CHỈ THIẾU BA TRĂM NGHÌN MUA TIVI, TRƯỞNG BAN PHỤ HUYNH N:ÉM TỜ HAI TRĂM NGHÌN XUỐNG SÀN, Q:UÁT TRƯỚC CẢ LỚP: “KHÔNG CÓ T:IỀN THÌ ĐỪNG ĐẺ CON ĐI HỌC!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

CHỈ THIẾU BA TRĂM NGHÌN MUA TIVI, TRƯỞNG BAN PHỤ HUYNH N:ÉM TỜ HAI TRĂM NGHÌN XUỐNG SÀN, Q:UÁT TRƯỚC CẢ LỚP: “KHÔNG CÓ T:IỀN THÌ ĐỪNG ĐẺ CON ĐI HỌC!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

Có thể là hình ảnh về trẻ em và văn bản

(Tiếp theo phần 1)

Người đàn ông bước thẳng xuống giữa lớp, đặt chiếc cặp da cũ lên bàn đầu rồi cúi chào cô Lan rất lễ phép.

“Xin lỗi cô và các anh chị đã làm gián đoạn buổi họp. Tôi là Nguyễn Văn Quyền, luật sư. Tôi chỉ xin vài phút.”

Chị Diệp lấy lại bình tĩnh nhanh hơn tôi tưởng. Chị bước ra chắn ngang lối đi, khoanh tay: “Họp phụ huynh chứ có phải cái chợ đâu mà ai muốn vào cũng vào? Anh có giấy của nhà trường không?”

“Tôi không cần giấy của nhà trường. Tôi cần chị Hà.” Ông Quyền không thèm liếc chị Diệp, mắt vẫn nhìn tôi. “Sáng nay tôi gọi chị ba cuộc. Hai năm trước chị đổi số, đổi chỗ ở, tôi phải hỏi khắp người quen của anh Hiếu mới lần ra trường của cháu An.”

Hai năm rồi, tôi mới nghe lại tên chồng mình từ miệng một người lạ. Hai chân tôi nhũn ra, nhưng tôi vẫn đứng thẳng.

Cô Lan lúng túng mời hai chúng tôi sang phòng hội đồng. Tôi lắc đầu, nhìn thẳng vào chị Diệp.

“Không cần đâu cô. Chị Diệp vừa bảo khổ thì đừng đẻ con đi học trường này. Vậy chuyện nhà tôi, để cả lớp cùng nghe cũng được.” Tôi quay sang cô Lan, hạ giọng: “Em chỉ nhờ cô cho người trông các cháu ngoài hành lang một lát, để An khỏi phải nghe.”

Cô Lan gật đầu, vội chạy ra cửa. Ông Quyền mở cặp, lấy ra một phong bì giấy vàng sờn góc, một chiếc USB nhỏ và một cuốn sổ tiết kiệm bọc nilon, đặt lần lượt lên bàn trước mặt tôi.

“Anh Hiếu làm thợ máy cưa ở xưởng gỗ Thịnh Phát tám năm. Anh ấy đến văn phòng tôi hai lần. Lần đầu, chín ngày trước khi xảy ra tai nạn, anh ấy đưa tôi cái USB này. Lần hai, sáu ngày trước, anh ấy mang cuốn sổ này tới. Anh ấy dặn: nếu anh ấy có chuyện, bằng mọi giá phải tìm cho ra vợ con anh ấy.”

Xưởng gỗ Thịnh Phát. Tôi biết cái tên đó, nhưng Hiếu chưa bao giờ kể chuyện nhà ông chủ, mà tôi cũng chưa từng gặp vợ ông ấy. Lúc nghe người ta bảo chị Diệp là vợ một ông chủ xưởng gỗ, tôi đâu dám nghĩ xa, vì tỉnh này có cả trăm cái xưởng gỗ.

“Chủ xưởng là ông Lê Quang Thịnh,” ông Quyền nói chậm rãi, rồi lần đầu tiên quay hẳn sang chị Diệp. “Còn vợ ông ấy đang đứng chắn lối đi của chúng ta.”

Hơn bốn mươi cặp mắt quay sang chị Diệp. Chị bật c:ười, tiếng c:ười the thé: “Anh nói đùa à? Chồng tôi có cả trăm thợ, tôi biết ai tên Hiếu?”

Nhưng lúc chị đưa tay vuốt tóc, tôi nhìn thấy chiếc nhẫn ngọc xanh trên ngón áp út. Máu trong người tôi như đông lại.

Hai năm trước, đúng ngày thứ ba sau đám tang, có một người phụ nữ đeo khẩu trang kín mít, đeo cả kính râm, gõ cửa phòng trọ của tôi. Chị ta đặt xuống bàn một phong bì hai mươi tr:iệu và một tờ giấy, nói gọn lỏn: “Gia đình ông chủ chia buồn, chị ký vào đây cho xong chuyện.” Lúc đó tôi còn mặc áo tang, đầu óc trống rỗng, cứ thế ký. Cả buổi hôm ấy, tôi chỉ nhớ hai thứ: giọng nói lạnh tanh và chiếc nhẫn ngọc xanh khi chị ta cầm bút chỉ vào chỗ ký.

