HAI ANH EM MỒ CÔI BỊ CHỦ NHÀ TRỌ KHÓA CỬA, Q:UẲNG HẾT QUẦN ÁO RA HẺM VÌ CHẬM T:IỀN PHÒNG BA NGÀY. CẬU ANH MƯỜI BỐN TUỔI VỪA TAN CA RỬA CHÉN, CHẠY VỀ THẤY EM G:ÁI BẢY TUỔI ĐANG ÔM DI ẢNH MẸ NGỒI CO RO DƯỚI MÁI TÔN, LIỀN Q:UỲ XUỐNG XIN: “CHÚ CHO TỤI CHÁU Ở ĐẾN SÁNG MAI THÔI, CHÁU NHẬN LƯƠNG SẼ TRẢ ĐỦ!” CHỦ TRỌ G:IẬT TẤM DI ẢNH N:ÉM VÀO ĐỐNG ĐỒ ƯỚT, G:ẮT: “TAO KHÔNG NUÔI TRẺ MỒ CÔI!” CẬU BÉ L:AO TỚI ÔM KHUNG ẢNH V:Ỡ, NHƯNG THỨ R:ƠI RA TỪ M:ẶT SAU TẤM ẢNH KHIẾN NGƯỜI HÀNG XÓM VỪA BƯỚC RA PHẢI ĐỨNG CH:ẾT L:ẶNG… (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Tôi siết chặt chiếc phong bì vào ngực, lưng cong lại như con tôm. Ông Tư lao tới, bàn tay to bè chộp lấy vai tôi giật mạnh.
“Đưa đây! Tụi bây lấy cái này ở đâu ra?”
“Của mẹ cháu! Mẹ cháu để lại cho hai anh em cháu!” Tôi hét lên, đầu gối trượt trên nền xi măng ướt.
Con Na nhào tới ôm chân ông, khóc thét. Ông hất con bé ra nhưng không mạnh, vì tay ông đang run. Tôi thấy rõ điều đó. Người vừa ném di ảnh mẹ tôi như ném rác, giờ tay run còn hơn tay tôi.
Rẹt. Mép phong bì bị xé toạc. Ông giật được một mảnh giấy gấp tư, nhét vội vào túi áo ba lỗ rồi mới chịu buông. Tôi chưa kịp biết đó là tờ gì thì sau lưng vang lên một giọng đàn bà.
“Anh Tư! Buông thằng nhỏ ra!”
Cô Sáu bước tới giữa hẻm, dép lê lép nhép nước. Cô cúi xuống nhặt tấm ảnh nhỏ đang nằm úp trên nền, lau bằng vạt áo rồi giơ lên dưới ánh đèn tuýp của quán. Tay cô run không kém gì ông Tư.
“Thằng Quân…” Cô lẩm bẩm. “Đúng là thằng Quân rồi.”
Cửa nhà hai bên hẻm lần lượt hé ra. Có người cầm dù, có người khoanh tay đứng trong hiên. Một bà cụ hỏi vọng: “Chuyện gì vậy? Ông Tư lại làm gì mấy đứa nhỏ nữa rồi?”
Tôi không biết Quân là ai. Tôi chỉ thấy cô Sáu quay sang nhìn tôi, nhìn tấm ảnh, rồi nhìn tôi lần nữa. Cô bước lại gần, nâng cằm tôi lên bằng hai ngón tay lạnh ngắt, nghiêng mặt tôi về phía ánh đèn.
“Anh Tư,” giọng cô lạc đi, “anh lại đây coi cho kỹ. Coi mặt thằng nhỏ này, rồi coi tấm ảnh.”
“Em nói bậy gì vậy…”
“Tôi nói bậy hả?” Cô đưa tấm ảnh ra giữa hai người. “Cái nốt ruồi dưới đuôi mắt trái. Cái chân mày bên cao bên thấp. Anh nuôi thằng Quân hai mươi mấy năm, anh nói coi, giống hay không giống?”
Tôi nhìn tấm ảnh. Một chàng trai khoảng hai mươi tuổi, cười toe, áo sơ mi trắng, ngồi trên chiếc xe Dream cũ. Sau lưng anh ta, một cô gái mặt tròn, tóc thắt bím, ôm eo anh. Tôi nhận ra cô gái ngay. Đó là mẹ tôi, hồi mẹ chưa gầy rộc như lúc nằm viện. Còn người đàn ông, tôi chưa từng thấy mặt. Nhưng cái nốt ruồi kia thì sáng nào tôi cũng thấy trong gương.
Ông Tư há miệng mà không ra tiếng. Cái bụng bự của ông xẹp xuống như quả bóng xì hơi. Ông lùi một bước, rồi hai bước, lưng đập vào cánh cửa phòng trọ vừa bị chính ông khóa trái.
“Không có chuyện đó… Thằng Quân bỏ đi từ hồi…” Ông nuốt khan. “Nó đâu có con.”
Tôi đứng dậy. Hai đầu gối rát bỏng nhưng tôi không thấy đau. Tôi ôm con Na vào người, nói với ông bằng một giọng mà chính tôi cũng không nhận ra là của mình.
“Chú Tư, chú nói không ai nuôi trẻ mồ côi. Vậy chú nói cháu nghe, Quân là ai?”
Không ai trả lời. Chỉ có tiếng mưa lộp độp trên mái tôn.
“Chú không nói thì cháu tự đọc.”
