MẸ CHỒNG B:ẮT TÔI RÓT NƯỚC HẦU HẠ EM D:ÂU TRONG NGÀY G:IỖ BỐ CHỒNG, CHỈ THẲNG M:ẶT TÔI TRƯỚC HỌ HÀNG: “C:ON G:ÁI NHÀ NGHÈO NHƯ CÔ, ĐƯỢC BƯỚC CHÂN VÀO NHÀ NÀY LÀ PHÚC BA ĐỜI, ĐỪNG MƠ NGỒI CHUNG M:ÂM!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Cả sân im đến mức tôi nghe rõ tiếng quạt trần quay ọp ẹp dưới mái hiên. Bàn tay bà Hạnh vẫn còn lơ lửng giữa không trung, như thể bà quên mất mình định làm gì.
Người đàn ông lạ đặt cặp tài liệu lên chiếc bàn gần nhất, rút ra một tấm danh thiếp, hai tay đưa về phía bà.
“Tôi là Phạm Quang Minh, luật sư bên văn phòng công chứng. Ông Thành lập di chúc cách đây ba năm, có công chứng đầy đủ. Ông dặn rất rõ: chỉ được mở vào đúng ngày giỗ ba năm, trước mặt bà Hạnh và chị Thảo.”
Bà Hạnh gạt tay, tấm danh thiếp rơi xuống nền gạch, ngay cạnh mảnh bát vỡ của tôi.
“Di chúc gì? Chồng tôi có cái gì mà phải để lại di chúc? Ông là ai mà dám vào nhà tôi gây chuyện giữa ngày giỗ?”
“Chính ông Thành chọn ngày này, thưa bà,” luật sư vẫn bình thản. “Nếu bà muốn, tôi xin đọc số công chứng và tên hai người làm chứng ngay tại đây.”
Thằng Dũng chồm dậy, mặt cuống quýt. “Mẹ, thôi để hôm khác đi. Họ hàng đang đông đủ, người ngoài vào đọc đọc viết viết thế này mất mặt lắm.”
“Mất mặt cái gì,” dì Hoa bên nội lên tiếng. “Giấy tờ của anh Thành, cứ để người ta đọc. Chị sợ cái gì?”
Tôi thấy mắt bà Hạnh chớp liên tục. Bà sợ. Lần đầu tiên trong bảy năm làm dâu, tôi thấy bà sợ. Nhưng chưa đầy một giây, nỗi sợ ấy đã bị cơn giận nuốt chửng.
“Đọc thì đọc! Nhưng con nhỏ này đứng đây chẳng có tư cách gì hết! Nó là dâu, ông ấy có để lại gì thì cũng là của con trai tôi!”
Tôi bước lên một bước. Chân tôi mỏi rã từ sáng, vậy mà giọng nói lại vững đến lạ.
“Thưa luật sư, xin ông cho con năm phút trước khi đọc. Mẹ vừa nói con không mang về được gì cho cái nhà này. Con muốn cả nhà nghe một thứ trước đã.”
“Cô lại định bày trò gì?” bà Hạnh gằn giọng.
Tôi không trả lời. Tôi rút điện thoại khỏi túi tạp dề, đặt lên chiếc bàn ngổn ngang bát đĩa.
Sáng nay, lúc sáu giờ, tôi đang đứng ở bếp gọt củ kiệu thì bà Hạnh gọi cho Dũng. Bà bật loa ngoài như mọi lần. Bà chưa bao giờ nghĩ cần giữ kẽ với tôi. Từ tối hôm qua, thấy bà cười tủm tỉm một mình, tôi đã có linh cảm không lành nên bật ghi âm. Tôi không tính toán gì lớn. Chỉ là sau bảy năm, tôi muốn có một thứ để khi bị nói oan thì còn có cái mà nói lại.
Tôi bấm nút.
“Dũng đấy à? Mày đi đến đâu rồi? Nhớ cái hộp quà tao dặn chưa? Phải thật to, bọc giấy kim tuyến vào cho họ hàng nhìn thấy.”
“Dạ mẹ, nhưng con hết tiền rồi, hộp to thì…”
“Hết tiền thì độn giấy báo vào! Ai rảnh mà mở ra xem? Còn phong bì, hôm qua tao đưa mày hai chục triệu, mày nhét vào cho dày, lúc vào nhà thì trao tận tay tao trước mặt thiên hạ. Tao phải cho con Thảo nó biết thế nào là con dâu hiếu thảo. Loại con gái nhà nghèo, cho ngồi nhà bếp là phúc ba đời rồi.”
“Rồi mẹ. Mà chuyện mẹ hứa với con hôm trước…”
“Im đi! Chiều nay tao tính. Đừng nói ở đây.”
Tệp ghi âm dừng lại.
Không ai nói gì. Ở mâm xa, có ai đó đặt chén xuống, tiếng sứ chạm mặt bàn nghe rõ mồn một. Mấy ông chú bên ngoại nhìn nhau. Có người lắc đầu.
“Chị Hạnh…” dì Hoa nói chậm từng chữ. “Chị bày ra cái trò gì thế này?”
Mặt bà Hạnh từ đỏ chuyển sang xám ngắt. “Cô… cô dám ghi âm tôi?”
“Con ghi để có bằng chứng, mẹ ạ,” tôi nói. “Để một lần thôi, anh Hưng chịu nghe thay vì bảo con nghĩ nhiều.”
