Gặp Anh Mùa Hoa Nở 6

Chương 6

Tôi cầm túi xách đi thẳng vào trường, thế nhưng lời nói của Ngọc vẫn văng vẳng bên tai tôi:

– Chị Kiều Anh là một đứa trẻ bị thất lạc được bà ngoại A Linh nhận nuôi, năm chị ấy đến đây mới chỉ mười hai tuổi. Bà ngoại A Linh nuôi được một năm thì chồng đổ bệnh, mẹ A Linh khi ấy lại lấy chồng, bố A Linh gia cảnh cũng nghèo khó, gia đình họ không còn khả năng nuôi dưỡng nữa nên thầy hiệu trưởng đã nhận nuôi lại chị ấy. Chị Kiều Anh học rất giỏi, chẳng những vậy còn vẽ rất đẹp. Thế nhưng chị ít nói, gần như không chơi với ai. Sau này không rõ đã xảy ra chuyện gì, cũng không biết đã làm thế nào chỉ biết trong trường chị chỉ chơi với anh Văn và anh Dương, anh Dương là cháu của thầy hiệu trưởng, bố mẹ mất sớm nên thầy hiệu trưởng đã nuôi cả anh ấy và chị Kiều Anh. Bộ ba anh Văn, anh Dương và chị Kiều Anh là bộ ba ai cũng ngưỡng mộ, trong vùng núi sâu này hiếm có trường hợp nào được như họ, cả ba người họ đều học rất giỏi, rất nổi trội, nhất là anh Văn, anh ấy chẳng những học giỏi còn kèm cặp, phụ đạo cho anh Dương và chị Kiều Anh cùng nhau tiến bộ. Người ngoài nhìn vào ai cũng biết chị Kiều Anh và anh Văn là một cặp, còn anh Dương có lẽ là yêu đơn phương chị Kiều Anh. Năm anh Văn học lớp 11 anh ý đã chuyển về Hà Nội để học. Nghe đâu rằng anh Văn không hề muốn lên đó học nhưng vì chị Kiều Anh thuyết phục nên anh ấy chấp nhận lên, năm đó đó có cuộc thi toán cấp Quốc gia, anh Văn học lớp 11 nhưng đã xuất sắc giành giải nhì. Điều đau khổ và nuối tiếc nhất của anh ấy chắc chính là đã rời núi để lên Hà Nội bởi chính năm đó khi vừa nhận giải trở về thì chị Kiều Anh bị lũ cuốn trôi, khi ấy chị Kiều Anh mới chỉ có mười sáu tuổi. Suốt bao nhiêu năm nay anh Văn chưa từng mở lòng ra với ai. Đến khi anh ấy lấy cô, tôi còn nghĩ sẽ như trước kia anh ấy sẽ từ chối. Hoá ra là như vậy, hoá ra bởi cô thực sự có vài phần trông giống chị Kiều Anh nên anh ấy thực sự chấp nhận cô. Con gái trong thôn này ai mà không muốn gả cho anh Văn, nhưng anh ấy lại không muốn chọn bừa, anh ấy chọn người thay thế hình bóng người con gái anh ấy yêu. Có điều chọn cô mới thực sự là đau khổ và giày vò, quá khứ không quên được, có vì cô giống chị ấy cũng là dối lòng, lừa mình mà thôi.

Sáng nay tôi đã ăn một bát phở do chính tay Văn nấu, còn cầm theo một chai nước sâm bí đao. Thế nhưng vào đến văn phòng, tu mấy ngụm vẫn thấy đắng chát. Thứ cảm giác đắng chát lan tận đến cổ họng, tôi tự nhủ rằng chính bản thân tôi cũng nặng lòng vì một người cớ gì phải để tâm việc quá khứ của Văn thế nào?

Thật ra tôi biết mình chẳng có tư cách gì để trách móc, việc quá khứ anh ta yêu ai, như thế nào tôi quả thực không có tư cách gì để bận lòng. Nhưng việc Văn đối xử tốt với tôi bởi tôi mang dáng dấp của người mà anh ta rất yêu khiến tôi thấy mình trở nên thấp hèn. Lòng kiêu hãnh vốn vừa được thắp lên ngay lập tức vụt tắt.

“Kiều Anh” hai chữ này khi nhắc đến không hiểu sao lồng ngực tôi khẽ co rút. Cái tên đó lại cứ như rất quen, tựa như tôi đã nghe đâu đó rồi mà chẳng thể nhớ ra nổi.

Vào đến trường tôi đi một mạch lên lớp. Học sinh học kém, kiến thức hổng nhiều lại nghỉ học quá dài nếu không phụ đạo thì chắc chắn kết quả chắc chắn là rất kém. Lúc đi ngang qua hiên tôi thấy Diệp cũng đang đi vào, cô ấy hơi cúi gằm mặt, nhìn thấy tôi cũng không chào. Tôi để ý thấy một bên mặt của Diệp sưng phồng, đôi mắt đỏ ngầu như suốt cả một đêm cô ấy khóc không ngừng nghỉ. Trong lòng tôi trào dâng một cảm giác phẫn nộ đến tột cùng liền chạy theo kéo tay hỏi:

– Diệp, cô sao vậy? Ai đánh cô?

Diệp không nhìn tôi chỉ rút tay về rồi đáp:

– Không sao, chuyện gia đình thôi.
– Gia đình, là chồng cô đánh cô đấy hả?
– …
– Cô bị bắt đến đây đúng không? Là A Bân mua cô về làm vợ lẽ đúng không? Hắn còn dám đánh cô?