Tôi móc chiếc điện thoại cũ của mẹ trong túi quần, bật đèn pin, rút xấp giấy ra khỏi phong bì. Ba tờ giấy kẻ ngang, nét chữ nghiêng nghiêng của mẹ, có chỗ nhòe vì nước mưa, có chỗ nhòe vì thứ gì đó mà tôi biết không phải nước mưa.
Tôi đọc to, từng chữ một, để cả hẻm cùng nghe.
“Gửi Khang và Na, hai con của mẹ. Nếu hai con đang đọc lá thư này, nghĩa là mẹ đã không còn, và có người đã đuổi hai con ra khỏi căn phòng này. Mẹ xin lỗi vì đã không ở lại được để che chở cho hai con.”
Giọng tôi khựng lại. Con Na kéo vạt áo tôi: “Anh Hai, mẹ viết cho tụi mình hả?”
“Ừ. Em đứng sát anh, nghe anh đọc.”
“Khang à, mười lăm năm trước mẹ quen một người con trai tên Lê Minh Quân. Anh ấy hiền, hay cười, làm thợ sửa xe. Khi mẹ m:ang thai con, anh ấy mừng lắm, nói sẽ về xin cha mẹ cho cưới. Nhà anh ấy ở hẻm này, cái nhà cổng sắt xanh cuối hẻm.”
Có tiếng xì xào dậy lên. Cô Sáu đưa tay bụm miệng. Cái nhà cổng sắt xanh cuối hẻm chính là nhà ông Tư, và dãy phòng trọ này mọc lên ngay bên hông nó.
“Đêm đó anh Quân về nhà nói chuyện. Sáng hôm sau anh tìm mẹ, mặt mày bầm tím, áo rách một bên. Anh nói cha anh chê mẹ nghèo, không cho cưới, đ:ánh anh một trận rồi đuổi ra khỏi nhà, bảo đừng bao giờ quay về. Anh khóc, nói sẽ đi làm xa kiếm tiền rồi đón mẹ con mình. Anh đi, và từ đó mẹ không nhận được tin gì nữa.”
Ai đó trong đám đông thốt lên một tiếng “trời ơi”. Ông Tư không động đậy. Mắt ông dán xuống nền xi măng.
“Mẹ một mình sinh con, một mình nuôi con. Mẹ không oán ai. Nhưng bốn năm trước, khi bác sĩ nói mẹ bệnh nặng, mẹ biết mình không còn nhiều thời gian và mẹ lo hai con sẽ không có ai. Mẹ tìm về hẻm này, thuê căn phòng sát bên nhà ông Tư. Ông ấy chưa từng biết mặt, biết tên mẹ. Ông ấy chỉ biết đã từng có một đứa con gái nghèo, và vì chuyện đó ông đã đuổi con trai mình đi.”
“Mẹ không nhận ông. Mẹ muốn nhìn xem người đã đuổi con ruột ra khỏi nhà sẽ đối xử thế nào với hai đứa trẻ không ai biết là máu mủ. Mẹ trả tiền phòng đúng hạn, không trễ một ngày, để ông không có lý do nào ghét mẹ. Mẹ chờ một ngày ông tự nhìn ra mặt con, và thương con.”
Tôi nghe người đứng cạnh nuốt nước bọt. Con Na ngước lên, môi run run: “Anh Hai… ông Tư là ông nội mình hả?”
Tôi không đáp. Tôi còn hai trang nữa.
“Nếu ông không thương, mà còn đuổi hai con ra đường như đã từng đuổi cha con, thì hai con đừng van xin nữa. Hãy đứng thẳng lên, đọc to lá thư này. Khang, con mang dòng máu nhà này. Na là em ruột của con, cùng một mẹ. Ai nhận con thì phải nhận cả em con, nếu không thì chẳng ai có quyền gọi con là cháu.”
“Tiền phòng mỗi tháng mẹ ghi sổ, có chữ ký của ông Tư, mẹ kẹp trong quyển vở cũ của con. Trong phong bì còn một mảnh giấy anh Quân để lại cho mẹ trước khi đi. Mẹ giữ mười lăm năm mà chưa dùng, vì nếu anh ấy muốn thì đã tự quay về. Dùng hay không, tùy con.”
Tôi ngẩng lên. Cả hẻm im phăng phắc. Cô Sáu khóc, nước mắt chảy thành hàng mà cô không buồn lau. Bà cụ lúc nãy hỏi vọng giờ ôm chặt cây dù, miệng lẩm bẩm “tội nghiệp, tội nghiệp”.
Ông Tư ngồi sụp xuống bậc cửa. Cả người ông như bị rút hết xương.
“Không phải… tao không biết… tao đâu có biết…”
“Chú không biết,” tôi nói, “nhưng chú biết cháu là trẻ mồ côi, và chú biết tụi cháu không có chỗ nào để đi.”
Câu đó làm ông co người lại như vừa bị t:át. Đây là lần đầu tiên tôi nói một câu mà ông không cãi lại.
Nhưng tôi biết nếu dừng ở đây, mai ông sẽ khóc lóc, mốt ông lại là ông chủ trọ như cũ. Mẹ đã dặn tôi phải đứng thẳng. Đứng thẳng không phải là đứng chờ người ta thương. Tôi quay sang cô Sáu.
“Cô Sáu, cô cho cháu mượn số điện thoại của tổ trưởng. Hai đứa trẻ chưa đủ mười tám tuổi bị đuổi ra đường ban đêm, trời đang mưa. Cháu muốn báo.”