Tôi không nhìn chồng. Nếu nhìn, tôi sợ mình sẽ mềm lòng. Tôi quay sang Vy.
“Em Vy, em mở hộp quà ra cho cả nhà xem đi. Cả cái phong bì nữa.”
Vy ôm chặt túi xách vào ngực. “Chị đừng có vu khống em! Em có lòng mang quà về…”
“Em không mở thì để dì Hoa mở.”
Dì Hoa không đợi ai đồng ý. Bà lấy kéo cắt dải ruy băng, lật nắp hộp. Lớp giấy kim tuyến bung ra. Bên trong chỉ có những cuộn báo cũ vo tròn và một chai dầu ăn đã cạn nửa.
Một ông chú bên ngoại sặc nước. Có tiếng xì xào lan ra như lửa trên rơm.
“Phong bì,” tôi nhắc.
Vy không nhúc nhích. Dì Hoa đưa tay, và lần này Dũng cũng không ngăn được. Chiếc phong bì bị rút ra từ đáy túi, mỏng dính. Dì Hoa mở miệng phong bì, rút ra đúng hai tờ năm trăm nghìn.
Bà Hạnh giật phắt lấy. Bà nhìn hai tờ giấy bạc rồi nhìn Vy, giọng run lên.
“Hai chục triệu của tao đâu?”
“Mẹ… con… tiền con để trong túi, con tính…”
“Mẹ, tiền đó con đem trả nợ trước, chiều con đưa lại mẹ,” Dũng chen vào, mắt láo liên.
“Trả nợ?” Bà Hạnh gần như hét. “Mày nợ ai? Nợ bao nhiêu? Tao thương chúng mày, chúng mày ph:ản bội tao thế này à?”
Dũng quay mặt đi. Vy kéo túi xách sát vào người, môi mím chặt.
Tôi đứng đó, thấy lòng mình lạ lắm. Tôi không hả hê. Tôi chỉ thấy mệt. Bảy năm nay tôi nhịn vì nghĩ nhịn thì nhà yên. Hóa ra nhà không yên không phải vì tôi nhịn ít, mà vì có người cần tôi nhịn thật nhiều để vở kịch của họ được diễn tiếp.
“Bây giờ,” luật sư Minh khẽ hắng giọng, “tôi xin phép được đọc di chúc.”
Bà Hạnh ngồi sụp xuống ghế. Lần này không ai cản.
Ông Minh mở tập hồ sơ, đeo kính. Ông đọc từng chữ, chậm rãi.
“Tôi, Trần Văn Thành, trong lúc hoàn toàn minh mẫn, lập di chúc này. Tài sản riêng của tôi gồm: khoản tiền tiết kiệm một tỷ tám trăm triệu đồng, là tiền bán lô đất ông bà để lại ở quê, tôi cất kín không nói với ai; và phần quyền sử dụng của tôi trong căn nhà đang ở. Toàn bộ số tài sản này, tôi để lại cho con dâu tôi là Nguyễn Thị Thảo.”
Một tiếng “hả” vang lên từ phía mâm họ hàng. Tôi nghe tim mình đập thình thịch trong tai.
“Ông ấy ch:ết rồi còn bày trò!” Bà Hạnh vỗ mạnh xuống bàn. “Cô ta có qu:an hệ gì mà ông ấy để lại cho cô ta? Chắc chắn là nó dụ dỗ ông ấy lúc ốm đau lú lẫn! Nó dỗ ngọt người già!”
“Di chúc lập khi ông Thành còn hoàn toàn minh mẫn,” luật sư bình tĩnh đáp. “Có xác nhận của bác sĩ điều trị, có hai người làm chứng, và có cả bản ghi hình. Bà có quyền khởi kiện nếu muốn, nhưng tôi khuyên bà nghe hết đã.”
Ông mở laptop, xoay màn hình về phía mọi người.
Tôi nhìn thấy bố chồng, và cổ họng tôi nghẹn lại. Ông gầy rộc, nhưng đôi mắt vẫn sáng. Ông ngồi trên chiếc giường bệnh viện, tựa vào gối, lưng thẳng. Tôi nhớ rất rõ ngày ấy. Đó là một tuần trước đêm cuối cùng của ông.
“Bà Hạnh,” giọng ông khàn nhưng rõ từng chữ. “Nếu bà đang xem cái này, nghĩa là bà đã làm đúng điều tôi lo. Tôi sống với bà ba mươi năm, tôi hiểu bà. Bà thương thằng Dũng hơn thương lẽ phải. Tôi không trách, nhưng tôi không để cái nhà này thành chỗ chà đạp một đứa trẻ đã nuôi tôi lúc ốm.”
Bà Hạnh ngồi cứng đờ.
“Một năm rưỡi tôi nằm một chỗ. Người thức đêm trở mình cho tôi, bón từng thìa cháo, thay từng cái áo là Thảo. Vợ tôi bận lo cho thằng út, thằng cả bận kiếm tiền. Tôi không trách ai, nhưng tôi nợ con bé. Đồng tiền này không phải để trả công, vì công ấy không trả được. Nó là để con bé có chỗ dựa nếu một ngày cái nhà này không còn chỗ cho nó.”
Ông ho một tiếng, uống ngụm nước rồi nói tiếp.
“Dũng. Bố đã cho con năm trăm triệu để mở xưởng. Đó là phần của con. Bố biết con đã tiêu hết. Đừng đòi gì thêm.”
Dũng cúi đầu. Vy nhìn xuống bàn tay mình.