“Hai năm trước có người tới phòng trọ của tôi,” tôi nói, giọng khô khốc. “Đeo khẩu trang, đeo kính. Chị ta đưa tôi hai chục tr:iệu và một tờ giấy bắt tôi ký. Tôi chỉ nhớ cái giọng này, và cái nhẫn này.”

Chị Diệp rụt tay giấu ra sau lưng. “Chị nhầm người rồi!”

“Có thể chị Hà nhầm,” ông Quyền bình thản đáp. “Nhưng cái này thì không nhầm được.”

Ông cắm USB vào chiếc máy tính bảng, bật loa hết cỡ.

Màn hình hiện ra gương mặt chồng tôi. Hiếu mặc bộ quần áo bảo hộ bạc màu, đứng cạnh một chiếc máy cưa lớn dưới ánh đèn xưởng vàng vọt. Anh gầy hơn trong trí nhớ của tôi. Giọng anh thì thào, khàn khàn, nhưng vẫn là giọng của anh.

“Ngày mười hai tháng tám. Tôi là Hiếu, thợ máy cưa số ba xưởng Thịnh Phát. Cảm biến an toàn của máy hỏng ba tuần rồi, báo mãi không ai sửa. Hôm nay bà chủ nhắn tin bảo tắt luôn cho kịp đơn bàn ghế giao cho trường tiểu học.”

Anh giơ đ:iện th:oại lên trước ống kính. Trên màn hình là một tin nhắn, từng chữ đều rõ: “Tắt cảm biến đi cho chạy kịp. Trễ đơn trường là tôi trừ lương cả xưởng. – Diệp.”

Anh hạ đ:iện th:oại xuống, nhìn thẳng vào ống kính: “Tôi quay lại để lỡ có chuyện thì còn có bằng chứng. Con gái tôi sắp vào lớp một. Tôi không muốn nó ngồi vào cái bàn mà bố nó phải liều thân để làm.”

Video dừng. Cả lớp im phăng phắc, chỉ nghe tiếng quạt trần kêu cọt kẹt. Tôi cắn ch:ặt môi, không cho mình khóc. Hai năm nay tôi cứ tự trách mình chưa kịp hỏi anh hôm đó có chuyện gì. Hóa ra anh đã nói hết rồi, chỉ là tôi nghe muộn quá.

Chị Diệp tái mét, nhưng chỉ mất vài giây để gào lên: “Dựng chuyện! Tin nhắn thì ai chẳng làm giả được! Chồng chị ta ch:ết vì uống rượu lúc làm việc, có biên bản, có cả giấy cam kết chị ta tự tay ký!”

“Chồng tôi cả đời không đụng một giọt rượu.” Tôi bước lên một bước. “Giấy cam kết tôi ký lúc còn đang mặc áo tang, người đưa giấy che kín m:ặt không dám cho tôi nhìn. Nếu tin nhắn đó là giả, chị chỉ cần mở đ:iện th:oại, cho cô Lan xem khung chat với số của chồng tôi. Mở đi.”

Chị Diệp siết ch:ặt chiếc đ:iện th:oại vào ng:ực: “Tôi không có nghĩa vụ trình cái gì cho chị!”

“Hôm nay thì không,” ông Quyền đáp. “Nhưng cơ quan công an sẽ yêu cầu.”

Tôi quay sang ông: “Anh Quyền, tôi muốn làm đơn tố cáo, yêu cầu điều tra lại vụ tai nạn của chồng tôi. Anh giúp tôi được không?”

“Đơn tôi chuẩn bị từ hai năm trước, chỉ chờ chị ký tên.” Ông gật đầu. “Tờ cam kết kia tôi đã nghiên cứu. Ký trong lúc bị giấu thông tin quan trọng thì không có giá trị như họ nghĩ. Còn phí luật sư, anh Hiếu đã trả trước cho tôi rồi.”

Cuốn sổ tiết kiệm vẫn nằm trên bàn. Tôi liếc thấy con số trên trang đầu: một trăm năm mươi tr:iệu, đứng tên con gái tôi. Lương thợ của Hiếu chưa bao giờ quá tám tr:iệu một tháng. Một câu hỏi lướt qua đầu, nhưng tôi gạt đi. Bây giờ chưa phải lúc.

Thấy gió đổi chiều, chị Diệp quay sang cô Lan, giọng ngọt xớt như chưa có chuyện gì: “Cô ơi, mình họp tiếp đi cô, đừng để người ngoài làm loạn buổi họp của lớp.”

“Phải rồi, họp tiếp đi.” Tôi giơ đ:iện th:oại lên. “Lúc nãy chị bảo cả lớp phải chờ mẹ con tôi. Giờ tôi xin cả lớp chờ chị trả lời một con số.”

Tôi mở tấm ảnh vừa chụp, phóng to tờ hóa đơn, quay màn hình ra cho cả lớp thấy. “Bốn mươi mốt nhà đã nộp đủ năm trăm nghìn, tức là hai mươi tr:iệu rưỡi. Hóa đơn tivi năm mươi lăm inch này bảy tr:iệu chín, đã gồm giá treo và công lắp đặt, dòng cuối ghi rõ. Mười hai tr:iệu sáu trăm nghìn còn lại đi đâu, chị Diệp?”