Nghe đến đây Diệp cũng ngước mắt lên nhìn tôi, gương mặt trắng trẻo, xinh đẹp vậy mà in hằn cả một bàn tay đỏ rực trên ấy. Từ hôm qua thấy cô ấy từ xe của A Bân bước xuống, lại nhớ đến lời Văn kể về A Bân và việc tôi gặp cô ấy trên khoang tàu, xâu chuỗi lại tôi đã đoán ra được hoàn cảnh của Diệp. Một cô gái xinh đẹp, có học thức vậy mà phải làm vợ lẽ cho một kẻ tồi tệ, nếu không phải tinh thần thép thì có lẽ đã làm điều dại dột từ lâu rồi.

– Cô có cần tôi báo công an không?

Diệp thấy tôi hỏi vậy thì cười chua chát:

– Báo công an gì chứ, trong thôn này biết bao cô gái được mua về, bao năm nay mấy ai thoát ra được. Phép vua thua lệ làng, cô nghĩ xem ở chốn lạc hậu, những hủ tục tại sao vẫn cứ tồn tại cho đến bây giờ? Là do chính quyền thấy cũng nhắm mắt làm ngơ. Huống hồ tôi còn bị bố mẹ gán nợ, báo công an rồi thì sao, tôi chạy nổi được khỏi thôn thì đống nợ vẫn phải gánh trên vai, tôi chạy không nổi đâu.

Tôi sững sờ nhìn Diệp, cô ấy lại nói:

– Đã rơi vào đây rồi sống cũng như chết, mấy cái đánh này có thấm là gì. Sau này tôi chắc chắn sẽ thoát được khỏi anh ta, không sớm thì muộn. Chỉ là vũng bùn lầy này sẽ là vết nhơ cả đời, vĩnh viễn chẳng thể xoá nổi được.
– Không, cô không có lỗi gì cả.
– Phải, tôi không có lỗi, nhưng xã hội nào có ai cảm thông? Dư luận, xã hội cùng lắm là thương hại, còn chấp nhận thì chẳng có đâu. Cô may mắn hơn tôi, ít nhất dù là bị mua về cô cũng gặp được một người đàn ông tử tế, ôn nhu, có học thức, có địa vị. Hơn hết là anh ta đối với cô rất tốt, vừa trân trọng, vừa tôn trọng cô. Ngoài việc chân anh ta bị liệt thì gần như chẳng có điểm gì để chê. Còn tôi, rơi thẳng xuống vũng bùn lầy, gặp phải kẻ cặn bã, cuộc đời này cũng coi như bỏ.

Diệp nói với tôi nhưng tựa như đang nói với chính mình, khi cô vào lớp, tôi cũng phải hít mấy ngụm khí lạnh mới cho lòng bình tĩnh lại. Không phải tôi chưa từng khổ cực, tôi cũng trải qua rất nhiều khổ đau, thế nên thấy hoàn cảnh này của Diệp tôi lại nhớ đến những tháng ngày bán thân kiếm tiền lo cho gia đình. Đứa con vừa sinh bị người ta đem đi, bố được tại ngoại thì đổ bệnh, tôi cũng không biết những năm tháng ấy vì sao lại đủ can đảm để vượt qua được mọi chuyện. Còn Diệp… cô ấy lấy can đảm nào để vượt qua đây?

Trong lớp học đám trẻ đang ngồi chờ tôi, ánh mặt trời chiếu lên những gương mặt lấm lem, quần áo dính đầy bùn đất. Tôi nhìn A Linh, nghĩ đến những lời của Ngọc nói lại nhớ đến bà A Linh. Gia đình A Linh không hề giàu có, vậy mà năm ấy bà ngoại A Linh vẫn nhận nuôi một đứa trẻ thất lạc, cho đến bây giờ, gia cảnh vẫn nghèo khó nhưng bà A Linh vẫn cố gắng cho A Linh đi học, từng lời nói của bà A Linh thật sự khiến tôi bất ngờ. Tôi có cảm giác nhận thức của bà ngoại A Linh khác hẳn với đại đa số người dân trong thôn làng này. Mà A Linh cũng vậy, em học giỏi hơn các bạn cùng lớp, chỉ là nghỉ quá lâu, kiến thức của em bị gián đoạn nhiều, đối với lũ trẻ việc học vẫn còn có quá nhiều gian nan.

Tôi dành trọn vẹn năm tiếng đồng hồ để dạy lũ trẻ học. Lớp ghép theo chương trình thời gian chỉ ba mươi lăm phút bằng lớp đơn, nhưng không thể, tôi không thể nào dạy chừng ấy phút với kiến thức của hai lớp 4, 5. Mỗi lớp chỉ vài học sinh, nhưng trừ mấy học sinh học khá tôi gần như phải một kèm một nên thời gian kéo dài tận thêm mấy tiếng đồng hồ. Cho đến khi tan học, tôi vẫn phải dặn dò lũ trẻ về làm hết bài tập tôi giao nếu không chúng sẽ không thể nào học hết kiến thức mới trong năm học này.

Ra khỏi cổng tôi mới biết ngoài lớp tôi thì lớp của Diệp cũng vẫn đang học. Cô ấy quỳ bên cạnh một học sinh, cầm bàn tay nắn nót từng nét chữ. Vẻ ảm đạm, u ám thường thấy cũng tan biến, trong mắt là một niềm hi vọng nhỏ nhoi đặt lên trên vai những cô bé, cậu bé trong lớp học tồi tàn. Nhìn thấy cảnh tượng ấy mặt tôi bỗng nóng ran. Một cô gái trải qua đầy những khổ đau, cuộc đời đầy nước mắt và gian nan, vậy mà giây phút dạy dỗ học sinh vẫn mang một tình yêu vô bờ bến, vẫn mang ngọn lửa nhiệt huyết, một sự yêu nghề, mến trẻ mà không phải ai cũng làm được. Trong khu tập thể của giáo viên, tiếng mấy đồng nghiệp cười nói râm ran, khói bếp mang theo hương lúa gạo toả ra không gian. Mấy thầy giáo mang xô ra suối gánh nước đổ đầy chum lớn, khu nhà tập thể bong tróc từng mảng tường vậy mà trên bàn sách vở vẫn sạch sẽ được xếp đầy. Tự dưng tôi cảm thấy rất hổ thẹn, đối với những khó khăn của ngôi trường này, suýt chút nữa tôi đã trốn chạy.