“Hưng. Con là con trai cả. Bố nhìn con im lặng suốt bao năm, bố đau lắm. Bố chỉ nhắn con một câu thôi: làm chồng không phải là đứng nhìn vợ chịu thiệt.”
Đoạn video kết thúc.
Tôi đứng im. Tôi nhớ đêm cuối ở bệnh viện, khi tôi vừa lau tay cho ông xong thì ông nắm lấy tay tôi, nhét vào đó chiếc chìa khóa nhỏ.
“Giữ lấy, Thảo. Đừng nói với ai. Ba năm sau, đúng ngày giỗ của ba, sẽ có người mang giấy tờ đến. Lúc đó con mở.”
“Con không cần gì đâu ba,” tôi đã nói thế, nước mắt rơi xuống tay ông.
Ông cười, nụ cười mệt nhưng rất ấm. “Ba biết. Chính vì thế ba mới đưa cho con.”
Ba năm nay, tôi giữ chiếc chìa khóa trong ngăn kéo, lúc nào cũng nghĩ đến lời ba. Tôi không dám mở hộc tủ nào để tìm. Tôi sợ nếu cố tìm thì chính tôi đã làm bẩn lời dặn ấy.
“Một tỷ tám?” Bà Hạnh lẩm bẩm, như người mơ ngủ. “Ông ấy giấu tôi một tỷ tám?”
Tôi quay sang bà.
“Mẹ, con giữ chiếc chìa khóa này ba năm, không phải vì tiền. Sáng nay trước khi vào bếp, con còn nghĩ, nếu hôm nay mẹ cho con ngồi vào mâm ăn một bữa cơm, con sẽ cất chiếc chìa vào ngăn kéo và chẳng bao giờ nhắc đến nữa. Con không thiếu một cái ghế. Con chỉ muốn được là người trong nhà.”
“Cô giả bộ hiền lành!” bà rít lên.
“Con đã xin mẹ cho con ngồi, mẹ hất bát cơm của con xuống đất.”
Tôi không nói to. Nhưng cả sân nghe rõ từng chữ.
Bà Hạnh quay sang chồng tôi, giọng gần như van nài. “Hưng! Con nói gì đi! Nó là vợ con, mà nó đứng đây làm nhục mẹ con trước họ hàng!”
Đó là lúc tôi nhìn anh. Anh Hưng đang đứng ở mép sân, đôi đũa vẫn cầm trong tay. Cả bảy năm, anh nhìn tôi chịu thiệt mà chưa bao giờ nói được một lời. Tôi không biết hôm nay anh sẽ làm gì. Tôi đã chuẩn bị tinh thần cho cái lắc đầu quen thuộc của anh.
Anh đặt đôi đũa xuống bàn, chậm rãi, từng chiếc một.
“Mẹ,” giọng anh khản đặc, “xin lỗi Thảo đi.”
Cả sân như ngừng thở.
“Mày bảo gì?” Bà Hạnh trợn mắt.
“Con bảo mẹ xin lỗi vợ con. Bảy năm nay, con im lặng là con sai. Bố nói đúng, con đã đứng nhìn.” Anh hít vào một hơi dài. “Con không để mẹ nói với Thảo những lời đó thêm một lần nào nữa.”
“Mày chọn nó hay chọn mẹ?”
“Con không chọn ai bỏ ai. Con chọn điều đúng.”
Bà Hạnh há miệng, rồi lại ngậm lại. Tôi thấy bà run. Không phải vì xấu hổ, tôi biết. Bà run vì cái ngôi nhà, cái ghế trên, cái thế đứng của bà trong họ hàng đang sụp xuống từng tấc một. Bà quay sang đứa con út như người đuối nước chộp lấy phao.
“Dũng! Con nói đi! Có phải con nợ nần gì không? Con nói thật với mẹ!”
Thằng Dũng cắn môi. Vy kéo tay anh. “Mình về đi anh.”
“Về đâu?” Bà Hạnh túm lấy áo nó. “Mày nói rõ cho mẹ nghe!”
“Mẹ đừng hỏi ở đây,” Dũng gạt tay bà ra, giọng lần đầu tiên chua chát. “Mẹ chỉ biết chiều con, mẹ có biết con kẹt thế nào đâu.”
Hai vợ chồng nó cúi đầu lách qua đám họ hàng, đi thẳng ra cổng. Không ai ngăn. Chiếc xe máy nổ ầm rồi tan dần ngoài ngõ.
Bà Hạnh đứng đó, tay vẫn chìa ra phía cổng, như người vừa bị rút mất cái gì đó khỏi lồng ngực.
Họ hàng bắt đầu đứng dậy. Không ai nói to, nhưng ai cũng nói nhỏ. Mâm cỗ còn nguyên, đĩa chả vẫn còn bốc hơi nóng. Dì Hoa đi đến trước mặt bà Hạnh, nói chậm rãi mà nặng:
“Chị Hạnh, bữa giỗ hôm nay, chị làm mất mặt anh Thành rồi.”
Rồi bà nhìn sang tôi, ánh mắt khác hẳn mọi khi. “Cháu vất vả rồi, Thảo.”
Tôi nghe hai chữ “vất vả” mà mắt cay xè. Bảy năm, đây là lần đầu có người trong họ nói câu đó với tôi.
Anh Hưng kéo chiếc ghế ở mâm trên, cái ghế gần bàn thờ nhất, mà mười lăm phút trước còn dành cho Vy, đặt trước mặt tôi.