Cả lớp ồ lên. Anh Cường ngồi bàn thứ hai, nghe nói làm kế toán cho một công ty vận tải, đứng dậy: “Chị Hà cho tôi xem ảnh một chút.” Anh nheo mắt nhìn, nhẩm nhẩm, rồi gật gù: “Đúng rồi. Lệch đúng chừng đó.”

“Còn… còn quỹ nước uống, trang trí, chi phí đi lại nữa chứ!” Chị Diệp lắp bắp. “Tôi bỏ cả buổi chiều đi mua tivi, chẳng lẽ không được hưởng chút công sức à?”

“Chị nói với cả lớp là thu t:iền để mua tivi, chứ đâu phải thu để chị hưởng công sức.” Người lên tiếng là chị Oanh, người lúc nãy còn xì xào chuyện nhà tôi góa chồng. M:ặt chị đỏ bừng, giọng run run: “Năm ngoái chị cũng thu hai trăm nghìn mỗi nhà để mua quạt trần. Quạt trên đầu mình vẫn là cái cũ kêu cọt kẹt từ hồi lớp hai.”

Như sợi dây bị căng quá lâu, bao nhiêu cái cúi đầu im lặng nãy giờ bỗng bật dậy. Một anh bố gõ bàn: “Đưa sổ quỹ đây cho mọi người xem!” Một chị khác chen vào: “T:iền ủng hộ lũ lụt hồi trước cũng qua tay chị ấy đấy!”

Chị Diệp ôm ch:ặt cuốn sổ quỹ vào ng:ực như ôm cái phao. Cô Lan, tay vẫn còn run, bước tới: “Chị Diệp, chị đưa sổ cho tôi giữ. Tôi sẽ báo thầy hiệu trưởng.”

“Cô không có quyền!” Chị rít lên. Anh Cường đã rút đ:iện th:oại ra quay: “Cô cứ gọi thầy Bình xuống. Còn tôi quay lại từ giờ cho chắc.”

Nhìn mấy chục chiếc đ:iện th:oại đồng loạt giơ lên, chị Diệp buông tay. Cuốn sổ quỹ rơi vào tay cô Lan.

Tôi móc từ túi áo ra tờ hai trăm nghìn đã nhàu nát, vuốt phẳng, đặt vào lòng bàn tay cô. “Cô giữ giúp em. Khi nào sổ quỹ rõ ràng, em nộp đủ năm trăm, không thiếu một đồng. Còn bây giờ em không nộp cho bất kỳ ai trong ban này.”

Thầy hiệu trưởng Bình xuống sau mười phút, áo sơ mi nhàu nhĩ như vừa bị gọi giữa buổi. Thầy nghe cô Lan báo cáo, xem sổ quỹ, xem ảnh, rồi xem cả video trên máy tính bảng của ông Quyền. Thầy im lặng rất lâu. Rồi thầy đặt tay xuống bàn, giọng nặng trịch:

“Từ hôm nay, trường tạm dừng mọi khoản thu của lớp này. Ban phụ huynh giải thể. Toàn bộ sổ sách do anh Cường và cô Lan kiểm tra, ai thu sai phải hoàn trả cho từng gia đình. Còn đơn bàn ghế xưởng Thịnh Phát giao cho trường hai năm trước, tôi sẽ cho rà lại hợp đồng và làm việc riêng với luật sư.”

Chị Diệp ngồi sụp xuống chiếc ghế nhỏ của học sinh, hai tay buông thõng. Chị không còn gào nữa. Chị chỉ nhìn tôi, ánh mắt không còn khinh miệt, mà là một thứ gì đó tôi chưa kịp đọc ra.

Ông Quyền đưa tôi tấm danh thiếp: “Chị ký đơn sớm ngày nào tốt ngày đó. Bản USB tôi đã sao lưu ở ba nơi, chị yên tâm. Nhưng từ giờ chị đừng đi một mình, và đừng nhận bất kỳ phong bì nào của người lạ.”

Tôi gật đầu, gói cuốn sổ và phong bì vào túi, kéo khóa thật ch:ặt, rồi ra hành lang tìm An. Vừa tới góc cầu thang vắng người, một bàn tay g:iật mạnh cánh tay tôi lại.

Là chị Diệp. Tóc chị rối, son môi lem, nhưng giọng thì đã bình tĩnh trở lại, đáng sợ hơn lúc gào.

“Năm chục tr:iệu.” Chị nói nhỏ, mắt đảo quanh. “Đưa tôi cái USB, xóa mấy tấm ảnh kia đi. Chị nuôi con một mình, năm chục tr:iệu đủ cho chị sống cả năm.”

“Hai năm trước chị mua chữ ký của tôi bằng hai chục tr:iệu,” tôi nhìn thẳng vào mắt chị, tay đã thôi run. “Lúc đó tôi chưa biết gì. Hôm nay tôi biết rồi, năm chục hay năm trăm cũng không mua nổi nữa.”

M:ặt chị Diệp biến sắc. Chị ghé sát tai tôi, giọng đanh lại: “Chị đừng tưởng mình thắng. Chị biết gì về chồng chị mà đứng đây làm thánh? Về nhà mở kỹ cuốn sổ trong túi chị ra mà xem.”