Bầu trời hôm nay rất trong, ánh nắng rực rỡ chiếu xuống khe núi. Con đường đất bụi mù, đám trẻ tung tăng trên những dãy núi mặc cho quần áo mỗi lúc một lấm lem nhàu nhĩ. Tôi siết chặt lấy chiếc cặp đi thẳng qua đám cỏ lau. Lúc đi qua phân viện tôi cũng dừng chân lại, trong sân phân viện có một vườn hoa nhỏ, vườn hoa giống với vườn hoa ở nhà nhưng có lẽ do không được chăm sóc hoa lá úa tàn, những bông hoa xác xơ nằm trơ trụi trên đám đất khô cằn. Ngẩng đầu lên, tôi cũng thấy Văn đang chống nạng đứng bên cạnh vườn hoa ấy, ánh mắt anh ta nhìn đám hoa đầy thương cảm. Trước kia tôi cũng từng là đoá hoa hồng rực rỡ, nhưng giờ có lẽ tôi cũng chỉ là đám hoa dại úa tàn kia. Hai mươi sáu tuổi tôi thực sự không có gì trong tay, một cô bé xinh đẹp, giỏi giang từng được kỳ vọng rất nhiều cuối cùng vì một cú ngã ngựa lại biến thành kẻ vô danh trong xã hội. Đến ngay cả một hạnh phúc nhỏ nhoi như người bình thường cũng là điều xa xỉ.

Tôi lùi chân lại, định bước đi thì thấy Văn cũng ngẩng đầu lên, ánh mắt anh ta vừa hay chạm vào cái nhìn của tôi. Khoé môi anh ta hơi mấp máy, đôi nạng cũng di chuyển, thế nhưng tôi lại chẳng muốn dừng lại ngoảnh mặt đi thẳng qua cổng. Tôi nghe tiếng nạng dừng lại, dường như phản ứng vừa rồi của tôi khiến anh ta bất ngờ. Có điều sau cùng tiếng nạng vĩnh viễn dừng lại ở sân phân viện, còn tôi thì men theo đường đi ra bờ suối. Chiếc điện thoại bắt đầu hiện lên những vạch sóng, tôi lấy máy gọi zalo cho bố. Hôm nay là ngày định kỳ lọc máu của bố tôi, lúc bố tôi nhấc máy, nhìn bố nằm trên chiếc giường trắng toát, dây dợ chằng chịt xung quanh lòng tôi vô cùng xót xa. Mẹ tôi ngồi bên cạnh bố, thấy tôi gọi thì vội cầm điện thoại nói:

– Bố con vừa lọc máu xong nên còn mệt, có gì hỏi han thì nói nhanh để ông ấy còn nghỉ nhé.

Lọc máu rất mệt, hỏi han vài câu bố tôi đều khó nhọc trả lời, thế nên tôi cũng không dám hỏi quá nhiều quá chỉ hỏi dăm ba câu, thấy bố vẫn trả lời được tôi cảm thấy yên tâm đôi chút định cúp máy. Nhưng không hiểu sao khi trước khi ngắt máy tôi chợt nhớ đến những giấc mơ liên tiếp ở đây, lại nhớ đến lời Văn nói không kìm được mà hỏi ông:

– Bố ơi. Ngoài con và cái Huyền gia đình mình còn thành viên nào khác không? Ý con là, con còn chị em nào nữa không?

Bố tôi nghe xong câu hỏi ấy, gương mặt xanh xao chợt khựng lại, ánh mắt ông sửng sốt mất mấy giây. Thế nhưng bố còn chưa kịp đáp mẹ tôi đã giật phắt chiếc điện thoại lại giọng đầy khó chịu:

– Con hỏi vớ vẩn gì thế? Trước nay nhà chỉ có con và cái Huyền, bố con vừa mới lọc máu xong, không thấy ông ấy mệt à mà còn hỏi mấy câu ngớ ngẩn như vậy?

Tôi nhìn mẹ, thấy phản ứng thái quá của mẹ tôi càng lúc càng cảm thấy xa lạ. Lòng tôi lạnh như băng, cất từng lời hỏi lại:

– Mẹ, cũng chỉ là một câu hỏi bình thường mẹ có cần phải gay gắt thế không?
– Câu hỏi này mà bình thường gì? Biết rõ nhà chỉ có hai chị em tự dưng còn đi hỏi lung tung?
– Con chỉ biết rõ ký ức từ năm chín tuổi trở đi, trước đó thế nào con lại không hề biết. Nếu không có mẹ chỉ cần trả lời không có, mẹ đâu cần phải gào lên như vậy?

Mẹ tôi hình như cũng cảm thấy mình sai, giọng dịu lại:

– Nhưng thật sự nhà chỉ có con và cái Huyền thôi, sao tự dưng con lại hỏi như vậy?
– Vì dạo này con rất hay mơ thấy con có một người chị gái, cảm giác này rất chân thật. Con còn mơ thấy chị ấy cõng con chạy trên núi, giống như đang bị truy đuổi, chưa bao giờ con mơ thấy những giấc mơ kì lạ như vậy, chân thật đến mức con thật sự nghĩ con còn một người chị nữa mà con không biết.

