con thức hai đêm liền chẳng kịp ăn gì. Mẹ nhìn mà đau, nhưng nghĩ lại… hôm nay đông họ hàng, nếu để họ thấy con ăn riêng, họ sẽ nói con. Mẹ muốn che cho con, mà mẹ vụng, mẹ nói ra thành…”

Bà nghẹn lại, không nói tiếp được.

Tôi chết lặng. Tôi chưa hề giấu đùi gà nào trong túi. Tôi chưa hề có ý ăn riêng.

“Mẹ,” tôi nói chậm rãi, “con không giấu cái đùi gà nào cả.”

Bà Tư ngẩng đầu, mắt đỏ hoe:

“Mẹ… mẹ tận mắt thấy…”

“Mẹ thấy ở đâu?”

“Trong tạp dề của con, hôm qua, lúc con đứng rán nem. Mẹ thấy có cái gì tròn tròn, bọc giấy bạc, thò ra khỏi túi.”

Tôi cúi xuống, nhìn cái tạp dề đang mặc. Túi áo bên phải vẫn phồng lên. Tôi thò tay vào, lôi ra một gói nhỏ bọc giấy bạc. Tôi mở ra. Không phải thịt gà.

Là một cái vòng bạc nhỏ, loại vòng tay trẻ con, khắc hai chữ cái G.H.

Tôi sững người. Hiếu cũng sững người. Chiếc vòng này không phải của tôi. Bé Gạo chưa bao giờ đeo vòng bạc. Tôi cầm lên, lật xem mặt trong, thấy hàng chữ nhỏ khắc tinh xảo: Gửi Gạo, con trai của ba. Hiếu.

“Cái này…” Hiếu lùi một bước, mặt trắng bệch. “Không phải anh tặng. Anh chưa từng đặt khắc cái vòng này.”

“Chữ ‘Hiếu’ khắc ở đây, nét chữ này…” Bà Tư đứng bật dậy, nhìn chằm chằm vào chiếc vòng. Giọng bà thay đổi hẳn, nhỏ mà lạnh như dao. “Nét chữ này không phải của con trai tôi. Ai bỏ cái này vào túi áo của con dâu tôi?”

Cả ba chúng tôi nhìn nhau. Tôi nhìn xuống bàn tay mình, rồi nhìn lại cái tạp dề. Hôm qua, trước khi nấu, tôi để tạp dề treo ở cửa bếp cả buổi chiều. Rất nhiều người ra vào.

Rồi tôi sực nhớ. Tờ giấy hẹn bệnh viện rơi từ túi áo bà Tư, kèm dòng chữ “Lan nấu đủ bảy mâm là được rồi, đừng cho nó biết. – Hiếu.” Nhưng Hiếu vừa nói, anh biết mẹ bệnh, và anh viết cho mẹ. Vậy tại sao dòng chữ nằm trên chính tờ hẹn của bà?

Tôi cầm tờ giấy lên, soi dưới ánh đèn. Mực bút bi ở dòng chữ ấy mới hơn hẳn phần mực in của giấy hẹn. Và nét chữ… Tôi nhìn kỹ. Chữ “H” trong Hiếu viết cong ở đầu, không giống cái cách chồng tôi vẫn ký tên trên mọi giấy tờ suốt tám năm qua.

“Anh Hiếu,” tôi nói rất chậm, “anh nhìn kỹ. Đây có đúng chữ anh không?”

Hiếu cầm tờ giấy, mắt lướt qua từng nét. Anh lắc đầu rất chậm:

“Không… không phải chữ anh. Anh chưa bao giờ viết câu này.”

“Vậy ai viết?”

Không ai trả lời. Bà Tư quay đầu về phía cửa bếp. Chúng tôi đều quay theo. Ở ngưỡng cửa, một bóng người đứng đó từ lúc nào không rõ, hai tay nắm chặt vạt áo, mặt trắng bệch như người vừa bị bắt quả tang.