Tôi chưa kịp hỏi thì có tiếng chân chạy rầm rập. Cu Khôi chạy tới, một tay nắm tay An, tay kia ôm hộp bánh: “Mẹ ơi, con chia bánh cho bạn An rồi. Mẹ đừng mắng mẹ bạn nữa, bạn ấy khóc đấy.”

Chị Diệp sững người. Một giây thôi, tôi thấy m:ặt chị chùng xuống. Rồi chị g:iật tay con trai, kéo thẳng ra cổng, không ngoảnh lại.

Tôi ngồi xuống ôm An. Con bé dụi đầu vào vai tôi, thì thầm: “Mẹ ơi, mẹ thắng rồi hả mẹ?”

“Mẹ chỉ nói sự thật thôi con.”

Tiếng bước chân vội vã vang lên sau lưng. Cô Lan chạy theo, thở hổn hển, dúi tờ hai trăm nghìn vào tay tôi: “Chị cầm lại đi. Cuối tuần hai mẹ con còn phải ăn nữa. Khi nào có ban mới, chị nộp sau cũng được.”

Cổ họng tôi nghẹn lại. Tôi nhận lấy, chỉ kịp nói: “Em cảm ơn cô. Em nộp đủ, em hứa.”

Tối đó, tôi nấu hai bát mì, hai mẹ con ngồi ăn dưới ánh đèn vàng của phòng trọ. An kể líu lo chuyện Khôi cho bánh, rồi ngủ thiếp đi trên chiếc chiếu nhỏ. Tôi tắt bớt đèn, lấy phong bì giấy vàng ra, run run bóc từng lớp.

Bên trong là một lá thư gấp tư, nét chữ nghiêng nghiêng của Hiếu:

“Hà ơi, nếu em đọc được thư này thì anh không còn ở cạnh hai mẹ con nữa. Anh xin lỗi. Cuốn sổ này là của con, em đừng để ai biết. Nếu sau này có ai nói anh sai, em cứ nhớ, anh làm tất cả là vì hai mẹ con.”

Tôi đọc đi đọc lại, đọc đến khi chữ nhòe đi. “Làm tất cả vì hai mẹ con.” Hai năm nay tôi nhớ anh vì những bữa cơm, vì tiếng cười của anh. Chưa bao giờ tôi nghĩ có một phần cuộc đời anh mà tôi không hề biết.

Điện thoại rung lên trên chiếu. Một tin nhắn từ số lạ, kèm theo một tấm ảnh.

“Chị tưởng chồng chị là thánh à? Hỏi luật sư của chị xem anh ta đã nhận của nhà tôi bao nhiêu t:iền trước ngày ch:ết.”

Tôi mở ảnh ra. Đó là một tờ ủy nhiệm chi của ngân hàng, người chuyển là Công ty Thịnh Phát, người nhận là Hiếu. Số t:iền: một trăm năm mươi tr:iệu đồng. Ngày chuyển: sáu ngày trước ngày tai nạn.

Tay tôi lạnh buốt khi cầm cuốn sổ tiết kiệm lên, lật trang đầu. Một trăm năm mươi tr:iệu. Ngày gửi trùng khớp từng con số với tờ giấy trên màn hình.

Người chồng vừa quay video tố cáo ông chủ, sáu ngày sau lại nhận của chính ông chủ một trăm năm mươi tr:iệu, rồi gửi vào sổ đứng tên c:on g:ái. Và sáu ngày sau nữa, anh m:ất. Tôi ngồi bất động trong căn phòng trọ tối om, trong đầu chỉ còn một câu hỏi không dám nói thành lời: Rốt cuộc anh quay đoạn video đó để tố cáo họ, hay để bán sự im lặng của mình với giá một trăm năm mươi tr:iệu?

Tôi ngồi bất động bao lâu, tôi không biết. Chiếc quạt cũ trên trần quay đều, tiếng An thở nhè nhẹ bên cạnh. Tôi nhìn tấm ảnh trên màn hình đ:iện th:oại cho đến khi những con số nhòe thành một vệt sáng.

Một trăm năm mươi tr:iệu. Tôi nghĩ đến chiếc áo bảo hộ bạc màu của Hiếu, đến đôi dép mòn gót anh không chịu thay, đến những bữa cơm anh gắp hết miếng thịt vào bát con. Người đàn ông ấy cả đời không tiêu quá tay một đồng. Nếu anh muốn bán sự im lặng, anh đã không quay đoạn video đó, không đi tìm luật sư, không viết cho tôi lá thư ấy.

Nhưng nỗi sợ vẫn bám lấy tôi. Tôi đã sống cạnh anh tám năm mà không biết anh có cả một nửa cuộc đời khác. Vậy ai dám chắc tôi biết hết con người anh?

Tôi lấy tấm danh thiếp, bấm số. Chuông chưa đổ hết hai hồi thì đầu dây bên kia đã b:ắt máy.

“Chị Hà. Tôi đoán đêm nay chị sẽ gọi.”

Giọng tôi khô khốc: “Anh Quyền, có người vừa gửi cho tôi tờ ủy nhiệm chi. Anh Hiếu nhận của xưởng Thịnh Phát một trăm năm mươi tr:iệu. Anh biết chuyện này, đúng không?”