Trong phút chốc tôi thấy ánh mắt mẹ tôi hiện lên vài tia hoảng hốt và run rẩy. Rất lâu sau mẹ tôi mới bình tĩnh đáp lại:

– Ban ngày con cứ nghĩ nhiều nên đêm mới mơ thế thôi. Nhà chỉ có hai chị em, không có ai khác cả.

Vốn dĩ tôi cũng vẫn luôn tin nhà chỉ có tôi và cái Huyền, nhưng trước thái độ này của mẹ nỗi nghi hoặc lại càng thêm lớn. Chỉ là tôi không biết mình nghi hoặc điều gì, trước kia tôi chưa từng có bất kỳ nghi vấn nào với mẹ, bao năm lớn lên, mẹ cũng chưa từng đối xử tệ bạc khiến tôi phải phiền lòng. Vậy mà chỉ trong mấy tháng nay liên tiếp từng chuyện đến khiến tôi cảm giác mẹ không còn giống mẹ của ngày xưa nữa. Bố tôi lúc này cũng đã lấy máy lại, giọng bố yếu ớt cất lên:

– Hạ, mấy năm nay bố bệnh tật, mẹ con phải chăm sóc cho bố, bà ấy còn trẻ nhưng lại vì bố mà sống khổ cực bao năm trời. Có lúc mẹ con cáu gắt, khó chịu con cũng đừng trách bà ấy. Lẽ ra bà ấy sớm phải đi tìm hạnh phúc mới rồi, đàn bà mấy ai chịu được cô đơn, mấy ai chờ được kẻ bệnh tật như bố? Cuộc sống khốn khổ, ai mà dịu dàng được nữa? Mấy tháng nay mẹ con còn đi làm, cố gắng kiếm tiền, cố gắng từng chút để gom góp tiền tìm nguồn thận cho bố. Đều là bố vô dụng nên mới khiến các con, khiến mẹ con khổ sở như vậy. Bà ấy có gì không vừa ý con, có làm gì khiến con không vui cũng đều là vì bố, vì gia đình này Là bố có lỗi với con, có lỗi với gia đình này quá nhiều.

Bên cạnh bố tôi mẹ tôi đang sụt sùi bật khóc, tôi khẽ thở dài, lòng nặng trĩu như có tảng đá đè nặng. Từ trước cho tới nay, bố là người khác biệt nhất đối với tôi. Bố yêu tôi vô cùng, tình yêu của bố dành cho tôi từ nhỏ tới lớn chính tôi là người cảm nhận rõ nhất. Yêu đến mức tôi còn tự thấy sự thiên vị rõ rệt giữa tôi và cái Huyền, bố tôi có chiều chuộng cái Huyền, nhưng không yêu thương, nâng niu nó như tôi, chỉ cần điều tôi muốn, dù cho cái Huyền không thích bố cũng chẳng bận tâm đến cảm nhận của nó dành mọi thứ cho tôi. Thậm chí đôi khi mẹ không vui khi bố quá mức thiên vị tôi bố cũng chẳng mấy để ý, giống hệt như chỉ có tôi là công chúa duy nhất của bố. Cho đến sau này khi gia đình tôi phá sản, bố đổ bệnh, sự bất lực của bố càng lúc càng lớn, sự giày vò cũng thế mà tăng lên. Thế nên với lời nói này của bố tôi lại không biết trách mẹ thế nào. Tôi rõ ràng tự nhủ lòng mình rằng mẹ tôi có lý do gì đó để nói dối thôi, cũng tự nhủ rằng bao năm nay mẹ chưa từng đánh mắng tôi, chưa từng đối xử tệ bạc, cuộc sống của tôi từ trước tới khi phá sản vẫn luôn hạnh phúc, nhưng trực giác lại len lỏi những suy nghĩ kì lạ càng lúc càng lớn. Chỉ là tôi lại chẳng biết bắt đầu từ đâu, mọi thứ như một mớ bòng bong, đan xen giữa nghi ngờ và đạo hiếu, nửa thì gạt đi cho rằng chẳng phải tôi là con ruột mẹ đấy sao, chẳng phải mẹ vẫn đang cố gắng vì bố đấy sao, chẳng phải bao năm nay mẹ thật sự rất vất vả sao, nửa lại muốn biết rốt cuộc tại sao mẹ phải nói dối tôi, tại sao lại có những phản ứng gay gắt với câu chuyện tôi kể? Nhưng giờ có muốn biết tôi cũng gần như lực bất tòng tâm, tôi chưa thể về nhà ngay, có về chắc gì tôi đã tìm hiểu được gì, dù sao với tôi bây giờ chỉ cần bố được chữa bệnh trước đã, chỉ cần bố khoẻ mạnh trở lại thì việc mẹ nói dối tôi cũng có thể để tìm hiểu sau. Mẹ là mẹ của tôi mà, có thế nào tôi cũng chẳng thể bỏ được mẹ. Ít ra mẹ không bỏ rơi bố trong lúc bố khốn khó nhất cũng xem như tôi còn chút niềm tin nơi mẹ.

Sau khi cúp máy tôi cũng xoay người lại định trở về nhà, nhưng chân vừa bước hai nhịp tôi cũng nhìn thấy Lâm đang đứng gốc cây. Không rõ anh đã đứng đây từ bao giờ, những tia nắng xen qua kẽ lá chiếu xuống gương mặt anh vừa quen thuộc lại vừa xa lạ. Tôi mím chặt môi, xem như hai người dưng sải bước qua anh, vốn nghĩ rằng anh sẽ giống như cũ, sẽ làm như không quen biết không ngờ rằng vừa đi qua anh đột nhiên cất tiếng:

– Hạ!

