CẬU BÉ M:Ồ CÔI MƯỜI HAI TUỔI BỊ CHỦ QUÁN CƠM B:ẮT Q:UỲ GIỮA CHỢ VÌ BỊ NGHI ĂN TR:ỘM HAI CON CÁ. NGƯỜI ĐI ĐƯỜNG CÒN GIƠ Đ:IỆN TH:OẠI QUAY LẠI: “ĐỒ KHÔNG CHA KHÔNG MẸ, KHÔNG AI DẠY MÀY LÀM NGƯỜI À?”

(Tiếp theo phần 2)

Căn phòng ba mét vuông bỗng chật như một chiếc hộp bị đóng nắp. Tiếng mưa gõ lên mái tôn nghe rõ từng hạt. Thằng Tí nép sau lưng tôi, bàn tay nó lạnh ngắt trong tay tôi.

“Bố nó ch:ết rồi mà,” nó thì thào, mắt nhìn bà ngoại. “Bà bảo bố đi làm xa rồi ch:ết, bà bảo bố nằm ở nghĩa trang quê.”

“Bà nói dối con,” bà Tư nói, hai vai co lại. “Bố con không ch:ết. Bố con đi tù.”

Chữ “tù” rơi xuống nền phòng, nặng và khô. Chị Hoa đứng sau tôi, không dám thở mạnh. Người đàn ông đứng cạnh chiếc ghế nhựa cúi gằm, hai bàn tay siết vào nhau đến trắng bệch.

“Tôi tên Khoa,” ông nói, giọng khàn như người lâu ngày không nói chuyện. “Tôi ra trại cách đây một tuần. Tôi không dám về ngay. Tôi đứng ngoài đầu chợ ba hôm, nhìn con đi nhặt chai. Tôi không dám gọi.”

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người

Tôi nhìn ông kỹ hơn. Đôi mắt ông, cái cằm nhọn, cả cái cách nghiêng đầu khi nhìn thằng bé, giống Tí đến lạ. Nhưng tôi vẫn đứng chắn phía trước, không nhúc nhích. Tôi là người ngoài, nhưng tôi biết một điều: người nào bước vào đời một đứa trẻ sau mười hai năm vắng mặt, thì phải chứng minh mình xứng đáng, chứ không phải được đón nhận ngay.

“Anh vào tù vì chuyện gì?” tôi hỏi.

Ông Khoa im lặng rất lâu. Bà Tư định mở miệng, ông giơ tay ngăn lại.

“Để con nói, mẹ.” Ông quay sang tôi. “Mười hai năm trước, vợ tôi sinh Tí xong thì bị băng huyết. Nhà không có tiền đóng viện phí, bệnh viện bắt đóng trước năm chục triệu mới truyền máu tiếp. Tôi đi vay. Không ai cho vay. Tôi làm thợ phụ, lương bữa đực bữa cái. Một người bạn rủ tôi chở hàng thuê một chuyến, bảo chỉ cần chở, không cần hỏi gì, được mười triệu.”

“Hàng gì?” tôi hỏi.

“Ma t:úy.” Ông nói rất khẽ. “Tôi không biết. Tôi đã nói thế ở tòa, nhưng không ai tin. Bên công an bắt tôi tại chốt, trong xe có hai bao.”

Ông ngừng lại, nuốt khan.

“Vợ tôi m:ất ngay đêm tôi bị bắt. Tôi không kịp nhìn mặt cô ấy lần cuối. Tôi bị tuyên mười hai năm tù, được giảm vì cải tạo tốt. Tôi nhờ mẹ tôi nuôi Tí và bảo mẹ cứ nói tôi đã m:ất. Tôi không muốn con tôi lớn lên với cái tên là con của một người tù.”

Tôi quay sang bà Tư. Bà khóc không thành tiếng, nước mắt chảy dọc những nếp nhăn như những đường nứt trên đất khô.

“Bà sợ,” bà nói. “Bà sợ nó đi học bị chúng bạn chê, sợ hàng xóm nói ra nói vào. Con nó nghèo mà còn thêm cái tiếng ấy, nó sống sao nổi. Bà nghĩ nói bố ch:ết thì nó chỉ tủi một lần. Ai ngờ nó… nó vẫn chịu cái tiếng không cha không mẹ giữa chợ hôm nay.”

Câu ấy làm chị Hoa òa khóc. Chị bịt miệng chạy ra hiên. Tôi nghe tiếng chị nấc ngoài mưa.

Tí vẫn đứng im. Rồi nó buông tay tôi, bước lên một bước nhỏ, nhìn ông Khoa từ đầu đến chân. Nhìn đôi giày nứt mũi, chiếc áo nhàu, đôi bàn tay chai sạn.