Đầu dây im lặng vài giây. “Tôi biết. Và hôm nay tôi cố tình chưa nói. Chị vừa đứng giữa lớp học trước bốn mươi gia đình, nếu tôi đặt thêm chuyện này lên vai chị, chị sẽ phải mang nó về một mình. Tôi định sáng mai trình bày đầy đủ. Nhưng nếu chị đã nhận tin này thì không nên để chị thức trắng. Tôi đang ở đầu hẻm nhà chị. Tôi không yên tâm nên ghé qua.”

Mười lăm phút sau, tôi ngồi với ông Quyền ở cái bàn nhựa trước dãy phòng trọ, cửa phòng mở hé để tôi còn nhìn thấy An ngủ. Ông không vòng vo. Ông đặt lên bàn chiếc USB, rồi lấy ra một tờ giấy in màu.

“Đây là bản gốc tờ ủy nhiệm chi. Chị nhìn xuống dưới cùng.”

Tôi nhìn. Tấm ảnh trong đ:iện th:oại tôi chỉ có phần trên, bị cắt vừa sát dòng người chuyển, người nhận, số t:iền. Còn ở bản gốc, bên dưới có thêm một dòng nội dung: “Hỗ trợ gia đình thợ Hiếu. Người nhận cam kết không cung cấp thông tin về vi phạm an toàn lao động tại xưởng.”

Tôi đọc hai lần, tay bám ch:ặt mép bàn.

“Họ không đưa t:iền vì thương anh Hiếu,” ông Quyền nói. “Cuối tháng tám, sau khi quay đoạn video, anh ấy gặp ông Thịnh. Anh ấy nói rất rõ: sửa cảm biến ngay, nếu không anh ấy sẽ báo thanh tra lao động. Ông Thịnh không sửa. Ông ta đưa ra một trăm năm mươi tr:iệu để anh ấy im miệng. Anh Hiếu nhận.”

“Vì sao anh ấy nhận?” Giọng tôi vỡ ra.

“Vì anh ấy hiểu một điều mà nhiều người không hiểu: lời nói không bằng chứng thì vô giá trị, còn một dòng chữ có dấu ngân hàng thì ai cãi cũng khó. Anh ấy đòi họ chuyển khoản qua công ty, ghi rõ nội dung, đồng thời bật máy ghi âm trong túi áo. USB có hai tệp. Hôm nay tôi chỉ mở tệp thứ nhất.”

Ông cắm USB vào máy tính bảng, bật tệp thứ hai. Đó là một cuộc trò chuyện có tiếng quạt máy ồn ào. Tôi nghe thấy giọng Hiếu, bình tĩnh đến lạ: “Anh Thịnh, tôi nhận t:iền này không phải để im lặng. Tôi chỉ hỏi lần cuối, anh có sửa cảm biến không?”

Một giọng đàn ông khác, ồm ồm, ngạo mạn: “Sửa làm gì, chạy tốt đấy thôi. Một trăm rưỡi tr:iệu bằng mấy năm lương của cậu rồi, cầm lấy mà câm miệng. Đơn trường tiểu học giao không kịp, tôi mất cả hợp đồng, cậu gánh nổi không?”

Rồi tiếng bước chân, tiếng cửa. Hết.

Tôi bịt miệng, không để tiếng nấc lọt ra ngoài. Qua cánh cửa hé, An trở mình, tôi sợ con tỉnh. Ông Quyền lặng lẽ đẩy cho tôi cốc nước.

“Anh ấy cất toàn bộ số t:iền vào sổ đứng tên c:on g:ái,” ông nói tiếp, giọng thấp xuống. “Anh dặn tôi: đây là t:iền họ trả để mua sự im lặng của một người cha, nhưng nó sẽ là bằng chứng, và nếu anh ấy có chuyện thì là t:iền của con tôi. Chị hỏi anh ấy là người thế nào, tôi nói thật, tôi chưa gặp ai sợ mà vẫn làm đúng như anh ấy.”

Tôi cúi đầu rất lâu. Lá thư của Hiếu nằm trong túi áo, tôi lấy ra, đọc lại dòng cuối: Nếu sau này có ai nói anh sai, em cứ nhớ, anh làm tất cả là vì hai mẹ con.

Anh đã đoán trước. Anh biết sẽ có người dùng chính một trăm năm mươi tr:iệu ấy để bôi nhọ anh.

“Sáng mai chúng ta đến cơ quan công an,” tôi nói, giọng đã vững lại. “Tôi ký đơn.”

Sáng hôm sau, tôi gửi An cho cô chủ trọ trông, mặc lại chiếc áo sơ mi đẹp nhất. Cơ quan điều tra tiếp nhận đơn tố cáo, thu bản sao USB, bản gốc ủy nhiệm chi, tờ cam kết tôi từng ký, lời khai của tôi về người phụ nữ đeo khẩu trang và chiếc nhẫn ngọc xanh. Vị điều tra viên hỏi tôi nhiều lần: “Chị có chắc nhận ra giọng người phụ nữ ấy không?”

“Hai năm, đêm nào tôi cũng nghe lại giọng đó,” tôi đáp. “Tôi không thể không nhận ra.”