Lần đầu tiên sau năm năm gặp anh lại gọi tên tôi, tôi còn tưởng mình nghe nhầm quay lại nhìn Lâm. Anh từ từ tiến về phía tôi, giống như ngàn vạn lần trong mơ tôi đã từng mơ, cánh tay anh kéo lấy tay tôi, không còn vẻ xa cách, dửng dưng, giọng anh có chút gấp gáp và vội vàng:

– Hạ, em đừng ở đây nữa, em muốn về nhà, anh sẽ giúp em trở về.

Lòng tôi sửng sốt chấn động mất mấy giây, chưa kịp phản ứng Lâm đã nhét vào tay tôi một túi đồ. Trong túi đồ là một cốc trà sữa Phúc Long full toping, là loại thức uống quen thuộc suốt mấy năm đại học tôi từng uống, đồ uống đã tan đá nhưng vẫn mát rượi, dưới đáy túi là một tờ giấy nhỏ có ghi một dãy số điện thoại. Tôi ngước lên nhìn Lâm, dù là câu nói không đầu không cuối nhưng tôi rõ ràng hiểu anh đang nói gì. Nếu là ngày đầu tiên gặp anh ở thôn làng này tôi nhất định sẽ mặc kệ sống chết một lòng nghe theo sự sắp xếp của Lâm. Dù cho năm năm không gặp, dù cho quãng thời gian xa cách như sông sâu núi dài nhưng chỉ khi ấy anh nói một lời tôi chắc chắn sẽ không từ chối. Nhưng trên đời này làm gì có nếu như, có những chuyện chậm một chút lại thành bỏ lỡ. Tôi thấy lồng ngực mình phập phồng, không rõ là đau nhói hay tủi thân, đang định rút tay về cũng nghe tiếng xe lăn lạch cạch trên sỏi.

Rõ ràng tôi không làm gì sai, nhưng lại như một kẻ tội đồ vội vã lùi chân lại đưa mắt về phía Văn. Khoảnh khắc tôi rút tay về Văn cũng lặng lẽ nhìn lên cánh tay tôi không dời. Vẻ mặt Văn rất bình thản nhưng bàn tay siết chặt lấy bánh xe lăn, gân trên mu bàn tay cũng nổi lên trên đôi tay anh ta. Mặc dù không yêu nhau, nhưng trên danh nghĩa tôi là vợ Văn, ai mà chẳng có sĩ diện, đến ngay cả tôi khi biết quá khứ của Văn còn có chút nặng lòng huống hồ anh ta là đàn ông còn phải chứng kiến cảnh này. Yết hầu anh ta khẽ rung động, tôi nghĩ anh ta sẽ gầm lên, thế nhưng anh ta chỉ hít một hơi sâu giống như đang đè nén cảm xúc đang trỗi dậy, sau cùng ngẩng mặt lên cất giọng đều đều nói với tôi:

– Muộn rồi, đi về thôi.

Tôi lặng lẽ đi về phía Văn, anh ta nhìn cốc trà sữa Phúc Long trên tay tôi một lúc, trước khi dời đi tôi đột nhiên thấy anh ta quay lại nhìn Lâm, lời nói vẫn bình thản, lịch sự nhưng lại rất đanh thép:

– Muốn tốt cho cô ấy anh nên tránh xa cô ấy thì hơn.

Suốt đoạn đường về nhà Văn không nói với tôi câu nào. Anh ta im lặng, tôi cũng chẳng có lời nào để giải thích nên cứ để mặc bầu không khí ảm đạm như vậy. Về đến nhà anh ta xuống bếp nấu cơm, tôi cũng lên nhà thay quần áo. Thay xong tôi nhìn chiếc túi Lâm đưa cho, ngoài cốc trà sữa và mẩu giấy ghi số điện thoại bên trong còn mấy món đồ ăn vặt trước kia tôi thích. Tôi nhặt lấy mẩu giấy, số điện thoại này không phải số điện thoại trước kia Lâm dùng, một số máy mà chính bản thân tôi cũng thấy lạ lẫm. Nghĩ một hồi, tôi quyết định cầm mẩu giấy nhét vào túi xách trong tủ, không phải tôi không lưu luyến, nhưng tôi đã đủ can đảm để lựa chọn ở lại thì cũng đủ can đảm chịu trách nhiệm với lựa chọn ấy.

Suốt năm năm qua anh không xuất hiện tôi vẫn phải sống đấy thôi. Năm năm qua, biết bao khó khăn, biết bao khổ đau, nhục nhã, biết bao đau thương không thể diễn tả tôi đều phải cắn răng âm thầm chịu đựng. Tôi biết quãng thời gian đó tôi sống vô cùng hèn mọn, nhưng trong lòng vẫn luôn ôm một tia hi vọng. Hi vọng rằng sau những chuỗi ngày khổ đau anh sẽ xuất hiện trước mặt tôi, sẽ thắp lên cho tôi một tia sáng trong bóng đêm u ám. Nhưng gặp lại rồi tôi mới hiểu, những điều kinh khủng nhất tôi đã tự mình vượt qua rồi, tôi cũng không còn ôm ảo tưởng thêm nữa. Lưu luyến cũng chỉ để trong lòng mà thôi.