“Em ngồi đi. Em chưa ăn gì từ sáng.”
Tôi nhìn chiếc ghế, rồi nhìn bà Hạnh. Bà không nói một lời. Bà quay lưng, bước chậm chạp vào trong nhà, lưng còng xuống như già đi chục tuổi. Tôi ngồi xuống. Bát cơm ai đó đặt vào tay tôi còn ấm. Tôi ăn được vài miếng thì không nuốt nổi nữa, vì tôi vừa nhìn lên di ảnh bố chồng, thấy ông vẫn hiền hậu nhìn tôi như mọi năm.
“Con xin lỗi ba,” tôi nói thầm. “Giỗ ba mà con để chuyện thành ra thế này.”
“Chị Thảo.”
Luật sư Minh đến đứng cạnh tôi, hạ giọng.
“Còn một việc nữa. Ông Thành dặn tôi mở két sắt trong phòng ông, bằng chiếc chìa chị đang giữ, trước mặt bà Hạnh và chị. Tôi xin phép làm ngay hôm nay, vì đây là ngày ông chọn.”
Tôi gật đầu.
Họ hàng đã về gần hết, chỉ còn dì Hoa ở lại cùng vài người thân thiết. Chúng tôi đi lên tầng hai. Cánh cửa phòng bố chồng khóa suốt ba năm, tôi mở bằng chiếc chìa riêng treo ở tủ bếp mà ngày nào bà Hạnh cũng quên không thu lại. Mùi gỗ cũ và nắng bụi phả ra. Chiếc giường vẫn phủ ga trắng. Trên bàn làm việc, cái két sắt màu xám nằm im ở góc.
Bà Hạnh đứng ở cửa, hai tay buông thõng. Bà nhìn chiếc két như nhìn một người lạ.
“Cái két đó khóa từ ngày ông ấy mất,” bà nói khẽ. “Tôi không có chìa. Tôi chưa từng có chìa.”
Tôi tra chiếc chìa nhỏ vào ổ. Nó khớp, xoay êm như mới tra dầu hôm qua. Nắp két bật ra.
Bên trong có hai thứ. Một cuốn sổ đỏ bọc nilon cẩn thận. Một cuốn sổ tiết kiệm bìa xanh.
Luật sư Minh nhìn vào trong két rất lâu, mày nhíu lại.
“Biên bản ông Thành ký với tôi ghi rõ ba thứ,” ông nói chậm. “Sổ đỏ, sổ tiết kiệm, và một phong thư niêm phong có dấu của văn phòng tôi, ông dặn chỉ được mở khi có mặt đủ cả nhà. Phong thư đâu?”
Tôi cúi xuống nhìn. Đáy két trống trơn. Tôi lật cuốn sổ, nhấc cả hai lên. Không có gì.
“Ổ khóa không có dấu cạy,” luật sư nói, kiểm tra từng ly một. “Không ai phá két. Người lấy phong thư đã dùng chìa thật.”
“Nhưng chìa khóa duy nhất ở chỗ tôi,” tôi nói, giọng bắt đầu run. “Ba năm nay, tôi chưa từng mở nó.”
“Két này có hai chìa,” ông Minh nhìn tôi, rồi nhìn bà Hạnh. “Chìa còn lại, ông Thành giao cho một người khác. Ông dặn tôi tuyệt đối không được nói tên người đó, trừ khi chính người ấy tự lên tiếng.”
Bà Hạnh lùi lại một bước, mặt tái mét. “Tôi không có chìa nào hết. Tôi thề, tôi không biết gì về cái phong thư!”
Tôi tin bà. Lần đầu tiên trong cả ngày hôm nay, tôi tin bà hoàn toàn. Vì cái nỗi sợ trong mắt bà lúc này không phải là nỗi sợ bị bắt quả tang. Đó là nỗi sợ của người bị đẩy vào thứ mình không hiểu.
Tôi quay lại, định hỏi dì Hoa xem ông Thành còn từng tin ai nữa. Và tôi khựng lại.
Anh Hưng đứng phía sau mọi người, sát cạnh khung cửa. Anh đứng rất im, mặt trắng bệch, một tay đút sâu trong túi áo sơ mi. Dưới ánh đèn hành lang, tôi thấy ở mép túi áo anh hơi phồng lên, ló ra một góc phong bì màu vàng, và trên đó là một vệt dấu đỏ, đúng kiểu dấu niêm phong của văn phòng công chứng.
Anh nhìn thấy tôi nhìn. Anh siết tay lại.
Người vừa đứng về phía tôi giữa sân nhà ban nãy, vì sao lại giấu thứ đó?
Căn phòng im đến mức tôi nghe thấy cả tiếng nuốt khan của chính mình.
“Anh Hưng,” tôi gọi, giọng khô khốc. “Trong túi anh là gì?”
Anh không trả lời ngay. Bàn tay đang siết chặt từ từ mở ra, rồi anh rút chiếc phong bì vàng khỏi túi áo. Vệt dấu đỏ của văn phòng công chứng vẫn còn nguyên, không một nếp rách. Anh đặt nó lên bàn làm việc của bố, ngay cạnh chiếc két mở toang.
“Chìa còn lại là của anh,” anh nói. “Bố đưa cho anh trước khi bố đi, dặn đúng ngày giỗ ba năm thì mở két cùng luật sư. Anh giữ ba năm, chưa lần nào dám đụng vào.”