Chiều cùng ngày, thầy Bình gọi điện báo: hợp đồng bàn ghế xưởng Thịnh Phát giao cho trường hai năm trước đã được rà soát, gỗ không đúng chủng loại, số lượng khai khống. Hóa ra không chỉ cái chết của Hiếu, ngay cả những chiếc bàn bọn trẻ đang ngồi cũng được làm bằng sự gian dối.

Năm ngày sau, tôi nhận giấy mời đối chất.

Phòng làm việc nhỏ, bốn bức tường sơn trắng đã ngả vàng, một cái quạt cũng kêu cọt kẹt như quạt lớp An. Tôi ngồi bên này bàn cùng ông Quyền. Bên kia là ông Lê Quang Thịnh, một người đàn ông to béo, mặc áo sơ mi lụa, đi cùng một luật sư riêng. Chị Diệp ngồi cạnh chồng, không son phấn, mặt hốc hác. Chiếc nhẫn ngọc xanh không còn trên tay chị.

Điều tra viên nhìn từng người, rồi nói ngắn gọn về nội dung vụ việc. Ông Thịnh nhếch mép trước khi ông ấy nói hết:

“Thưa cán bộ, tôi thương tình mới hỗ trợ gia đình người thợ không may. Còn cái anh Hiếu ấy, tôi xin nói thẳng, hắn tống t:iền tôi. Cầm một trăm rưỡi tr:iệu của tôi rồi quay clip dựng chuyện, đó là t:ống t:iền, là lừa đảo. Người đã ch:ết thì tôi không nói nhiều, nhưng vợ con hắn đừng hòng lợi dụng.”

Ông Quyền không vội. Ông chỉnh lại gọng kính, đặt máy tính bảng ngay ngắn giữa bàn.

“Ông Thịnh nói tiền ấy là t:iền ông chủ động đưa, không phải bị t:ống t:iền. Vậy tôi xin phép bật một đoạn ghi âm.”

Luật sư của ông Thịnh đứng bật dậy phản đối, điều tra viên giơ tay cho phép. Tiếng quạt máy xưởng gỗ vọng lên từ chiếc loa, rồi giọng Hiếu: “Anh Thịnh, tôi nhận t:iền này không phải để im lặng. Tôi chỉ hỏi lần cuối, anh có sửa cảm biến không?”

Rồi giọng ông Thịnh, ồm ồm, ngạo mạn như cách đây hai năm, từng chữ vang rõ giữa căn phòng: “Sửa làm gì, chạy tốt đấy thôi. Một trăm rưỡi tr:iệu bằng mấy năm lương của cậu rồi, cầm lấy mà câm miệng.”

Mặt ông Thịnh từ đỏ chuyển sang xám. Luật sư của ông cúi xuống thì thầm gì đó, ông gạt phắt đi: “Đó là cắt ghép!”

“Tệp gốc đã được giám định kỹ thuật, hồ sơ giám định có trong bộ tài liệu,” điều tra viên nói, lật một trang giấy. “Ông Thịnh, ông còn muốn tôi đọc thêm không? Chúng tôi vừa làm việc với ông Bảy, quản đốc xưởng. Ông Bảy khai chính ông chỉ đạo lập biên bản anh Hiếu uống rượu trong giờ làm, thậm chí biên bản đó được in sẵn từ trước khi có kết quả kiểm tra.”

Không khí trong phòng đặc quánh lại. Tôi nghe tiếng tim mình đ:ập chậm, nặng. Hai năm trời tôi sống với một cái nhãn dán lên tên chồng tôi, kẻ say rượu, kẻ tự làm mình ch:ết. Giờ có người đọc to lên rằng cái nhãn ấy được in từ trước.

Chị Diệp bỗng bật khóc. Không phải tiếng khóc gào lên giữa lớp học hôm nọ, mà là tiếng khóc nghẹn, rút ra từ rất sâu. Chị úp mặt vào hai bàn tay.

“Em im đi!” ông Thịnh quát.

“Tôi không im nữa!” Chị Diệp ngẩng lên, nước mắt chảy dọc hai bên má. “Tôi mệt rồi. Hai năm nay đêm nào tôi cũng không ngủ được.”

Chị quay sang điều tra viên, giọng lạc đi: “Tin nhắn bảo anh Hiếu tắt cảm biến là của tôi. Tôi nhắn, vì ông Thịnh bảo tôi nhắn. Ông ấy nói nếu trễ đơn trường tiểu học thì cả nhà mất trắng, xưởng đang nợ ngân hàng. Tôi tưởng chỉ tắt tạm vài hôm. Tôi không nghĩ…”

Chị nghẹn lại. Căn phòng chỉ còn tiếng quạt.