Tôi cầm cốc trà sữa lên, phân vân một hồi vẫn quyết định uống. Vị trà sữa vẫn vậy, nhưng hình như năm năm không uống nên tôi đã không còn quen vị loại trà sữa đắt tiền này nữa. Có điều ngon hay dở tôi vẫn cố gắng uống hết, một hạt trân châu cũng không để lại. Trước kia tôi không hẳn là phung phí, nhưng thứ tôi không thích tôi sẽ không dùng, cho tới khi gia đình phá sản, một bữa cơm no qua ngày với tôi đã là điều may mắn, bản thân tôi tự học được cách tiết kiệm, cũng học được cách chấp nhận, đồ ăn tôi chưa bao giờ dám để thừa. Mấy ngày sống trên núi, chứng kiến đám trẻ nghèo khổ trong thôn làng tôi càng không dám lãng phí dù chỉ là một giọt nước. Con người mà… lúc ở trên cao cái gì cũng có nên nào biết trân trọng, tới khi rơi vào hoàn cảnh khốn khó mới hiểu một hạt cơm muốn ăn cũng phải đổ bao mồ hôi công sức.

Bữa cơm tẻ nhạt, tôi và Văn vẫn không ai cất lời trước. Mâm cơm không quá cao sang nhưng cũng không quá đạm bạc, thế nhưng có lẽ do tác dụng của cốc trà sữa nên tôi gần như cố nuốt chứ không có cảm giác đang thưởng thức đồ ăn. Ăn xong Văn lại lẳng lặng mang bát đi rửa không cho tôi cơ hội đụng tay vào, chẳng còn cách nào tôi đành lững thững quay về căn nhà nhỏ. Ngồi trước hiên, tôi lặng lẽ nhìn đám hoa trong góc vườn, đám hoa này càng lúc càng nở rộ rực rỡ khác hẳn sự hoang tàn của đám hoa trên phân viện. Những bông hoa nhiều màu sắc với những cánh hoa to như cánh bướm rung rinh trong gió. Tôi tự hỏi cùng là mảnh đất cằn cỗi, cùng trong thời tiết khắc nghiệt cớ sao hoa trong vườn nhà Văn lại sinh trưởng tốt đến vậy? Liệu rằng đám hoa kia có giống như con người, có những con người sống trong hoàn cảnh khốn khó thì hoàn toàn buông bỏ, sa ngã, nhưng có những con người cũng hoàn cảnh như vậy lại thẳng tắp vươn lên, sống một cuộc đời rực rỡ? Nơi đây thực sự quá nhàm chán, sóng điện thoại không có, bỗng dưng ngắm hoa trong lúc rảnh rỗi lại thành thú vui tao nhã giết thời gian của tôi.

Ngồi lúc một tôi cũng mới đứng dậy, lúc này tôi cũng thấy Văn ngồi xe lăn cách tôi một khoảng. Tôi nghĩ anh ta có lẽ thực sự sẽ không để tâm đến tôi nữa, việc anh ta làm cho tôi chung quy lại cũng chỉ vì tôi chấp nhận ở lại đây dạy học cho lũ trẻ. Thế nhưng khi vào đến trong nhà tầm mắt Văn lại rơi xuống hai bàn chân tôi, sau đó anh ta liền ngoảnh mặt đi giống như đang cố ép mình không nhìn vào đôi chân nứt toác ấy. Trước kia ở Hà Nội tôi tuy có làm tiếp viên ở quán bar, nhưng công việc đó chung quy lại vẫn là nhàn hạ, thời tiết ở Hà Nội cũng không giá lạnh như trên núi, tôi đi làm bằng xe máy, đến nơi đa số là ngồi hát, ngồi rót bia còn về đây tôi gần như phải di chuyển bằng việc đi bộ. Đường xá gập ghềnh, bụi mù bay lên, tối đến trời lại lạnh, da chân tôi mỏng nên mới vài hôm đã nứt nẻ không thể thích nghi nổi. Tôi thấy tiếng Văn thở dài, cảm giác như đang vứt bỏ đi sự tự tôn của mình nói với tôi:

– Em vào rửa chân đi.

Nói xong cũng không đợi tôi đáp anh ta cũng lấy đôi nạng đứng lên đi về phía tủ thuốc. Lúc này tôi mới để ý tủ thuốc của Văn có vô vàn loại thuốc, thậm chí còn có cả kéo cắt chỉ, chỉ khâu y tế… Tôi vào nhà vệ sinh vẫn nghe tiếng lạch cạch bên ngoài, rửa chân sạch sẽ xong ra thấy Văn đang ngồi bên cạnh bàn, ngọn nến được thắp lên từ bao giờ. Anh ta đang nấu gì đó trên một hộp thiếc nhỏ, mùi thơm nhẹ toả ra, trên bàn còn có mấy loại kem thuốc khác nhau. Sau cùng anh ta đổ một chút ra cái thìa nhỏ cho nguội, phần còn lại trong hộp thiếc anh ta đặt xuống bàn rồi lách cách xe lăn về phía tôi. Tôi ngồi trên giường, Văn ngồi dưới xe lăn, bàn tay anh ta nâng đôi chân tôi lên dùng ngón tay lấy ít kem vừa nấu thoa lên bàn chân tôi.

Đồ tự chế nhưng không hiểu sao vừa bôi vào đã có cảm giác ẩm nhẹ, đôi chân nứt nẻ cũng dịu hẳn đi. Tôi nhìn Văn, tự dưng tò mò nghĩ nếu một người đàn ông ôn nhu thế này chân không liệt thì sẽ ước mơ của biết bao cô gái đây? Thậm chí ngay cả khi bị liệt nhiều cô gái trong thôn vẫn thích anh ta, anh ta có thể chống nạng đi tức là cơ hội phục hồi đây chân vẫn có, nếu như chân anh ta khỏi thì nhân duyên của tôi và anh ta sẽ thế nào? Tôi ở đây vài năm, sống cạnh Văn vài năm, liệu rằng tình cảm có thể từ từ vun đắp hay vĩnh viễn là hai thế giới xa lạ không thể chạm được vào nhau? Thực ra cho đến tận bây giờ tôi cũng còn chưa hiểu hết về Văn, gia cảnh tất cả mọi thứ tôi đều không hay biết. Thậm chí anh ta làm gì ra tiền để mua cho tôi mấy bộ quần áo tôi còn chẳng rõ.