Cô Sáu sững lại một nhịp rồi gật đầu thật mạnh, lôi điện thoại ra. “Để cô gọi. Cô gọi luôn công an khu vực.”
“Em…” Ông Tư ngẩng lên.
“Anh im đi.” Cô Sáu không thèm nhìn ông.
Tôi lục trong đống đồ ướt, lôi ra quyển vở cũ của mình. Giữa vở, tờ giấy mẹ kẹp vẫn còn khô. Một bảng ghi tay: tháng, ngày, số tiền một triệu hai, và chữ ký nguệch ngoạc của ông Tư ở cột nhận. Bốn mươi sáu tháng liền. Không có tháng nào trễ.
“Bốn mươi sáu tháng, tháng nào mẹ cháu cũng trả đủ, có chữ ký của chú,” tôi giơ tờ giấy lên cho mọi người thấy. “Tháng này cháu chậm ba ngày vì cháu đi làm để trả chú. Chú hẹn cháu ba ngày, mà bây giờ mới là tối ngày thứ ba. Chú khóa cửa trước khi hết hạn.”
“Tao đâu có hẹn…”
“Có,” cô Sáu chen vào, giọng lạnh như nước đá. “Hôm kia tôi đứng ở quán, nghe anh nói ‘ba ngày, hết ba ngày thì cút’. Tôi làm chứng.”
Tôi rút từ túi quần tập tiền còn ẩm, đếm đúng một triệu hai trăm nghìn, đặt xuống bậc cửa ngay trước mặt ông.
“Tiền phòng tháng này, đủ. Chú viết giấy nhận rồi mở cửa trả phòng cho tụi cháu. Chú nói phòng đã cho người khác thuê, vậy chú đưa hợp đồng ra.”
“Cả buổi chiều tôi bán hàng ngó thấy hết,” cô Sáu nói to cho cả hẻm nghe. “Làm gì có ai dọn vào. Chỉ có mình anh cầm ổ khóa đi ra đi vào.”
Ông Tư nhìn quanh. Hơn chục cặp mắt đang nhìn ông, có người đã giơ điện thoại lên quay. Người đàn ông cả đời làm vua cái hẻm này, lần đầu tiên không biết phải nhìn đi đâu.
Tôi chìa tay ra.
“Còn một thứ nữa. Mẹ cháu nói trong phong bì có một mảnh giấy. Chú giật của cháu rồi. Đưa đây, hay để công an tới lấy?”
Bàn tay ông đặt lên túi áo, ngập ngừng rất lâu. Rồi ông móc ra mảnh giấy gấp tư đã nhàu nát, mở ra dưới ánh đèn. Ông chỉ đọc có mấy dòng, nhưng cả khuôn mặt ông biến đổi. Môi ông tái xanh. Đôi mắt ông từ từ trượt khỏi tờ giấy, dừng lại trên mặt cô Sáu.
“Đọc to lên,” cô Sáu nói. Giọng cô khàn đặc, như đã biết trước nó viết gì.
Ông không đọc nổi. Tôi giật lại mảnh giấy. Nét chữ con trai, nguệch ngoạc, mực xanh đã phai:
“Hạnh, anh đi đây, em chờ anh. Nếu em có chuyện gì gấp, em tìm cô Sáu bán hủ tiếu đầu hẻm, đưa cô tờ giấy này. Cô biết anh ở đâu. Anh đã nhờ cô giúp em, em đừng để cha anh biết. Quân.”
Tôi đọc xong, ngẩng lên. Cô Sáu đứng đó, mặt trắng bệch, tay bấu chặt vạt áo.
“Cô Sáu,” tôi hỏi, “cô biết ba cháu ở đâu?”
Ông Tư bật dậy trước cả khi cô kịp mở miệng. “Mày biết nó ở đâu? Mười lăm năm nay, mày biết?” Ông gầm lên, giọng vỡ ra như người sắp khóc. “Tao hỏi mày bao nhiêu lần! Tao hỏi mỗi Tết, mày nói không biết, mày thề trước bàn thờ má!”
“Thì anh bắt nó thề không về nhà!” Cô Sáu hét lại, nước mắt chảy ròng ròng. “Anh đ:ánh nó nằm viện ba ngày. Anh nói đời này không có đứa con đó. Nó gọi cho em, khóc như con nít, bắt em thề đừng nói với anh. Em có thể làm gì? Em sợ anh, em thương nó, em giữ nó sống!”
“Nó ở đâu?”
“Em không biết Hạnh là ai! Nó chưa từng nhắc tên! Em thề với anh, em chỉ biết nó gọi về mỗi dịp Tết, nói nó còn sống, rồi cúp máy.” Cô Sáu quay sang tôi, hai tay run run. “Khang, cô thề với con, nếu cô biết mẹ con là người của thằng Quân, cô đã…”
“Cô không biết,” tôi nói. Giọng tôi nhẹ đi. Tôi không giận được cô. Cô là người duy nhất hôm nay cúi xuống nhặt di ảnh mẹ tôi lên.
Ông Tư đứng giữa hẻm, mưa tạt vào mặt, tóc bết lại. Ông nhìn tôi, nhìn con Na, nhìn tấm di ảnh mẹ nằm trên đống đồ ướt với vết nứt chạy dài qua mặt. Rồi ông quỳ xuống.
Ông quỳ trước mặt tôi, thằng nhóc mười bốn tuổi mà ông vừa chỉ mặt chửi.