Là Hạnh, em gái ruột của Hiếu, đứa em chồng ba mươi tuổi vừa từ Sài Gòn về hôm qua, đứa mà cả nhà vẫn bảo là ngoan, là con gái cưng của bà Tư.

“Chị… chị Lan,” cô ta lắp bắp. “Em… em không có ý gì. Em chỉ muốn…”

“Muốn gì?” tôi hỏi.

Hạnh liếc nhìn mẹ, rồi nhìn anh. Môi cô ta mấp máy. Rồi, như người vừa bị dồn đến chân tường, cô ta nói một câu mà cả bếp lặng đi:

“Em muốn chị bỏ đi, để anh Hiếu ly hôn chị, nhận lại căn nhà này đứng tên em.”

Bà Tư khuỵu xuống chiếc ghế đẩu. Hiếu há hốc miệng. Còn tôi, tôi nhìn Hạnh thật lâu, rồi nhìn sang chiếc vòng bạc trong tay mình. Vòng khắc tên con trai tôi, nhưng không phải do chồng tôi đặt.

Vậy ai đặt khắc chiếc vòng này? Và vì sao lại là tên Gạo?

Tôi chưa kịp hỏi, thì từ ngoài sân vọng vào tiếng chân người rất nhanh, rồi giọng mẹ ruột tôi, nghẹn ngào, run lên bần bật:

“Lan ơi, con ra đây ngay! Thằng Gạo… thằng Gạo vừa nói với mẹ một câu… mẹ nghe mà lạnh cả người!”

Tôi chạy ra sân, chân suýt vấp bậc thềm. Mẹ ruột tôi đứng dưới gốc mít, một tay ôm chặt bé Gạo, tay kia run run chỉ về phía mâm cỗ cuối cùng. Thằng bé mặt đỏ gay vì khóc, nhưng đôi mắt lại mở to, nhìn thẳng vào tôi.

“Mẹ ơi,” nó nói, giọng đứt quãng, “cô Hạnh bảo con cầm cái vòng này cho mẹ. Cô bảo là quà bí mật của ba, đặt vào túi tạp dề mẹ, mẹ sẽ vui. Nhưng cô dặn con đừng nói với bà nội.”

Cả sân im phăng phắc. Hai mươi bốn người họ hàng, từ bà thím đến ông chú, đều quay đầu về phía cửa bếp, nơi Hạnh vừa đi theo sau tôi, mặt cắt không còn giọt máu.

“Con nói dối!” Hạnh gào lên. “Thằng bé nói bậy! Chị Lan dạy nó nói thế!”

Tôi quỳ xuống, nhìn thẳng vào mắt con:

“Gạo, con nhìn mẹ. Cô Hạnh đưa vòng cho con lúc nào?”

“Hôm qua, lúc mẹ đang rán nem. Cô bảo con vào buồng cô lấy. Cô đưa con cái vòng, bảo con bỏ vào túi tạp dề lúc mẹ không để ý. Cô cho con cái kẹo.”

Mẹ ruột tôi nghẹn ngào, kéo tay áo:

“Lúc nãy mẹ đứng gần, nghe thằng bé thì thầm với bà nội. Bà Tư nghe rồi cứ thế đứng đờ ra.”

Tôi quay sang. Bà Tư đã đứng ở thềm bếp từ lúc nào, hai tay bám vào khung cửa. Bà không nhìn tôi. Bà nhìn con gái bà.

“Hạnh,” bà nói, rất chậm, “con nói lại cho mẹ nghe. Cái đùi gà trong túi tạp dề, mẹ thấy hôm qua, là con để vào đấy?”

Hạnh lùi một bước. Không còn giọng gào, cô ta chỉ lắc đầu liên tục, mắt đảo quanh tìm lối thoát. Nhưng bà con đã đứng dậy, vây quanh thành một vòng bán nguyệt. Không ai nói gì.

Hiếu bước tới, giọng khản đặc:

“Hạnh, anh hỏi em một lần. Em đã làm gì?”