Đợi Văn bôi xong tôi định mở miệng giải thích về chuyện hôm nay. Thế nhưng vừa hay anh ta quay lại bàn nhìn thấy cốc trà sữa Phúc Long uống bằng sạch của tôi vứt trong thùng rác. Bờ vai anh ta hơi dừng lại, nhưng chỉ đúng một giây sau anh ta nhanh chóng dọn dẹp bàn, đặt lọ thuốc lên đầu giường cho tôi nói:

– Sáng tối đều nên bôi, tôi để đây cho em nhớ.

Nói rồi không đợi tôi đáp Văn đã mở cửa chống nạng đi ra ngoài. Tôi ngồi dậy không sao ngủ nổi, muộn phiền chẳng những tan đi mà càng lúc càng khó chịu. Cho tới khi nhìn thấy trong gầm xe lăn của Văn một cốc trà sữa rẻ tiền, đá đã tan hết từ bao giờ, mấy hạt trân châu lõng bõng nổi lên tôi cũng thấy lồng ngực mình quặn thắt lại. Tất cả những gì anh ta làm cho tôi tôi đều thấy, nhưng tôi lại xem như đó là điều bình thường, bản thân rõ ràng hiểu rằng anh ta không giống với những kẻ phàm phu tục tử ở đây, không giống với A Bân, không cưỡng ép tôi làm những điều tôi không muốn, anh ta tôn trọng tôi nhưng tôi lại chưa từng để tâm tới anh ta, thậm chí những điều căn bản nhất về anh ta tôi cũng chưa từng nắm rõ.

Tôi đứng dậy đi đi lại lại trong phòng. Văn đã ra ngoài từ lúc nào, trên nhà cũng không có bóng dáng anh ta. Tôi ngủ không được, mọi thứ trong nhà Văn đã làm hết tôi rảnh rỗi chỉ đành nhặt mấy bộ quần áo đã khô treo vào tủ. Tủ quần áo của tôi không nhiều đồ, tủ quần áo của Văn còn nghèo nàn hơn cả thế. Trong tủ chỉ có vài bộ được treo thẳng tắp, hương nước xả vải xen lẫn mùi thuốc khử trùng phả ra. Tôi đưa tay lên đột nhiên dừng lại nhìn bộ quần áo được treo trong góc sâu nhất. Một bộ quần áo blouse trắng tinh, tuy mùi có chút cũ nhưng vẫn vô cùng sạch sẽ. Tôi gần như sững sờ, kéo thử bộ quần áo ra. Trong túi áo có một tấm thẻ, từng chữ từng chữ khiến tôi chấn động đến ngỡ ngàng:

Bệnh viện đại học Y Hà Nội
Tiến sĩ/Bác sĩ: Lưu Đình Văn.
Khoa ngoại

Tôi đã từng nghe Ngọc nói Văn học rất giỏi, nhưng lại không thể nghĩ rằng nơi núi rừng này lại có một tài năng đang ẩn dật. Anh ta sinh ra và lớn lên ở đây, suốt mười bảy năm trời sống trong khốn khó, con đường đến trường đầy chông gai và thử thách, giáo viên còn phải kiêm đủ môn, vậy mà anh ta có thể đỗ trường đại học Y, còn là tiến sĩ/ bác sĩ của một bệnh viện danh giá. Tất cả sự khoe mẽ của tôi bỗng chốc trở thành hổ thẹn, so với anh ta quả thực không có cửa. Một người hằng ngày học thêm năm bảy ca, thậm chí lúc thi đại học còn có gia sư một kèm một, một người lại phải vượt đèo lội suối đến lớp tìm con chữ, gian khổ trùng trùng, bữa cơm có lẽ còn bữa no bữa đói, so sánh có lẽ đã quá khập khiễng rồi. Tôi thật sự không dám tin nổi, người đàn ông mua tôi về làm vợ lại xuất sắc đến như vậy. Nếu không phải nhìn vào bức ảnh trên thẻ tôi chắc chắn không dám tin.

Lưu Đình Văn, tôi ngây dại nhìn rất lâu, cái tên này thật sự tôi đã từng nghe đâu đó rồi. Không kìm nổi sự tò mò, tôi cầm điện thoại chạy một mạch ra bờ suối. Khi có mạng 4G tôi nhanh chóng gõ mấy chữ: Lưu Đình Văn, bác sĩ khoa ngoại bệnh viện đại học Y Hà Nội ngay lập tức một loạt bài báo hiện lên. Những thông tin trên báo ngay lập tức nhấn chìm sự tự tin còn sót lại của tôi. Lưu Đình Văn, huy chương bạc môn Toán Quốc gia, thủ khoa kép khối A, B với số điểm tuyệt đối 30/30. Lưu Đình Văn, thủ khoa đầu ra Đại học Y Hà Nội, Lưu Đình Văn, top 1 bác sĩ nội trú quyết định chọn Ngoại Khoa, Lưu Đình Văn, bác sĩ khoa ngoại xuất sắc bệnh viện Đại học Y Hà Nội đạt học vị tiến sĩ với công trình nghiên cứu chữa bệnh vượt trội.