Luật sư Minh cầm phong bì lên, xoay từng góc, soi dấu niêm phong dưới đèn. “Dấu còn nguyên,” ông xác nhận. “Anh Hưng, anh lấy nó khi nào?”
“Năm giờ sáng nay.” Anh nhắm mắt một giây. “Tối qua Dũng gọi cho tôi. Nó hỏi trong phòng bố có két không, hỏi giấy tờ nhà cất ở đâu, giọng gấp gáp lắm. Tôi biết nó đang kẹt chuyện gì đó. Tôi sợ mẹ hoặc nó lên tìm trước khi luật sư đến, nên tôi lấy phong thư cất đi. Định bụng đưa ông ngay khi ông vào cổng.”
“Rồi sao anh không đưa?” tôi hỏi.
Anh nhìn tôi, và tôi thấy mắt anh đỏ hoe.
“Vì lúc ông ấy vào, anh đang cúi đầu ăn miếng thịt, trong khi em bị mẹ hất bát cơm xuống đất. Anh thấy mình hèn quá, Thảo ạ. Một người đứng nhìn vợ bị làm nhục suốt bảy năm mà giờ lại cầm trong tay thứ bố để lại… Anh không dám đưa. Anh cứ nghĩ, nếu trong thư bố viết về anh một câu thôi, anh cũng không còn mặt mũi nào ngẩng lên.”
Tôi không biết nên giận hay thương. Cả hai thứ đều có, trộn vào nhau như muối với đường.
“Thôi,” dì Hoa lên tiếng, “anh Thành dặn mở thì mở. Ông luật sư đọc đi.”
Bà Hạnh vẫn đứng ở cửa. Bà không phản đối nữa. Bà chỉ khẽ gật, như một người đã mệt đến mức không còn sức để sợ.
Ông Minh bóc dấu niêm phong. Bên trong là ba tờ giấy kẻ ngang, nét chữ run nhưng rõ, và một tờ giấy xác nhận có dấu đỏ của ngân hàng. Ông hắng giọng.
“Gửi bà Hạnh, Hưng và Thảo. Nếu phong thư này được mở đủ mặt cả nhà, thì ông Thành đã làm xong việc cuối cùng.” Ông đọc chậm, giọng đều đều. “Bà Hạnh, tôi viết riêng cho bà trước. Bà còn nhớ ngày bà về làm dâu nhà này không? Mẹ tôi nhìn bà từ đầu đến chân, rồi nói trước mặt cả họ: con gái nhà nghèo như cô, được bước chân vào nhà này là phúc ba đời, đừng mơ ngồi chung mâm.”
Tôi đứng bất động. Bên cạnh tôi, bà Hạnh vịn tay vào khung cửa.
“Ba năm đầu, bà ăn cơm sau cùng, ngồi ở chiếc ghế nhựa ngoài góc bếp. Tôi nhìn thấy mà không dám nói một lời, vì tôi sợ mẹ tôi. Rồi bà sinh Hưng, sinh Dũng, mẹ tôi mới chịu cho bà lên mâm. Tôi biết bà đã thề với lòng rằng sau này sẽ không để ai bị đối xử như thế. Nhưng người ta chịu đựng một điều lâu quá thì dễ biến nó thành thói quen, rồi đem trả lại cho người yếu hơn. Bà không ác, bà chỉ sợ nghèo, sợ bị coi thường, nên cứ dựng cho mình một cái ghế cao hơn người khác.”
Có tiếng nấc rất khẽ. Tôi quay sang. Bà Hạnh đang úp bàn tay lên miệng, vai run bần bật.
“Câu bà nói với Thảo hôm nay, nếu bà đã nói, thì không phải câu của bà. Đó là câu của mẹ tôi, ba mươi năm trước, nói với bà. Tôi nhờ bà nhớ lại, bà đã đau như thế nào khi nghe nó.”
Ông Minh dừng lại, ngước nhìn bà, rồi đọc tiếp, giọng mềm đi.
“Về phần Dũng. Tôi biết thằng bé vay tiền ngoài tiệm cầm đồ và chỗ cho vay nặng lãi, hơn bảy trăm triệu. Nó đã đến xin tôi một lần, tôi từ chối. Tôi cho nó năm trăm triệu để làm ăn, đó là phần của nó, không còn gì nữa. Tôi cũng biết bà đã hứa với nó sẽ bán căn nhà này để trả nợ. Tôi viết rõ ở đây: phần của tôi trong căn nhà đã thuộc về Thảo, bà không thể bán một mình. Nhưng bà sẽ được ở lại trong nhà đến hết đời, Thảo không được phép đuổi bà. Đó là lời tôi dặn con bé, và tôi tin con bé sẽ giữ.”
Ông gấp tờ cuối.
“Thảo, con đừng giận mẹ con quá. Bà ấy là người đã từng bị đối xử tệ, và chưa ai dạy bà cách làm khác đi. Nếu con muốn ở lại, ở lại bằng cách của con. Nếu con muốn đi, cứ đi, tiền và nhà là của con, không ai cản được. Ba chỉ xin con một điều, đừng để bất cứ ai bắt con tin rằng con kém giá trị hơn người khác. Ba cảm ơn con.”
Căn phòng lặng đi. Tôi thấy mắt mình mờ đi từ lúc nào không hay. Tôi đưa tay áo lên lau, nhưng nước mắt cứ chảy, vì không phải ai cũng được nghe người đã khuất nói lời cảm ơn mình một lần nữa, sau ba năm trời.