Cô ta ngồi sụp xuống nền gạch. Mãi lâu sau mới nói được, giọng lạc đi từng chữ:

“Em… em ở Sài Gòn bốn năm. Em làm ăn thua lỗ, nợ ba trăm triệu. Em không dám nói với mẹ. Em nghĩ… em nghĩ nếu anh ly hôn chị Lan, căn nhà này đứng tên em, em bán đi trả nợ. Mẹ bệnh, anh bận công trình, chị Lan chỉ là con dâu. Em nghĩ cả nhà sẽ nghe em.”

“Em tính làm thế nào?” tôi hỏi.

“Em định hôm nay, giữa đông họ hàng, em làm cho chị mất mặt, làm cho mẹ nghĩ chị lén ăn đồ cúng, tham lam, rồi em sẽ nói với mẹ anh Hiếu vẫn còn tình cảm với người khác… để anh Hiếu thấy chị Lan không đáng ở lại…” Cô ta nấc lên. “Em viết dòng chữ đó vào tờ giấy hẹn của mẹ. Em lén lấy tờ giấy từ túi áo mẹ hôm qua, viết thêm, bỏ lại vào. Em muốn lúc mẹ giận quá, mẹ hất tờ giấy ra, mọi người sẽ nghĩ anh Hiếu và mẹ cùng giấu chị Lan chuyện gì đó…”

Bà Tư lảo đảo. Tôi vội đỡ lấy bà. Bà ôm ngực, mặt trắng bệch.

“Con nói lại,” bà thì thào. “Con định… con định hại chị dâu con bằng cách đó?”

“Mẹ… con chỉ muốn…”

“Chỉ muốn cái nhà.” Bà nhắm mắt lại. “Chỉ muốn cái nhà mà bố con chết để lại, đứng tên mẹ.”

Hiếu quay sang mẹ:

“Mẹ, giấy tờ nhà…”

“Nhà đứng tên mẹ,” bà mở mắt, giọng bỗng cứng lại như mười năm trước. “Bố con ghi rõ trong di chúc, sau khi mẹ mất thì nhà thuộc về con và Lan, tên Lan đứng ngang tên con. Ông ấy sợ sau này con dâu bị đuổi.”

Tôi sững người. Hiếu cũng sững người.

“Cuốn sổ trong hộp sắt,” bà nói, đưa tay chỉ về phía bếp. “Dưới đáy hộp còn một phong bì. Mẹ chưa đưa con xem.”

Tôi chạy vào bếp. Lục dưới đáy hộp bánh quy, thật sự có một chiếc phong bì cũ, dán kín. Tôi mang ra sân, đưa cho Hiếu. Anh xé mép, rút ra một bản di chúc viết tay, có chữ ký ông Hoàng, xác nhận của trưởng thôn thời đó.

Căn nhà này sau khi vợ tôi trăm tuổi sẽ thuộc về con trai tôi là Hiếu và con dâu tôi là Lan, cùng đứng tên. Con gái Hạnh không có phần, vì tôi đã cho nó phần hồi môn từ trước khi nó đi Sài Gòn.

Không ai nói gì. Hạnh bò dậy, lao tới giật tờ giấy:

“Giả! Giấy này là giả! Ba tôi không bao giờ…”

“Ba con viết,” bà Tư ngăn lại, giọng rất khẽ. “Mẹ đứng bên cạnh lúc ông viết. Ông muốn mẹ giữ kín, vì sợ nếu con biết thì con sẽ… làm đúng như hôm nay.”

Hạnh khuỵu xuống, bật khóc nức nở. Tôi đứng nhìn cô ta, không biết mình nên thương hay nên giận. Có lẽ cả hai.

Hiếu đứng lặng một lúc lâu. Rồi anh quay sang tôi, rất chậm, từng bước một:

“Lan, anh có lỗi.”

Tôi không nói. Anh tiếp tục, giọng không còn cứng nữa:

“Anh biết mẹ bệnh. Anh biết mẹ giấu em. Anh sai ở chỗ anh nghe lời mẹ. Anh sai ở chỗ tám năm qua, mỗi lần mẹ làm khó em, anh đều cúi đầu, tự nhủ nhịn đi cho yên nhà. Anh không biết cái ‘yên’ đó là em phải chịu thay anh.”