“Chú nói chú là bố con,” nó nói, chậm rãi từng chữ. “Vậy chú nói con nghe, mẹ con tên gì?”

“Mẹ con tên Nguyễn Thị Lụa,” ông Khoa đáp ngay, không nghĩ ngợi. “Cô ấy hay hát bài ru con về con cò. Cô ấy dặn nếu là con trai thì đặt tên Tí, để dễ nuôi.”

Tí quay sang bà Tư. Bà gật đầu, nức nở.

“Con lấy đồ nghề của bà ra đây.” Tí đột ngột nói. Nó chạy đến góc giường, lôi ra một chiếc hộp nhựa cũ. Bên trong có một bức ảnh đã mờ và một chiếc vòng bạc nhỏ xíu. “Bà bảo ảnh này là của mẹ với bố con. Bà bảo bố con ch:ết rồi, nhưng bà vẫn giữ ảnh. Có phải ảnh này không chú?”

Ông Khoa run run đón lấy. Tấm ảnh chụp một cặp vợ chồng trẻ, cô gái ôm bụng bầu, người đàn ông cười toe, răng khấp khểnh. Ông áp ngón tay lên mặt kính, giọng vỡ ra.

“Ảnh chụp ngày cưới chạy bầu. Hôm đó mưa, mình phải chụp dưới mái hiên.”

Tí nhìn ông, nhìn rất lâu. Rồi thằng bé nói điều làm tôi không kìm nổi nước mắt.

“Bà dạy con, mượn thì phải trả, không trả là không biết điều. Chú nợ con mười hai năm. Chú định trả con bằng gì?”

Căn phòng lặng đi. Ông Khoa quỳ xuống, đầu gối chạm nền xi măng lạnh, ngang tầm mắt đứa con.

“Chú không trả được hết,” ông nói. “Chú chỉ xin con cho chú trả dần. Mỗi ngày một ít, như con trả cô Hoa. Chú sẽ đi làm, sẽ nuôi con, sẽ chăm bà. Chú không xin con gọi chú là bố ngay. Chú chỉ xin được ở đây.”

Tí gật đầu một cái rất nhỏ. Rồi nó quay sang tôi, mắt đỏ hoe.

“Cô Thu, con có thể tin chú ấy không ạ?”

Tôi ngồi xuống cạnh nó. Tôi không muốn trả lời thay một đứa trẻ cho quyết định lớn nhất đời nó.

“Con không cần tin ngay,” tôi nói. “Tin là thứ phải được kiếm, từng ngày. Con cứ để chú ở đây, nhìn xem chú làm gì, rồi con quyết định.”

Nó gật đầu. Ông Khoa nhắm mắt, một giọt nước mắt rơi xuống nền gạch.

Tôi bước ra hiên, nơi chị Hoa đang đứng tựa cột, mặt ướt cả nước mưa lẫn nước mắt.

“Chị Hoa.”

“Chị không có quyền đứng đây,” chị nói mà không quay lại. “Chị là người bắt nó q:uỳ.”

“Chị có quyền,” tôi nói. “Vì chị là người xin lỗi bằng cách q:uỳ xuống, không phải người chỉ nói suông.”

Chị lau mặt, lặng lẽ đưa túi gạo cho bà Tư. “Bà cầm đi. Tôi không… tôi chỉ muốn góp chút.”

Bà Tư run run đón lấy, rồi nắm cả hai tay chị. “Cô Hoa, tôi cảm ơn cô hai trăm nghìn hôm ấy. Thuốc hạ sốt ấy cứu tôi một mạng.”

Chị Hoa lắc đầu, không nói được gì.

Chiều hôm ấy, chị Hoa theo ông Tâm lên văn phòng ban quản lý. Chuyện sau đó, tôi nghe lại từ cô Hạnh, vì chị Hoa không bao giờ muốn kể.

Anh Thịnh bị lập biên bản vì lấy cắp tài sản trong chợ, bị cấm bước chân vào khu chợ ba tháng, lại thêm khoản tiền nợ quán nhậu đầu chợ bị người ta đến đòi tận nhà. Trong buổi đối chất, chị Hoa bình tĩnh lạ thường. Chị đặt lên bàn một tờ giấy, mang tên hai người.

“Đơn ly hôn,” chị nói, “tôi nhờ cô Hạnh viết giúp hôm qua, vì tôi không biết chữ nhiều. Tôi sẽ nộp ở tòa. Anh Thịnh, anh ký hay không thì tôi vẫn nộp.”