“Ông… ông xin lỗi con,” ông nói, giọng nghẹn lại. “Ông có mắt như mù. Ông đuổi cha con, rồi ông đuổi luôn con. Ông xin lỗi con, xin lỗi cả bé Na…”
Hai chữ “ông” đó làm sống mũi tôi cay xè. Tôi đã mơ nghe ai đó gọi như vậy từ lâu, từ khi mẹ nằm viện và tôi nhận ra mình chẳng còn họ hàng nào. Nhưng không phải bây giờ, không phải trong khi con Na còn run vì lạnh sau lưng tôi.
“Chú không cần xin lỗi cháu,” tôi nói. “Chú xin lỗi mẹ cháu đi. Mẹ cháu trả tiền phòng cho chú bốn năm, ngày nào cũng quét sân hẻm cho chú, và chú chưa một lần hỏi tên mẹ cháu là gì.”
Ông Tư gục đầu xuống, vai rung lên. Không ai trong hẻm nói thêm câu nào.
Tổ trưởng và hai anh công an khu vực tới sau đó chừng mười lăm phút. Bác tổ trưởng nhìn đống đồ ngập nước, nhìn con Na đang ôm di ảnh run lập cập, rồi nhìn ông Tư, lắc đầu thở dài thật dài. Một anh công an ghi biên bản. Cô Sáu đứng ra làm chứng, bà cụ làm chứng, thêm ba bốn người nữa giơ tay làm chứng. Có người còn đưa luôn đoạn video quay cảnh ông Tư giật di ảnh. Ông Tư không cãi một câu. Ông ký tên vào giấy nhận tiền phòng, ký vào biên bản cam kết không được khóa cửa hay đuổi hai đứa trẻ vị thành niên ra khỏi nơi ở khi chưa có người giám hộ đứng ra, rồi tự tay mở ổ khóa lạ trên cửa.
Anh công an dặn tôi: “Em cứ ở lại phòng. Có chuyện gì gọi số này, anh tới liền.” Rồi anh quay sang ông Tư, giọng nghiêm lại: “Còn bác, bác nên coi lại cách cư xử của mình.”
Cả hẻm tản dần. Có người xách giúp tôi mấy thùng đồ vào phòng. Bà cụ nhét vào tay con Na hai cái bánh bao nóng. Cô Sáu mang qua nồi hủ tiếu, đặt lên cái bàn nhỏ rồi không nói gì, chỉ xoa đầu tôi một cái thật lâu.
Ông Tư không vào nhà. Ông ngồi bệt dưới hiên, trước cửa phòng tôi, ướt sũng, tay ôm đầu. Tôi đóng cửa lại, không khóa.
Gần nửa đêm, Na ngủ rồi, vẫn còn thút thít trong mơ. Tôi ngồi trên giường, dùng băng keo dán lại cái kính nứt của di ảnh mẹ. Tôi nhìn mẹ, rồi nhìn cái nốt ruồi của mình trong tấm gương nhỏ treo trên tường, và lần đầu tiên tôi hiểu vì sao hồi nhỏ mẹ hay nhìn tôi rất lâu rồi quay mặt đi.
Có tiếng gõ cửa, rất nhẹ. Cô Sáu đứng đó, mặt cắt không còn giọt máu, tay cầm điện thoại.
“Khang, cô có chuyện phải nói. Lúc nãy thấy tấm ảnh, cô… cô nhắn cho nó. Cô gửi tấm ảnh qua, kèm một câu: ‘Quân, về đi.’”
Cô chìa màn hình. Tin nhắn gửi đi lúc mười giờ bốn mươi. Bên dưới là một dòng trả lời, chỉ ba phút sau:
“Con đang ở ngoài hẻm.”
Cô Sáu run đến mức điện thoại suýt rơi. “Cô tưởng nó ở Đồng Nai… Cô nhớ ra rồi, hai tháng nay buổi tối cứ có một thằng đàn ông đứng ở đầu hẻm, mưa cũng đứng, cô tưởng người nghiện. Hôm đám tang mẹ con, nó cũng đứng đó. Cô không nhìn kỹ…”
Tôi chưa kịp hỏi thì phía sau lưng cô, ngoài kia, dưới ánh đèn tuýp hắt vàng trên vũng nước, có một bóng người đứng im. Một người đàn ông gầy, ướt sũng, áo khoác sờn vai. Ông nhìn tôi qua khe cửa, đôi mắt đỏ hoe, và ngay dưới đuôi mắt trái là một cái nốt ruồi nhỏ xíu.
Tôi quên cả thở.
Ông ấy mấp máy môi một lúc lâu mới nói được thành tiếng: “Khang… ba…”
Rồi ông thấy tôi lùi lại, thấy tay tôi nắm chặt khung ảnh của mẹ. Ông vội vàng giơ hai tay lên như người đầu hàng.
“Ba không dám xin con gọi ba. Ba chỉ xin con một đêm, đừng cho ai biết ba ở đây. Kể cả ông nội con.” Giọng ông khản đặc, mắt liếc về phía đầu hẻm. “Vì người ba đang trốn không phải ông Tư.”
Đúng lúc đó, ở đầu hẻm, ánh đèn pha của hai chiếc xe máy quét ngang qua mái tôn, rồi dừng lại ngay trước quán hủ tiếu của cô Sáu. Người đàn ông tôi vừa định gọi là ba thì thầm một cái tên lạ hoắc, rồi kéo tôi vào trong, đóng sập cánh cửa lại.