Bà Hạnh trượt người xuống nền nhà, ngồi bệt ngay cạnh khung cửa. Bà khóc không thành tiếng, vai gầy rung lên từng đợt. Cái bà Hạnh tôi biết suốt bảy năm, người luôn thẳng lưng, luôn chỉ tay ra lệnh, bỗng nhỏ bé như đứa trẻ bị bỏ quên ngoài chợ.
“Tôi nhớ chứ,” bà nói trong tiếng nấc. “Ngày nào tôi cũng nhớ. Bà ấy bắt tôi rửa bát đến nửa đêm, tay tôi nứt nẻ, chảy máu. Tôi tự hứa, tôi sẽ không bao giờ như bà ấy… vậy mà…”
Bà ngẩng lên, nhìn tôi lần đầu tiên không có gai trong ánh mắt.
“Vậy mà tôi lại làm đúng như vậy với con.”
Tôi không biết trả lời bà thế nào. Tôi quỳ xuống trước mặt bà, ngang tầm mắt, nói chậm từng chữ.
“Mẹ, con thương mẹ vì mẹ từng khổ. Nhưng mẹ khổ không có nghĩa là mẹ được quyền làm con khổ. Hai chuyện đó khác nhau, mẹ ạ.”
“Mẹ biết.” Bà gật đầu, nước mắt rơi xuống mu bàn tay. “Mẹ biết rồi.”
Đó chưa phải lời xin lỗi. Tôi hiểu, bà cần thời gian mới nói được ba chữ đó. Nhưng so với bảy năm trước, đó đã là một khoảng cách lớn.
Dì Hoa lấy chiếc khăn tay từ túi áo, đưa cho bà Hạnh. Luật sư Minh lặng lẽ thu dọn giấy tờ, hẹn hôm sau sẽ làm thủ tục sang tên cho tôi, rồi chào chúng tôi ra về. Ông nói một câu trước khi khuất sau cánh cửa.
“Ông Thành là người tôi từng làm việc cùng suốt mười lăm năm. Chưa bao giờ tôi thấy ông ấy lo cho ai nhiều như lo cho chị.”
Tối đó, tôi dọn dẹp xong mâm cỗ lúc chín giờ. Cả nhà chỉ còn bốn người. Dì Hoa ở lại ngủ với bà Hạnh vì sợ bà nghĩ quẩn. Anh Hưng ngồi ngoài hiên, lặng lẽ rửa từng chiếc đĩa mà tôi chưa kịp xếp. Chưa bao giờ tôi thấy anh làm việc này.
Mười giờ đêm, tiếng xe máy dừng ngoài cổng.
Dũng và Vy bước vào, người nó nồng mùi rượu, mắt đỏ ngầu. Vy đi sau, đầu cúi gằm, tóc rối, chiếc váy kem lúc sáng nhàu nát.
“Anh Hưng, chị Thảo,” Dũng nói, giọng khàn đặc. “Em cần nói chuyện.”
Bà Hạnh nghe tiếng, từ trong nhà bước ra, khoác chiếc áo mỏng, mặt vẫn còn sưng húp. Bà nhìn Dũng, định nói gì đó rồi thôi.
“Nói đi,” anh Hưng đặt chiếc đĩa xuống, lau tay vào quần.
Dũng hít một hơi sâu, rồi quỳ phịch xuống nền sân.
“Em nợ bảy trăm triệu. Em vay của người ta để mở xưởng, rồi xưởng lỗ, rồi em vay tiếp để trả lãi, tiền lãi mỗi tháng cứ phình ra. Hôm qua bọn nó nhắn tin, nói nếu cuối tuần không có hai trăm triệu thì chúng nó sẽ đến nhà. Em không dám nói với mẹ, em sợ mẹ thất vọng.”
“Thằng khốn!” bà Hạnh lao tới, vung tay định t:át. Bàn tay bà dừng lại giữa không trung, rồi rơi xuống. Bà ôm mặt khóc. “Mẹ đã hứa bán nhà cho mày, mày có biết mẹ khổ thế nào không?”
“Mẹ biết ông có di chúc rồi, nhà đâu còn bán được nữa.” Dũng ngẩng lên, mắt nhòa nước. “Chị Thảo, em xin chị. Chị đang có một tỷ tám, chị cho em mượn bảy trăm. Em nguyện làm trâu làm ngựa cả đời trả chị. Em quỳ trước chị đây.”
Vy đứng sau, bàn tay run rẩy. Cô ta bước lên, nước mắt giàn giụa, quay sang tôi.
“Chị, em xin lỗi. Em không có ý gì với chị cả. Hộp quà, phong bì… em lấy hai chục triệu mẹ đưa để đóng tiền lãi tháng này, vì không có tiền, em mới độn giấy báo. Em sợ lắm. Em không dám nói với ai, mẹ bảo phải diễn thật khéo thì mẹ mới yên tâm giúp tụi em.”
“Em nói thật?” tôi hỏi.
“Thật. Chị tha cho em, em… em không dám nhìn mặt chị nữa.”
Tôi nhìn hai vợ chồng nó. Trong ánh đèn vàng ngoài hiên, họ trông thảm hại và nhỏ bé hơn cái dáng vẻ ban sáng nhiều. Một phần trong tôi muốn đưa tay đỡ họ dậy. Phần còn lại nhớ rất rõ giọng cười nhếch môi của Vy lúc cô ta nói “chị vất vả quá”.
Tôi hít một hơi dài.