Anh Thịnh sa sầm mặt, nhưng giữa mấy chục ánh mắt của người trong chợ, anh ta không dám làm gì. Một tháng sau, anh ta bỏ đi, nghe nói vào Nam làm thuê cho người quen. Quán cơm của chị Hoa từ đó có thêm một thứ chưa từng có: sổ ghi chép từng khoản thu chi, chữ viết nắn nót như học sinh.

Thằng Tí học thêm tối ở nhà cô Hạnh. Cô dạy nó viết chữ cho đẹp, vì nó còn lúng túng cả chữ “n:ợ” hôm nào. Sáng sáng nó ghé quán cơm chị Hoa ăn bát cháo nóng, lúc đầu chị còn cãi nhau với nó chuyện trừ nợ, sau chị bảo thôi, trừ hết rồi. Nó cãi, bảo nợ là nợ. Hai cô cháu, một cứng một cứng, ngồi cãi qua cãi lại giữa quán, khách ăn cũng phải bật cười.

Ông Khoa bắt đầu từ việc khuân vác ở chợ. Chiều ấy tôi nhờ ông chuyển giúp mấy bao rau củ về sạp, ông nhận không đòi tiền. Tôi trả công, ông lắc đầu.

“Cô Thu, cô cho tôi làm không công vài hôm,” ông nói. “Tôi muốn mọi người trong chợ thấy tôi làm, rồi mới biết tôi là người thế nào.”

Tôi hiểu. Một người từng bị gọi là tù nhân thì không thể xin một chỗ đứng. Chỉ có thể làm cho người ta thấy anh xứng đáng.

Ba tuần đầu, ông Khoa dậy từ bốn giờ, bốc vác ở chợ đầu mối rồi mới chạy về xóm trọ nấu cháo cho bà Tư, đưa Tí đi học. Có người trong chợ nhìn ông bằng ánh mắt dè chừng. Có người nói ra nói vào. Có bà bán hành đứng lại hỏi thẳng tôi: “Cô Thu, cô cho nó làm gần sạp cô à? Không sợ à?”

“Sợ chứ,” tôi đáp. “Nhưng tôi sợ nhất là chợ này lại dạy một đứa trẻ rằng có người sai một lần thì không bao giờ được sửa.”

Bà ấy im, rồi mua thêm cân rau của tôi, như một cách nói rằng bà đã nghĩ lại.

Một buổi chiều cuối tháng, tôi đang xếp rau thì thấy Tí ngồi trên ghế đẩu ngoài quán chị Hoa, hai chân đung đưa, bên cạnh là ông Khoa đang ngồi xổm sửa chiếc xe đạp cũ của nó. Ông không nói nhiều, nó cũng không. Chỉ có tiếng cờ-lê chạm vào ốc vít lách cách. Rồi tôi nghe nó hỏi, giọng rất nhỏ.

“Chú Khoa, hôm nào chú dẫn con ra nghĩa trang thăm mẹ được không?”

Ông Khoa dừng tay. Cái cờ-lê trượt xuống nền.

“Được con,” ông nói. “Chủ nhật này, bố dẫn con đi.”

Chữ “bố” bật ra rất tự nhiên, như thể nó đã chờ ở đầu lưỡi suốt mười hai năm. Tí cúi xuống, im lặng một lúc, rồi nói nhỏ như sợ ai nghe:

“Dạ.”

Chỉ một chữ thôi. Nhưng tôi thấy ông Khoa úp mặt vào bàn tay đầy dầu mỡ, vai run lên.

Còn một chuyện nữa. Tôi vẫn nhớ bình luận lạ trên bài đăng hôm ấy: “Cho mình xin địa chỉ nhà cậu bé này được không? Mình là người nhà.”

Tối hôm ấy, tôi hỏi thẳng ông Khoa. Ông lắc đầu, nói ông không dùng mạng xã hội, cả đời chưa lập một tài khoản. Tôi hỏi bà Tư. Bà cũng không biết. Cuối cùng tôi nhắn lại cho tài khoản kia một dòng ngắn, rằng nếu thật là người nhà thì xin hãy đến tận nơi, đừng hỏi qua màn hình.

Ba hôm sau, có một người phụ nữ khoảng năm mươi tuổi đến sạp tôi từ sáng sớm. Bà mặc áo bà ba màu nâu, đội nón lá, tay xách giỏ trái cây. Bà đứng nhìn dọc dãy sạp rất lâu rồi bước tới.