Cánh cửa đóng sập, căn phòng chìm vào bóng tối. Người đàn ông chộp công tắc, tắt luôn cái bóng đèn vàng. Cô Sáu bị ông kéo vào theo, lưng dán chặt vào tường, thở hồng hộc. Trên giường, con Na trở mình, lẩm bẩm gì đó rồi lại ngủ tiếp.
Qua khe cửa sổ, tôi thấy hai bóng đàn ông bước xuống xe trước quán hủ tiếu. Một người đội nón kết. Người kia đầu cạo trọc, ngang chân mày có vệt sẹo trắng, tay xoay xoay chìa khóa xe, mắt quét dọc hai bên hẻm như người đi chợ chọn hàng.
“Cường Sẹo,” người đàn ông thì thào bên tai tôi. “Tụi nó bám theo ba từ Đồng Nai lên đây.”
“Quân!” Cô Sáu rít lên trong cổ họng. “Mày làm cái gì mà để tụi nó theo tới tận đây?”
“Tín dụng đen, cô Sáu.” Ông cúi gằm, hai vai co lại. “Năm ngoái con mở tiệm sửa xe riêng, người hùn vốn cuốn tiền bỏ trốn. Con vay tám chục triệu để trả thợ, trả mặt bằng. Giờ tụi nó đòi ba trăm tám chục. Hôm nay là hạn chót.”
Tôi nhìn ông trong bóng tối. Người đàn ông này có cái nốt ruồi của tôi, nhưng tôi chưa gọi nổi một tiếng “ba”.
“Mười lăm năm,” tôi nói, giọng khô khốc. “Ông đi đâu mười lăm năm?”
“Hai năm đầu, ba về tìm mẹ con,” ông nói nhanh, như sợ tôi ngắt lời. “Mẹ con dọn khỏi phòng cũ rồi, hỏi ai cũng không ra. Ba tìm hoài, tìm hoài. Còn nhà ông nội con thì ba không dám bước vô. Ba hèn.”
“Mẹ nằm viện bốn năm,” tôi nói. “Cháu ngồi ngoài hành lang, buổi tối đi rửa chén kiếm tiền thuốc. Ông ở đâu?”
“Ba không biết…”
“Ông đừng nói ‘không biết’. Ông nói ông đã làm gì đi.”
Ông im một lúc lâu, rồi nói bằng giọng thấp như gió lùa. Hai tháng trước, một ông khách ghé tiệm đưa ông xem bài đăng trên Facebook của hội từ thiện. Bà cụ đầu hẻm đăng kêu gọi giúp đám tang một người phụ nữ nghèo để lại hai đứa nhỏ. Có tấm hình một thằng bé đứng trước bàn thờ, mắt đỏ hoe.
“Ba nhìn cái nốt ruồi,” ông nói. “Ba biết ngay. Ba chạy xe suốt đêm lên đây. Tới nơi thì đám tang đang đưa đi. Ba đứng ở đầu hẻm, không dám bước vô.”
“Sao không dám?”
“Vì tụi nó đi sau ba. Ba mà bước vô thì tụi nó biết con ba ở đâu. Ba nghĩ ba phải trả hết nợ rồi mới có mặt mũi nhìn con.” Ông nuốt khan. “Mấy bịch gạo, thùng sữa, thùng mì trước cửa phòng con suốt hai tháng nay, là ba để.”
Tôi chợt nhớ những buổi sáng mở cửa ra thấy đồ ăn đặt sẵn, tôi cứ tưởng bà cụ hay cô Sáu tốt bụng. Cổ họng tôi nghẹn lại, nhưng tôi không để nó thành nước mắt. Chưa phải lúc.
Rầm. Rầm. Rầm.
Ngoài cửa có tiếng đập. “Anh Quân! Ra đây nói chuyện coi! Xe anh đậu đầu hẻm, tụi tôi thấy hết rồi!”
Con Na giật mình ngồi bật dậy: “Anh Hai…”
“Không sao, em nằm xuống.” Tôi vỗ vỗ lưng em, rồi quay lại thì thấy ông đã đứng sát cửa sổ phía sau, tay vặn chốt.
“Ba đi lối này. Ba dẫn tụi nó đi chỗ khác, không để tụi nó làm khó mấy đứa.”
“Ông chạy nữa hả?”
Ông khựng lại. Tôi bước tới, nắm chặt cổ tay ông. Tay ông lạnh ngắt và gầy trơ xương.
“Ông chạy mười lăm năm rồi. Chạy nữa thì Na với cháu lại không có ba. Hôm nay ông đứng ở đây.”
Tôi cầm chiếc điện thoại cũ của mẹ, bấm số anh công an khu vực ghi trên mẩu giấy. Chuông chưa reo hết hai hồi anh đã bắt máy. Tôi nói thật nhanh, thật khẽ: “Anh ơi, em Khang ở cuối hẻm. Có người đòi nợ tới phòng em, ban đêm, có con nít. Anh tới giúp em.” Giọng anh vang lên chắc nịch: “Giữ cửa đừng cho vô. Anh tới liền.”
Tôi bật ghi âm, nhét điện thoại vào túi áo, rồi tự tay mở cửa.
Cường Sẹo đứng ngay ngưỡng cửa. Gần bốn mươi tuổi, nồng nặc mùi thuốc lá, nụ cười nhếch một bên. Hắn nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi nhìn qua vai tôi.
“Ủa, nhóc con mở cửa? Anh Quân đâu, kêu ra đây.”