“Đến lúc anh ấy ch:ết, ông Thịnh bảo tôi đi gặp vợ anh ấy, đưa hai chục tr:iệu, bắt ký giấy. Tôi đi. Tôi đeo kính, đeo khẩu trang vì tôi sợ bị nhận ra. Nhưng chị ấy vẫn nhìn thấy cái nhẫn của tôi.” Chị quay sang nhìn tôi, lần đầu tiên không hề lảng tránh. “Chị Hà, tôi biết chị từ ngày đầu năm học, từ lúc thấy cái tên Nguyễn Hà An trong danh sách lớp. Tôi nhận ra họ của anh Hiếu, tôi tra cả địa chỉ. Tôi sợ chị biết, tôi sợ chị nhận ra tôi, nên tôi cứ muốn chị biến khỏi lớp, khỏi trường. Tôi nghĩ nếu ép chị khổ quá, chị sẽ chuyển trường cho con. Tôi đã làm đủ mọi cách, kể cả cái hôm vo tờ t:iền ném xuống sàn…”

Tôi nhìn chị. Tất cả những lần chị nhìn tôi bằng ánh mắt đó, cái ánh mắt tôi chưa kịp đọc ra ở hành lang hôm ấy, hóa ra không phải khinh miệt. Là sợ hãi. Nhưng sợ hãi không phải cái cớ để người ta giẫm lên một người mẹ đang khất ba trăm nghìn, càng không phải cái cớ để che đi một mạng người.

“Chị sợ,” tôi nói chậm rãi, từng chữ. “Nhưng chị đã chọn sợ bằng cách làm khổ người khác. Nếu hôm ấy chị đến nhận tội với tôi, chỉ cần một câu thôi, tôi có thể còn thấy chị là người. Còn chị chọn bịt miệng tôi bằng hai chục tr:iệu, rồi bằng năm chục tr:iệu, rồi bằng những lời nói trước mặt con tôi.”

Chị Diệp khóc, không cãi lại được một chữ.

Ông Thịnh đập bàn đứng dậy, luật sư của ông kéo ông xuống. Điều tra viên nhấn nút gọi, hai cán bộ bước vào. Ông Thịnh vẫn gào: “Con đàn bà ngu! Cô khai ra thì cả nhà này c:hết hết!”

Chị Diệp ngẩng nhìn chồng, ánh mắt chị lúc ấy lạnh đi, như chưa từng quen biết người đàn ông ấy. “Anh đã giết một người rồi. Anh còn muốn giết ai nữa?”

Căn phòng lặng đi.

Phần còn lại diễn ra trong vài tuần, nhanh hơn tôi tưởng và cũng chậm hơn tôi mong.

Ông Thịnh bị khởi tố, bắt tạm giam về hành vi vi phạm quy định an toàn lao động dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, cùng với các hành vi gian dối trong hợp đồng bàn ghế và mua chuộc, che giấu sự thật. Ông Bảy khai thêm cả danh sách những lần xưởng báo cáo sai số liệu. Xưởng gỗ Thịnh Phát bị đình chỉ hoạt động để kiểm tra toàn bộ hệ thống máy móc. Sau ngày ấy, có thêm ba bốn người thợ cũ tìm đến văn phòng ông Quyền, kể về những lần suýt bị tai nạn mà không dám nói.

Chị Diệp bị khởi tố vì chỉ đạo tắt thiết bị an toàn, vì đến gặp tôi ép ký giấy cam kết, và vì chiếm đoạt quỹ lớp. Cô Lan cùng anh Cường rà sổ quỹ cả hai năm. Số t:iền chị lấy cao hơn cả những gì tôi tính trong ngày hôm ấy. Quỹ quạt trần năm ngoái, quỹ ủng hộ lũ lụt, thậm chí cả khoản t:iền mừng cô giáo ngày Nhà giáo. Chị hoàn trả từng đồng cho từng nhà, bằng chiếc nhẫn ngọc xanh và vài món trang sức cuối cùng.

Tờ giấy cam kết tôi ký lúc mặc áo tang bị tuyên vô hiệu, vì người ép ký đã cố tình che giấu thông tin quan trọng. Gia đình tôi được bồi thường theo đúng quy định pháp luật. Khoản một trăm năm mươi tr:iệu Hiếu để lại, vì đã được ghi nhận là một phần chứng cứ và một phần bồi thường, vẫn đứng nguyên tên c:on g:ái tôi. Hôm nhận quyết định, ông Quyền bảo:

“Anh Hiếu đoán trước tất cả những chuyện này. Anh ấy còn dặn tôi một điều nữa: đừng bao giờ để chị phải dùng t:iền ấy cho người khác, đó là t:iền học của bé An.”

Tôi bật c:ười, lần đầu tiên sau nhiều tháng, mà mắt cay xè.

Ngày họp phụ huynh đầu tháng mười hai, tôi đến sớm hơn mọi người. Trường đã bầu lại ban phụ huynh, anh Cường làm thủ quỹ, chị Oanh làm trưởng ban. Trên bảng thông báo ngoài hành lang dán một tờ giấy khổ lớn: danh sách các khoản thu, từng dòng, từng con số, kèm bản chụp hóa đơn công khai. Chiếc tivi năm mươi lăm inch mới lắp trên tường, bảy tr:iệu chín trăm nghìn, đã gồm giá treo và công lắp đặt. Số t:iền thu lại của mỗi nhà đã được trả, riêng khoản góp tự nguyện mỗi hộ chỉ hai trăm nghìn, và không ai bị ép.

Tôi bước tới bàn thủ quỹ, mở ví, đặt xuống tờ hai trăm nghìn nhàu nát đã được vuốt phẳng, và thêm hai tờ một trăm nghìn mới. Anh Cường nhìn tôi, nhìn tờ giấy dán ngoài kia, rồi lắc đầu cười.