“Dũng, Vy, hai đứa đứng dậy đi. Quỳ giữa sân nhà, hàng xóm nghe thấy.”
Hai đứa nó không đứng.
“Chị nói thẳng với hai đứa. Tiền ba để lại cho chị, chị không cầm một đồng nào đi trả nợ vay nặng lãi.” Tôi nói thật rõ. “Không phải chị không thương em. Chị sợ nếu hôm nay chị đưa bảy trăm triệu, tháng sau em sẽ lại đến xin thêm bảy trăm nữa, vì em chưa từng bị ai nói không.”
Dũng sững người. Bà Hạnh mở miệng định cãi, rồi im.
“Nhưng chị không bỏ mặc em.” Tôi quay sang gọi. “Anh Hưng, mình gọi luật sư Minh đi anh.”
Anh Hưng gọi, ông Minh nghe máy ngay dù đã khuya. Tôi bật loa ngoài, hỏi thẳng. Ông im lặng một lát, rồi đáp bằng giọng bình tĩnh quen thuộc.
“Theo Bộ luật Dân sự, lãi suất vay vượt quá hai mươi phần trăm một năm thì phần vượt không có hiệu lực. Nếu chú Dũng còn giữ tin nhắn, biên nhận, hợp đồng, tôi có thể giúp xem lại, tính xem thực tế chú ấy chỉ nợ gốc bao nhiêu, và nếu có đe dọa thì trình báo công an. Chị Thảo, chị không cần bỏ tiền ra cứu ai. Có đường hợp pháp.”
Tôi nhìn Dũng.
“Em nghe rồi chứ. Sáng mai em mang hết giấy tờ, tin nhắn đến văn phòng ông Minh. Phần gốc em nợ thật, em tự trả. Bán máy móc ở xưởng, đi làm thuê, vay mượn người nhà thì chị ngồi bàn với em. Nhưng chị không đưa tiền mặt.”
Dũng ngồi bệt xuống đất, bật khóc. Vy ôm lấy nó, hai đứa khóc mà không ai nói gì thêm.
Tôi quay vào nhà, nghe tiếng bà Hạnh thều thào sau lưng.
“Con… con nói đúng. Mẹ chiều nó từ nhỏ, hại nó rồi.”
Tôi không quay lại. Nhưng chân tôi chậm lại, và tôi biết bà thấy điều đó.
Ba tháng sau, mọi thứ không đẹp như người ta tưởng. Chẳng có cảnh hòa giải nào kiểu ôm nhau khóc rồi quên hết. Mọi chuyện đến từ từ, như nước rỉ qua đá.
Luật sư Minh giúp Dũng tính lại khoản nợ. Hóa ra bảy trăm triệu ban đầu qua ba lần gia hạn lãi chồng lãi đã thành hơn một tỷ trên giấy. Sau khi cắt phần lãi vượt mức luật cho phép, và sau khi một người cho vay bị công an gọi lên làm việc vì tin nhắn đe dọa, Dũng chỉ còn nợ khoảng bốn trăm triệu tiền gốc. Nó bán toàn bộ máy móc ở xưởng, đi làm thợ cơ khí cho một công ty ở khu công nghiệp. Vy xin vào làm văn phòng, hai vợ chồng thuê phòng trọ nhỏ. Tôi nghe nói đêm nào Vy cũng ngồi cộng trừ từng khoản chi tiêu. Có hôm cô ta gọi cho tôi, nói chỉ một câu, giọng nhỏ xíu.
“Chị ơi, em xin lỗi chuyện hôm giỗ.”
“Chị nghe rồi,” tôi đáp. “Em sống cho tử tế là được.”
Còn tôi, tôi không ở lại căn nhà ấy, và cũng không đuổi bà Hạnh đi. Sau khi sang tên xong, tôi ngồi với anh Hưng cả đêm.
“Anh muốn ở đâu?” tôi hỏi.
“Anh muốn ở đâu cũng được, miễn là em ở cùng.” Anh ngập ngừng. “Nhưng em đừng vì anh mà cố. Nếu em muốn ly hôn, anh cũng không có quyền ngăn. Bảy năm qua anh nợ em quá nhiều.”
Tôi nhìn anh rất lâu. Người đàn ông này đã im lặng suốt bảy năm, nhưng cũng chính anh là người đặt đôi đũa xuống giữa sân hôm giỗ, nói với mẹ hai chữ “xin lỗi” mà bao năm tôi chưa từng mong chờ nổi. Tôi không tha thứ hết, nhưng tôi cũng không thể coi nhẹ cái giây phút ấy.
“Em không ly hôn,” tôi nói. “Nhưng em cần chúng ta ra ở riêng, và em cần anh học cách đứng cạnh em, không phải đứng sau em. Anh làm được không?”
“Anh làm được.”
Anh không hứa dài dòng. Chỉ có hai chữ, nhưng ba tháng sau, tôi thấy anh làm thật. Có lần mẹ anh gọi bảo anh về ăn cơm mà không nhắc đến tôi, anh nói thẳng: “Mẹ, con và Thảo cùng về hoặc cùng không về.” Tôi nghe, và trong lòng có chỗ nào đó lặng lẽ ấm lên.