“Anh đứng nhìn mẹ gọi em là đồ ham ăn trước họ hàng.”

“Anh đứng nhìn,” anh nhắc lại, như tự đóng đinh vào mình. “Anh xin lỗi em. Anh không xin em tha thứ ngay. Anh chỉ xin em cho anh cơ hội.”

Tôi nhìn anh. Không có chồng tôi nào lần này liếc sang mẹ. Anh đang nhìn thẳng vào mắt tôi.

Rồi tôi quay sang bà Tư. Bà đứng đó, co ro, một bên vai xẹp xuống rõ rệt sau lớp áo bà ba. Mười năm nay tôi chưa từng thấy bà nhỏ bé đến vậy.

Bà mở miệng, muốn nói gì đó, nhưng tôi đã bước tới trước.

“Mẹ,” tôi nói, “con không giận mẹ chuyện bệnh. Con giận mẹ mười năm ăn phần thừa mà mẹ cũng bắt con ăn phần thừa. Nhưng con hiểu rồi. Mẹ không ác. Mẹ chỉ sống mãi trong cái nếp mẹ chồng mẹ để lại, và chưa ai dạy mẹ cách thoát ra.”

Bà Tư run lên, không chịu nổi nữa, bà ngã vào vai tôi, khóc nức nở như một đứa trẻ:

“Mẹ xin lỗi con… Mẹ xin lỗi…”

Tôi ôm lấy bà. Cái bờ vai gầy yếu run bần bật trong tay tôi. Phía sau, ông chú, bà thím, họ hàng hai bên, ai nấy đều lặng lẽ quay đi, không ai dám nhìn thẳng.

Sau một lúc, tôi buông bà ra, nhìn quanh sân. Bảy mâm cỗ đã nguội, canh măng đã đông lại thành lớp mỡ trắng. Tôi nói to, để mọi người cùng nghe:

“Thưa các bác, các chú, các cô. Hôm nay giỗ bố chồng cháu. Cháu xin lỗi mọi người vì chuyện không hay xảy ra. Cháu xin mọi người ở lại dùng cơm. Cháu hâm lại món cho nóng.”

Mẹ ruột tôi chạy vào bếp, bà thím đứng dậy phụ theo, rồi từng người một xắn tay áo vào giúp. Chưa đầy mười phút, bảy mâm cỗ lại bốc khói. Tôi bưng ra đĩa gà luộc, vàng ươm, còn nguyên hai cái đùi. Tôi đặt xuống mâm chính, nơi bà Tư đang ngồi.

Bà nhìn đĩa gà. Rồi bà làm một việc mà tám năm tôi chưa từng thấy. Bà cầm đũa, gắp một cái đùi gà, đặt vào bát tôi:

“Ăn đi con. Của con. Ông ấy dặn mẹ mười năm rồi, mẹ làm chậm quá.”

Tôi cầm đũa, tay run run. Miếng gà nóng, thơm, mềm. Nhưng thứ làm tôi nghẹn không phải là miếng gà. Là ánh mắt bà Tư lúc gắp, vừa sợ, vừa mong, vừa như thở ra sau mười năm nín thở.

“Con cảm ơn mẹ.”

Bé Gạo ngồi bên cạnh, đưa bàn tay nhỏ xíu kéo kéo vạt áo tôi:

“Mẹ ơi, đùi gà ngon không? Bà nội gắp cho mẹ rồi, mai mẹ cũng gắp cho bà nội nhé.”

Cả mâm cười ầm lên. Bà Tư cũng cười, vừa cười vừa lau nước mắt.