“Cho tôi hỏi, cậu bé tên Tí ở đâu?” bà nói, giọng miền Tây nhè nhẹ. “Tôi là dì ruột nó, em gái của mẹ nó. Nhà tôi ở Cần Thơ. Mười hai năm trước, tôi đi lấy chồng xa, mất liên lạc với chị Lụa. Khi biết tin chị mất, thằng bé đã được bà nội đem đi đâu không ai rõ. Tôi tìm suốt mười hai năm. Tôi chỉ nhìn thấy video ấy trên mạng mới nhận ra nó giống chị tôi đến từng đường nét.”

Tôi dẫn bà đến xóm trọ. Bà Tư mở cửa, nhìn bà một lúc, rồi bật khóc.

“Cô Mơ… trời ơi, cô Mơ. Tôi tưởng cô quên cháu rồi.”

“Tôi không quên,” bà nói, ôm lấy bà Tư. “Tôi chỉ không biết tìm ở đâu.”

Tối hôm đó, trong gian phòng chật hẹp, có thêm một người ngồi bên bàn cơm. Bốn người lớn, một đứa trẻ, chia nhau năm cái bát. Ông Khoa nhường phần cá cho Tí. Dì Mơ lặng lẽ gắp thêm rau cho bà Tư. Tôi đứng ở cửa nhìn vào, không dám bước tới sợ làm vỡ khoảnh khắc ấy.

Cuối mùa mưa, ông Khoa xin được việc làm ở một xưởng gỗ ngoài thị trấn, ban đầu chỉ làm phụ, sau được nhận chính thức. Dì Mơ đề nghị cả nhà chuyển về Cần Thơ ở cùng, nhưng Tí lắc đầu.

“Con muốn ở lại đây,” nó nói. “Ở đây có cô Thu, cô Hạnh, cô Hoa. Hồi trước con bị bắt q:uỳ, giờ con muốn ở lại để người ta nhìn thấy con lớn lên.”

Dì Mơ im lặng, rồi mỉm cười, bảo mỗi dịp nghỉ hè bà sẽ đón nó về chơi. Ông Khoa thuê được căn phòng rộng hơn hai mét vuông, có cửa sổ nhìn ra hàng cau.

Đến cuối năm, chợ có tin lạ. Trong buổi họp ban quản lý, bà con đề xuất lập một quỹ nhỏ giúp trẻ nhặt ve chai, trẻ mồ côi trong khu vực đi học. Ông Tâm đọc đề nghị, hỏi ai đứng ra giữ sổ. Chị Hoa giơ tay trước tiên.

“Tôi giữ,” chị nói, giọng vẫn cứng như xưa. “Từng đồng tôi ghi rõ, ai muốn kiểm thì kiểm. Tôi từng làm sai một lần ở cái chợ này. Tôi muốn dùng nó để làm đúng nhiều lần.”

Không ai phản đối. Cô Hạnh bảo, quỹ lấy tên là “Quỹ năm mươi tám nghìn”, theo đúng số tiền thằng Tí cầm trong tay hôm ấy. Cái tên nghe ngồ ngộ, nhưng cả chợ đều nhớ.

Hôm khai quỹ, Tí đứng giữa chợ, mặc áo sơ mi trắng cô Hạnh may cho, tay cầm tờ giấy nhỏ gấp tư. Nó mở ra, đọc từng chữ, giọng run nhưng rõ.

“Con xin cảm ơn mọi người. Hôm ấy con bị q:uỳ ở chỗ này. Hôm nay con đứng ở chỗ này, và con thấy rất nhiều người đang đứng cạnh con. Ngày xưa con tưởng không ai dạy con làm người. Bây giờ con biết, cả chợ đã dạy con.”

Nó cúi đầu thật sâu. Cả chợ vỗ tay. Chị Hoa quay đi lau mắt, còn người đàn ông từng hỏi “không ai dạy mày làm người à” đứng ở cuối đám đông, mũ kéo thấp, im lặng bước tới, bỏ vào thùng quỹ một tờ năm trăm nghìn. Ông không nói một lời nào. Nhưng khi đi ngang qua chỗ tôi, ông gật đầu rất nhẹ.

Tôi nhìn lên trời. Mưa đã tạnh từ lúc nào, nắng xiên qua mái bạt, rọi lên nền gạch chỗ ngày ấy thằng bé q:uỳ, giờ khô ráo sạch sẽ, đặt một chiếc ghế nhựa nhỏ cho những đứa trẻ nhặt ve chai tới ngồi nghỉ. Trên lưng ghế, chị Hoa dán một mảnh giấy bằng bút bi nguệch ngoạc:

“Ai đói thì ngồi. Ai mệt thì ngồi. Không ai phải q:uỳ.”

-HẾT-