Chúng tôi thuê một căn hộ nhỏ gần chợ. Tôi dùng một phần tiền bố để lại, mở một quán nhỏ nhận nấu cỗ và làm mâm cúng theo đơn. Ba mươi mâm cỗ hôm giỗ ấy, ai ngờ lại thành tấm danh thiếp tốt nhất của tôi. Dì Hoa nhiệt tình giới thiệu cho họ hàng, rồi người quen của người quen. Quán tên là “Bếp nhà Thảo”, không có bảng hiệu to, chỉ một tấm biển gỗ nhỏ treo trước cửa. Tôi thức dậy từ bốn giờ sáng như mọi năm, nhưng giờ tôi nấu cho mình, cho khách của mình, và không ai gọi tôi là “người hầu”.
Bà Hạnh vẫn ở trong căn nhà cũ. Dì Hoa kể, hai tháng đầu bà gần như không ra khỏi cửa. Họ hàng đến, bà tránh mặt. Rồi đến một buổi sáng, bà tự mình ra chợ, mua rau, nấu một nồi canh. Dì Hoa bảo, lần đầu tiên sau bao năm, bà tự rửa bát mà không gọi ai.
Đến tháng thứ năm, bà tới quán của tôi.
Hôm ấy trời mưa rả rích. Tôi đang xếp hộp xôi vào thùng giao thì nghe tiếng cửa kéo. Bà đứng ngoài hiên, chiếc áo mưa nhựa ướt sũng, tay xách một chiếc cặp lồng nhôm cũ. Tóc bà bạc nhiều hơn, người gầy đi. Bà không còn là bà Hạnh của những ngày ngồi quạt mát trên bộ salon.
“Mẹ nấu chè đậu đen,” bà nói, mắt nhìn xuống nền gạch. “Con ăn thử xem. Mẹ không biết có hợp khẩu vị không.”
Tôi nhận cặp lồng, mở nắp. Hơi nóng bốc lên. Chè không ngọt lắm, đậu hơi sượng, nhưng mùi lá dứa thơm rất thật.
“Mẹ vào ngồi đi, ngoài mưa lạnh.”
Bà ngồi xuống chiếc ghế nhựa nhỏ cạnh quầy, hai tay đặt trên đùi, ngón tay đan vào nhau. Lúc tôi rót cho bà ly trà gừng nóng, bà nhìn nó rất lâu rồi mới nói, giọng rất khẽ.
“Thảo. Mẹ… mẹ xin lỗi con.”
Tôi đứng im. Ba chữ ấy tôi đã đợi suốt bảy năm, rồi suốt năm tháng nữa. Tôi tưởng khi nghe thấy, mình sẽ khóc, sẽ ôm bà, sẽ thấy nhẹ nhõm. Nhưng thực ra tôi chỉ thấy một nỗi bình yên rất lặng, như vết nứt trong lòng bỗng được ai đó đặt tay lên.
“Con nhận lời xin lỗi của mẹ,” tôi nói. “Nhưng con cần mẹ nhớ, lần sau nếu có ai đó mới về làm dâu, mẹ đừng để họ phải ngồi ở chiếc ghế nhựa ngoài góc bếp.”
Bà bật khóc. Lần này không phải tiếng khóc của sợ hãi hay xấu hổ, mà là tiếng khóc của người cuối cùng cũng dám đối diện với chính mình.
“Mẹ sẽ không để ai phải ngồi ở đó nữa. Mẹ thề với ba con.”
Tôi ngồi xuống cạnh bà, rất lâu, không ai nói gì. Ngoài cửa mưa vẫn rơi, trong quán mùi xôi gấc, mùi lá dứa quyện vào nhau. Lần đầu tiên, tôi thấy bà Hạnh trông giống một người mẹ, không phải một người cần được tôi sợ.
Giỗ bốn năm của bố chồng, tôi về nhà cũ từ ba giờ sáng, nấu cỗ như mọi năm. Nhưng lần này, Dũng và Vy đến từ sớm, xắn tay áo rửa rau, gọt củ. Vy gọi tôi một tiếng “chị” rất khẽ, không còn cái giọng ngọt như mía lùi ngày nào. Dũng đứng bên cạnh bếp, vụng về lật từng miếng chả. Anh Hưng tiếp khách ngoài sân, thỉnh thoảng lại vào bếp hỏi tôi cần gì.
Mười một giờ, họ hàng đến đông đủ. Dì Hoa mang theo chiếc khăn lụa mới tặng tôi. Mâm cỗ bày xong, bà Hạnh bước ra từ trong nhà, mặc chiếc áo dài nâu quen thuộc, tóc vấn gọn.
Bà đi thẳng đến mâm trên, cái mâm gần bàn thờ nhất. Cả sân im lặng nhìn theo. Bà kéo chiếc ghế đầu tiên ra, đứng chờ.
“Thảo, lại đây con.”
Tôi lau tay vào tạp dề, bước đến. Bà đặt tay lên lưng ghế, nhìn tôi rồi nhìn lên di ảnh bố chồng, giọng nghẹn lại.
“Ngồi đi con. Hôm nay mẹ rót nước cho con.”
Tôi ngồi xuống. Bà cầm ấm trà, rót đầy chén của tôi, bàn tay hơi run nhưng không đổ một giọt. Cả sân vỗ tay, lẫn trong đó có tiếng sụt sịt của dì Hoa.
Tôi nâng chén trà lên, nhìn di ảnh ba, mỉm cười thật khẽ.
“Con làm được rồi ba nhé.”
Khói hương bay lên, quện trong nắng sớm. Tôi cảm giác như có một bàn tay ấm đặt nhẹ lên vai mình, như ngày ba nhét chiếc chìa khóa nhỏ vào lòng bàn tay tôi, đêm cuối cùng ấy.
-HẾT-