“Chị Hà, lần này khoản góp chỉ hai trăm nghìn. Chị nộp thừa rồi.”

“Phần thừa là t:iền tôi nợ lớp từ lần trước, tôi đã hứa với cô Lan,” tôi nói. “Anh cứ ghi đủ vào sổ giúp tôi.”

Anh Cường im lặng một lát, rồi lấy bút, ghi lại thật cẩn thận, từng chữ, rồi ký tên. Cô Lan đứng phía sau, đưa tay lên chùi khóe mắt.

Cuộc họp hôm ấy chỉ kéo dài bốn mươi phút. Không ai nói một lời nào về chuyện cũ. Nhưng lúc ra về, chị Oanh chạy theo, nắm tay tôi, giọng ngượng ngập: “Chị Hà, hôm ấy tôi cũng ngồi đó mà không dám lên tiếng giúp chị. Tôi xin lỗi.”

“Chị đã lên tiếng khi tôi cần nhất,” tôi đáp. “Cái quạt trần chị nhắc ấy, nhờ chị mà chúng ta mới nhớ ra.”

Ngoài sân trường, nắng chiều rải vàng xuống mấy hàng phượng đã rụng hết lá. An đang chơi nhảy dây với mấy bạn. Cách đó một quãng, cu Khôi đứng một mình dưới gốc cây, tay xách chiếc cặp quá khổ. Thằng bé đang sống với bà ngoại từ hôm bố mẹ nó đi, mỗi ngày bà đón về đúng giờ, không còn ai đưa đón bằng xe hơi nữa.

Tôi đứng nhìn nó rất lâu. Rồi tôi bước tới.

“Khôi, cô nhớ hôm đó con chia bánh cho An. Cô cảm ơn con.”

Khôi ngẩng lên, mắt đỏ hoe. “Cô ơi… mẹ con có làm điều xấu, đúng không? Con nghe các bạn nói.”

Tôi quỳ xuống ngang tầm với nó. Tôi nhớ lại ánh mắt chị Diệp ở cầu thang, cái khoảnh khắc chị chùng xuống khi nhìn con trai. Tôi không tha thứ cho chị, và có lẽ sẽ không bao giờ. Nhưng đứa trẻ này không có lỗi.

“Mẹ con đã làm sai, và mẹ con đang chịu trách nhiệm cho việc đó,” tôi nói nhẹ nhàng. “Nhưng chuyện của người lớn không phải lỗi của con. Con vẫn là bạn của An, và cô vẫn mong con học thật giỏi. Con hiểu không?”

Khôi gật đầu, nước mắt rơi xuống chiếc áo đồng phục. An chạy lại, không nói không rằng, nắm lấy tay bạn, kéo đi ra phía hàng phượng. Hai đứa trẻ lại ngồi xuống bậc thềm, chia nhau chiếc bánh quy An mang từ nhà.

Tối hôm ấy, về phòng trọ, tôi lấy cuốn sổ tiết kiệm và lá thư của Hiếu ra, đặt cạnh nhau trên chiếc bàn nhỏ. Hai mẹ con chuyển sang căn phòng rộng hơn ở đầu hẻm, có cửa sổ nhìn ra con đường trồng bàng. Một phần t:iền bồi thường tôi dùng để sửa lại quầy hàng chợ đêm, phần còn lại gửi tiết kiệm cho An. Tôi cũng đến thăm vợ con mấy người thợ cũ của xưởng, những người từng im lặng để giữ miếng cơm, giúp họ làm hồ sơ bồi thường.

An ngồi cạnh tôi, tay cầm bút chì, đang tô màu một bức tranh có ba người: bố, mẹ và con, đứng cạnh một ngôi nhà có cửa sổ lớn.

“Mẹ ơi,” con bé ngẩng lên, “bố nhìn thấy con học lớp ba rồi đúng không?”

Tôi vuốt tóc con, cổ họng nghẹn lại: “Đúng rồi con. Bố nhìn thấy hết. Bố còn tự hào về con nữa.”

Tôi gấp lá thư lại thật cẩn thận, đặt vào ngăn trong cùng của chiếc hộp gỗ nhỏ, cạnh tờ hai trăm nghìn cũ đã nhàu mà tôi quyết định giữ lại. Cái đêm Hiếu gửi cho tôi những dòng chữ ấy, anh đã không biết rằng cuối cùng sự thật sẽ được nói ra bằng giọng của chính anh, trong một căn phòng sơn trắng, trước mặt những người từng tưởng có thể chôn nó đi.

Tôi nhìn ra cửa sổ, nơi ánh đèn đường vàng dịu rọi xuống con hẻm. Hai năm qua tôi cứ nghĩ mình đã mất anh. Nhưng đêm nay, tôi hiểu anh chưa bao giờ rời đi. Anh nằm trong từng hạt giống anh để lại, trong con gái chúng tôi, trong sự can đảm mà chính anh đã dạy tôi mà tôi không hề hay biết.

“Anh ơi,” tôi nói rất khẽ, “em nghe thấy anh rồi. Hai mẹ con em ổn rồi.”

-HẾT-