“Chú nói chuyện với cháu cũng được,” tôi nói. “Chú tới đòi ai, đòi bao nhiêu, nói cho rõ.”
Hắn bật cười, quay sang thằng đội nón. “Thấy chưa, thằng nhỏ còn bắt tao khai báo.” Rồi hắn cúi xuống, ghé sát mặt tôi. “Anh Quân vay tám chục triệu. Gốc tám chục, lãi ba trăm. Tổng ba trăm tám chục, đêm nay phải đủ.”
“Tám chục triệu mà lãi ba trăm triệu?” Tôi nhắc lại thật chậm, thật rõ. “Chú nói lại số tiền lãi cho cháu nghe nữa đi.”
“Nhóc con biết cái gì mà xen vô!”
“Cháu không biết,” tôi nói. “Nên cháu đang ghi âm để người biết nghe.”
Nụ cười hắn tắt ngúm. Thằng đội nón vừa chồm tới giật điện thoại thì cô Sáu đã lao ra đứng chắn trước mặt tôi. “Tụi bây dám đụng vô thằng nhỏ coi! Cái hẻm này đông người lắm!”
Ông Quân bước ra từ trong bóng tối. Ông không còn giơ tay đầu hàng nữa. “Cường, tao ở đây. Đừng làm ồn, có con nít.”
Hắn chộp cổ áo ông, kéo giật về phía mình. “Không có tiền thì theo tụi tao về, làm cho tới khi trả đủ!”
Con Na bật khóc ré lên sau lưng tôi. Tôi quay đầu lại ôm em thì nghe một giọng nói vang lên từ giữa hẻm, trầm và khản, nhưng khiến hai gã đàn ông khựng lại.
“Buông con tao ra.”
Ông Tư đứng đó, áo ba lỗ ướt lạnh, chân đất, tay cầm cây gậy tre chống cửa. Không biết ông đã về nhà từ lúc nào và ra đây từ khi nào. Ông nhìn người đàn ông bị túm cổ áo, nhìn không chớp mắt. Cả cái hẻm im bặt.
“Ba…” ông Quân gọi, giọng vỡ ra.
Ông Tư không đáp. Môi ông mấp máy mãi mà không thành tiếng. Mười lăm năm hiện ra trên cái khuôn mặt già nua ấy. Tóc ông bạc hết rồi. Ông bước từng bước chậm, rất chậm, tới trước mặt Cường Sẹo, nắm cổ tay hắn bẻ ra khỏi cổ áo con trai mình.
“Tao nói, buông con tao ra.”
“Ông già nào vậy?” Hắn rút tay lại, nhếch mép. “Nhà ông chứa thằng này trốn nợ hả?”
“Nó là con tao.” Ông Tư quay sang Quân, gằn từng chữ. “Mày giỏi. Mày để tụi nó lôi đi mà không thèm gọi cho tao một tiếng.”
“Ba đuổi con mà,” ông Quân nói, nước mắt chảy dài. “Ba nói đời này không có đứa con đó.”
“Tao đuổi mày mười lăm năm trước!” Ông Tư quát, giọng run lên bần bật. “Tao đâu có bảo mày đừng sống! Tao đâu có bảo mày phải một mình ngoài đường, chịu nợ chịu nần mà không dám về nhà!” Ông đưa tay lên mặt, quệt thật mạnh. “Tao hỏi cô Sáu mày mỗi Tết, mười lăm cái Tết. Tao chỉ mong nghe một câu mày còn sống.”
Cô Sáu bật khóc. Cả hai người đàn ông, một già một trẻ, đứng đối diện nhau giữa hẻm tối, không ai nói được gì thêm.
Cường Sẹo huýt sáo một tiếng. “Cảm động quá. Nhưng tình cha con không trả nợ. Ba trăm tám chục, đêm nay.”
“Tao trả,” ông Tư nói. Ông quay đầu nhìn thẳng vào mặt hắn. “Nhưng trả theo luật.”
Đúng lúc đó, ánh đèn xe và tiếng bước chân dồn dập vang ở đầu hẻm. Anh công an khu vực, hôm nay đi cùng cả bác tổ trưởng, bước tới, mắt lướt qua cảnh tượng trước mặt.
“Hai anh đứng yên tại chỗ.”
Cường Sẹo cười gượng. “Công an hả? Tụi em tới thăm bạn thôi mà.”
“Em Khang báo là có người đòi nợ vào ban đêm, đe dọa gia đình có trẻ nhỏ.” Anh quay sang tôi. “Em có ghi âm không?”
Tôi lấy điện thoại ra, bấm phát. Giọng Cường Sẹo vang lên rõ mồn một giữa hẻm: “Gốc tám chục, lãi ba trăm. Tổng ba trăm tám chục, đêm nay phải đủ.” Mặt hắn tái đi. Thằng đội nón lùi ra sau nửa bước.
Anh công an gật đầu, giọng nghiêm lại. “Hai anh nghe cho rõ. Pháp luật không bảo vệ mức lãi vượt quá hai mươi phần trăm một năm. Cho vay lãi nặng, kèm đe dọa, ép buộc người khác có thể bị xử lý hình sự. Mời hai anh về trụ sở làm việc, mang theo hợp đồng vay.”
Ông Quân lục túi áo khoác, rút ra một tờ giấy gấp tư đã mềm nhũn, và cả tờ giấy chuyển khoản. “Con giữ cái này. Tụi nó giải ngân tám chục triệu, con có biên nhận.”