Hạnh bị đưa vào trong buồng. Chiều hôm đó, Hiếu ngồi nói chuyện với em gái rất lâu. Anh không to tiếng. Anh chỉ hỏi từng câu, nghe từng câu, ghi lại từng khoản nợ. Sau cùng, anh quyết định: anh sẽ đứng ra vay ngân hàng giúp em trả khoản nợ gốc, nhưng Hạnh phải ở lại quê, đi làm thuê, mỗi tháng trả anh một phần, và không được tự ý quyết bất kỳ giấy tờ nào liên quan đến căn nhà. Một năm đầu, Hạnh phải về ở chung để bà Tư và Hiếu theo dõi.

Hạnh gật đầu, mắt đỏ hoe:

“Em xin lỗi chị Lan. Em… em không xứng được chị tha thứ.”

“Chị không tha thứ ngay,” tôi đáp thẳng. “Chị nói trước cho em hiểu. Nhưng chị sẽ nhìn em làm lại. Nếu em làm được, chị sẽ là người đầu tiên nói với mẹ rằng em đã thay đổi.”

Cô ta cúi đầu, vai rung lên, không nói được gì nữa.

Sau hôm đó, nhà chồng tôi thay đổi theo từng chút một. Hiếu xin công ty chuyển sang bộ phận bảo trì tại thành phố, đi sớm về sớm, không còn lênh đênh công trình xa. Bà Tư uống thuốc đúng giờ, đi tái khám đều đặn, lần nào cũng có tôi đi cùng. Lần đầu bước vào phòng khám, bà cứ nắm chặt tay tôi, không nói gì, đến lúc bác sĩ báo kết quả ổn định thì mới thở ra một hơi dài. Bà quay sang tôi, thì thầm:

“Con dâu à. Mẹ… mẹ cảm ơn con.”

Tôi chưa nghe bà gọi tôi hai chữ ấy bao giờ. Không phải “con Lan”, không phải “cô”, mà là “con dâu”, với giọng như gọi con gái.

Mâm cơm nhà tôi từ hôm ấy khác hẳn. Bà Tư giờ giành phần gắp thức ăn. Bà gắp đùi gà cho tôi, gắp cánh cho Hiếu, gắp phần còn lại cho mình, và mỗi lần như thế bà lại liếc về phía bàn thờ, như nói với người đã khuất: “Ông thấy chưa? Tôi làm rồi.”

Còn tôi, tôi giữ lại cuốn sổ nhỏ bọc nilon của bố chồng. Tối nào dọn dẹp xong, tôi cũng mở ra đọc một trang. Những dòng chữ cứng cáp, nghiêng nghiêng, như thể ông vẫn ngồi đâu đó trong căn nhà này, nhìn mâm cơm của chúng tôi và lặng lẽ mỉm cười.

Một đêm tháng chạp, tôi ngồi một mình ngoài hiên, cuốn sổ trong lòng. Bà Tư bước ra, ngồi xuống cạnh. Hai mẹ con không nói gì, chỉ nhìn bầu trời đen thẳm.

Rất lâu sau, bà hỏi, giọng nhẹ như gió:

“Lan, nếu ngày đó mẹ nói thật với con ngay từ đầu, con có tha thứ cho mẹ dễ hơn không?”

Tôi nghĩ một lúc, rồi đáp:

“Con nghĩ là có, mẹ ạ. Nhưng quan trọng hơn là hôm nay mẹ đã nói rồi.”

Bà gật đầu. Bà đưa tay lên, vuốt tóc tôi, một cử chỉ mà tám năm làm dâu tôi chưa từng được nhận.

Từ trong nhà, tiếng bé Gạo bi bô gọi:

“Bà nội ơi, mẹ ơi, vào ăn chè nè! Con để dành cho bà nội phần nhiều nhất!”

Bà Tư bật cười, đứng dậy, nắm lấy tay tôi:

“Đi con. Vào ăn chè với cháu.”

Tôi theo bà bước vào nhà. Đèn bếp sáng ấm. Trên bàn, bốn cái bát đặt ngay ngắn, một cái muỗng lớn, và đĩa chè đậu xanh còn bốc hơi. Không ai ngồi ở góc bếp. Không ai ăn phần thừa.

–HẾT–