Anh công an cầm lên xem, mặt càng nghiêm. “Tiền gốc là tám chục triệu. Phần còn lại sẽ do cơ quan chức năng xem xét.”
“Để tôi trả tiền gốc ngay tại đây,” ông Tư nói. “Có công an làm chứng, tụi nó ký giấy tất toán, từ nay đừng bén mảng tới hẻm này.”
Cường Sẹo nhìn qua nhìn lại, rồi nhún vai. “Được. Tôi lấy gốc, quên lãi.” Hắn biết, nếu không gật đầu thì phải gật đầu ở đồn.
Ông Tư quay người đi về phía căn nhà cổng sắt xanh. Mười phút sau ông trở ra, ôm một túi vải bạc màu, đặt xuống bậc cửa phòng trọ nơi mới nãy còn đặt tập tiền một triệu hai của tôi. Ông mở túi. Tám chục triệu, buộc dây thun, từng xấp gọn gàng. Phía trên cùng là một tờ giấy ghi nguệch ngoạc: Tiền cưới vợ cho thằng Quân.
Ông Quân nhìn tờ giấy, hai gối khuỵu xuống nền xi măng ướt.
“Ba để dành từ hồi con mười tám,” ông Tư nói, mắt nhìn đi chỗ khác. “Không dám động tới. Tính ngày nào con về thì đưa.”
Chính lúc đó tôi mới hiểu. Người ném di ảnh mẹ tôi như ném rác cũng là người cất tám chục triệu mười bảy năm, chờ đứa con mình đuổi đi quay về. Ông thương con ruột đến mức không dám động vào một đồng. Thế mà ông lại không thương nổi hai đứa trẻ chỉ cách ông một bức tường.
Hai gã đòi nợ ký giấy tất toán dưới ánh đèn pin của công an, rồi bị mời lên xe về trụ sở. Ngày hôm sau tôi nghe anh công an nói hợp đồng vay của chúng đã được lập biên bản, đơn tố cáo của chú Quân về người hùn vốn bỏ trốn cũng được tiếp nhận. Cường Sẹo không dám bén mảng tới hẻm này nữa.
Nhưng đêm đó, trước khi mọi người tản đi, tôi còn một việc phải làm.
Tôi quay lại phòng, bế con Na đã thức giấc ra ngoài hiên. Nó dụi mắt, nhìn đám người lạ rồi ôm cổ tôi. Tôi cầm tấm di ảnh mẹ đã dán băng keo ở kính, đặt lên bậc cửa giữa hai người đàn ông đang quỳ gối.
“Ông Tư,” tôi nói. “Ông thương ba cháu, cháu thấy rồi. Cháu hỏi ông một câu, ông trả lời trước mặt cả hẻm.”
Ông ngẩng lên.
“Na không phải con của ba cháu. Ba của Na là chú Thành, thợ hồ, chú mất vì ngã giàn giáo hồi mẹ cháu m:ang thai Na được năm tháng. Na không mang máu nhà ông.” Tôi siết tay em chặt hơn. “Mẹ cháu viết: ai nhận cháu phải nhận cả em cháu. Bây giờ ông nói đi. Ông nhận cháu, nhưng ông có nhận Na không?”
Cả hẻm nín thở. Con Na ngơ ngác, hai tay bám chặt vai tôi, mắt tròn xoe nhìn ông Tư, cái ông vừa giật di ảnh mẹ nó ném đi.
Ông Tư im thật lâu. Tôi nghĩ ông sẽ nói gì đó dễ nghe, kiểu “con nít con nôi thì có gì”. Nhưng ông không nói. Ông chống tay xuống nền, từ từ cúi rạp người, trán chạm đất, trước tấm di ảnh của mẹ tôi.
“Hạnh à,” ông nói, giọng nhỏ như hơi thở. “Tôi sai rồi. Tôi chê cô nghèo, tôi đuổi con tôi, tôi ném hình cô giữa mưa. Cô trả tiền phòng cho tôi bốn năm, tôi không biết tên cô.” Vai ông run lên. “Hai đứa nhỏ này, tôi xin nhận. Cả hai.”
Ông ngẩng lên, mặt dính đầy nước mưa, nước mắt, bùn đất. Ông nhìn con Na.
“Bé Na, ông xin lỗi con. Ông là ông nội của con, nếu con cho ông làm ông nội.”
Con Na rúc mặt vào cổ tôi, im lặng một hồi rồi thì thầm: “Ông Tư ném hình mẹ.”
“Ừ,” ông nói. “Ông có lỗi. Ông sẽ chuộc lỗi, từ từ.”
“Anh Hai nói sao thì con nói vậy.”
Cả hẻm bật cười khe khẽ trong nước mắt. Tôi nhìn em, rồi nhìn ông Tư, rồi nhìn người đàn ông đang quỳ bên cạnh ông, cái người có nốt ruồi dưới đuôi mắt trái.
“Còn ông,” tôi nói, “cháu chưa gọi ông là ba được. Ông cho cháu thời gian.”
“Ba chờ,” ông Quân đáp. “Mười lăm năm ba còn chờ được, ba chờ thêm cũng được.” Ông nhìn con Na, ngập ngừng. “Ba không phải ba ruột của con. Nhưng nếu con và anh Hai cho phép, ba muốn làm ba của con.”
Na ngẩng lên nhìn tôi, tôi gật đầu. Con bé thò một tay ra, nắm lấy ngón tay trỏ của ông.
Người đàn ông ba mươi lăm tuổi, đã sống sót qua mười lăm năm nợ nần và bỏ xứ, bật khóc như một đứa trẻ.
Mọi chuyện sau đó không êm ái như phim, nhưng đi đúng hướng.
Tuần đầu, ông Tư nằng nặc bắt tôi dọn về nhà cổng sắt xanh. Tôi từ chối. Tôi muốn ở lại phòng trọ thêm một tháng, đến hết hạn hợp đồng mẹ đã ký. Ông không ép. Ông chỉ xách ghế ra ngồi trước hiên mỗi chiều, trông chừng, đưa cho tôi cái bánh mì, đưa cho Na hộp sữa, im lặng. Cô Sáu nói đó là cách ông thương người, vụng về nhưng thật.
Anh công an hướng dẫn chú Quân làm thủ tục. Chú xin giấy xác nhận quan hệ cha con, xét nghiệm ADN để làm giấy khai sinh cho tôi đàng hoàng. Kết quả về, trùng khớp. Khi tôi cầm tờ giấy có tên Lê Minh Quân ở mục “cha”, mắt tôi cay xè nhưng tôi không nói gì.
Chú Quân dọn về ở cùng. Mới đầu, tôi và Na vẫn gọi là “chú”, hay chen vào gọi bằng tên. Rồi một buổi tối nọ, tôi ngồi làm bài, chú ngồi cạnh sửa lại cái cặp cho Na, cái dây kéo hỏng đã nửa năm. Chú loay hoay hơn một tiếng thì xong, giơ cái cặp lên hỏi: “Hết hư rồi, Na coi được chưa?”, con bé ôm cặp chạy tới ôm chầm lấy chú, gọi: “Ba ơi!”
Chú Quân đứng sững. Tôi cũng sững. Tay chú cầm cái tua vít run run.
Tuần sau, ông Tư thay kính mới cho di ảnh của mẹ, đóng một khung gỗ thật chắc. Ông tự tay đặt lên bàn thờ trong nhà cổng sắt xanh, chỗ trang trọng nhất. Ông mua một lư hương mới. Hôm đó tôi thấy ông đứng rất lâu trước tấm hình, miệng lẩm bẩm.
Ngày chúng tôi chính thức dọn đồ về nhà ông, cả hẻm ra giúp. Cô Sáu gói một nồi hủ tiếu đem sang. Bà cụ đầu hẻm nhét vào tay Na cái bánh bao. Chú Bảy ghé qua, đưa tôi một phong bì lương kèm câu: “Con nghỉ rửa chén đi học. Khi nào rảnh thì ghé ăn cơm, chú vẫn trả tiền công.”
Ông Tư lấy ra một cuốn sổ cũ, đặt vào tay tôi. Trong đó là tờ bảng ghi tiền phòng bốn mươi sáu tháng, tờ mà mẹ tôi kẹp trong vở. Ông đã chép lại sạch sẽ, cộng đủ tổng số tiền, ghi thêm một dòng bên dưới: Hoàn trả toàn bộ. Kẹp trong sổ là một xấp tiền được cuộn lại.
“Ông không cần,” tôi nói.
“Đây là tiền mẹ con nhọc nhằn gom từng tháng. Ông không giữ.”
Tôi nhìn xấp tiền, nghĩ về đôi tay chai của mẹ, về những buổi mẹ đi làm về trễ vẫn kịp quét sân hẻm. Tôi nhận lấy, nhưng không phải để tiêu. Tôi gửi vào quỹ học của Na. Mẹ sẽ muốn vậy.
Mấy tuần sau, chú Quân mở lại tiệm sửa xe ngay trước nhà cổng sắt xanh. Biển hiệu do chính tay chú vẽ, ba chữ nhỏ ở góc: Quân – Hạnh. Ông Tư nhìn bảng hiệu, nhăn mặt bảo tên gì kỳ cục, nhưng đêm đó tôi thấy ông ra đứng trước tiệm, lấy khăn lau từng chữ.
Anh công an báo tin hai gã cho vay lãi đã bị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra. Người hùn vốn cuốn tiền bỏ trốn cũng bị xác minh tung tích. Chú Quân nghe xong chỉ thở ra một hơi dài, không nói gì. Tối đó tôi thấy chú ngồi một mình trước bàn thờ mẹ, nói chuyện rất khẽ, như sợ làm ai thức giấc.
Đêm cuối cùng trước khi rời căn phòng trọ, tôi mở lại lá thư của mẹ. Hôm trước tôi đọc to cho cả hẻm nghe, nhưng có vài dòng ở cuối trang ba tôi chưa từng đọc ra.
“Mẹ không bắt hai con phải tha thứ cho ai. Mẹ chỉ mong hai con có một mái nhà mà không ai dám khóa cửa. Nếu một ngày hai con thấy có người thật lòng nhận hai con, thì đừng quay lưng chỉ vì sợ bị tổn thương thêm lần nữa. Mẹ thương hai con.”
Tôi gấp lá thư lại, đặt vào lòng bàn tay. Trên tường căn phòng trống, cái bóng đèn vàng vẫn lắc lư theo gió.
Giờ đây mỗi chiều đi học về, tôi đều nghe tiếng con Na từ trong nhà vọng ra, lanh lảnh khắp hẻm: “Ông nội ơi, ba ơi, anh Hai về rồi, ăn cơm thôi!”
Cánh cửa nhà cổng sắt xanh mở toang. Không ai khóa nữa.
-HẾT-