Còn rất rất nhiều những bài báo khác nhau nhưng đều dừng lại ở ba năm về trước, tức là ở thời điểm trước khi Văn bị tai nạn. Tôi ôm lấy điện thoại, nhìn vào bức ảnh chụp anh ta trong phòng mổ. Dù góc nghiêng nhưng vẫn nhìn ra được vóc dáng cao lớn, đôi mắt sáng, gương mặt thanh cao và sạch sẽ. Cuối cùng tôi cũng biết vì sao cái tên anh ta quen đến vậy, thủ khoa còn là thủ khoa kép, năm nào thủ khoa chẳng được vinh danh trên khắp các mặt báo.

Tôi bật cười nghĩ đến bản thân mình, còn tưởng là giỏi giang đến mức nào hoá ra chẳng bằng cái móng chân người ta. Vậy mà dám vỗ ngực xưng học bá, đúng là muốn độn thổ mà. Kẻ mà tôi chẳng mấy để tâm kia rốt cuộc lại là thần tượng đáng ngưỡng mộ của cả trăm nghìn người, là con nhà người ta trong truyền thuyết.

Khi tôi trở về nhà trời cũng đã chuyển sang chiều. Mặt trời đỏ rực như quả cầu lửa lấp ló sau ngọn núi. Vào đến sân, tôi lưỡng lự một hồi vẫn quyết định đi vào bếp, thế nhưng mới đi được vào đến hiên nhà đã nghe tiếng thầy hiệu trưởng cất lên:

– Điểm trường ở giữa thôn là hợp lý, chỉ mong rằng xây trường xong cùng chính sách của nhà nước có thể thu hút được giáo viên về dạy. Giáo viên ở huyện luân chuyển vào thôn vài ba năm rồi sẽ về, lần lượt như vậy mới tạo ra được sự công bằng.

Có tiếng Văn đáp lại:

– Ngoài xây trường thì người trong thôn cũng nên thay đổi tư duy nữa chú ạ. Chú thấy đấy, giáo viên đến đây dạy, ngoài ngại đường xá xa xôi, núi đồi hiểm trở còn sợ những hủ tục ở thôn mình, giống như cô giáo Diệp, đành rằng bị cha mẹ gán nợ cho A Bân, nhưng cô ấy bị A Bân đánh cũng không ai ngăn cản, việc coi thường phụ nữ đã ăn sâu vào máu thịt những người ở đây. Chú nghĩ xem, giáo viên muốn đến nhưng họ sợ bị bắt lại làm vợ, sợ bị đánh đập thì ai dám đến nữa? Giờ phải bắt đầu từ người dân, chẳng hạn nếu phát triển thôn thành một điểm du lịch vừa thu hút khách, vừa tạo công ăn việc làm cho người dân, con người ra ngoài mở mang tầm mắt, tư duy thay đổi, lũ trẻ cũng sẽ biết thế giới ngoài kia bao la rộng lớn đến thế nào.
– Bao năm nay cháu vì thôn làng, vì lũ trẻ, vì cả ngôi trường này mà làm biết bao nhiêu việc, có những việc còn phải nhờ đến cả gia đình cháu khiến chú rất áy náy. Chú biết cháu và gia đình không hoà hợp, nên thực sự nếu những việc cháu không thật sự muốn cháu không cần phải làm.
– Không sao chú ạ, họ cũng xuất phát từ thôn làng này ra, cũng là học sinh của ngôi trường ấy, họ xây trường cũng dựa trên nguồn quỹ từ thiện mà chúng ta kêu gọi còn việc xây khu nghỉ dưỡng không phải ý của cháu, những gì có lợi cho thôn làng cháu đặt lên hàng đầu, bản thân cháu cũng không cần màng sĩ diện làm gì.

Tôi nghe đến đây lòng đầy những cảm xúc hỗn độn, có kinh ngạc, có ngưỡng mộ, và hơn hết sự hổ thẹn lại nhiều hơn. Mặc dù tôi cũng rất muốn biết người đàn ông kia còn có những gì tôi chưa biết, nhưng tôi lại không muốn nghe lén nên xoay người bước xuống bậc thang. Chỉ là vừa bước được hai bậc lời nói của thầy hiệu trưởng đã khiến tôi khựng lại:

– Cuối tháng sau lại đến ngày giỗ của Kiều Anh. Nhanh thật đấy, đã mười lăm năm trôi qua rồi.

Lần này tôi không nghe được tiếng Văn đáp chỉ thấy tiếng thầy hiệu trưởng trầm xuống:

– Bao năm rồi có những chuyện cũng nên quên đi thôi. Chú già rồi chẳng mong gì cả, chỉ mong cháu mau lành lại đôi chân, mong cháu và thằng Dương sẽ hạnh phúc. Con bé Hạ tính cách cũng rất được, chịu chấp nhận ở đây dạy học cho lũ trẻ thì chắc chắn đáng để trân trọng rồi, nhưng con bé sao có nét giống Kiều Anh thế nhỉ? Văn, cháu phải đối xử tốt với con bé nhé đừng coi nó là thế thân chỉ vì nó giống con bé Kiều Anh.

Tai tôi hơi ù đi, sáng nay khi nghe những lời từ miệng Ngọc tôi đã cảm thấy lòng nặng trĩu, cho đến lúc này tôi lại cảm thấy chua xót. Tôi không biết bản thân mình chua xót vì điều gì, vì đồng cảm với mối tình âm dương cách biệt của Văn và cô gái tên Kiều Anh kia hay tự đồng cảm với bản thân cũng từ bỏ một mối tình dang dở bước vào một cuộc hôn nhân không tình yêu. Nhưng hình như hai chữ “thế thân” mới là nguyên nhân của cảm giác chua xót ấy. Hai chữ ấy thật sự rất khó chịu! Tôi không dám nghe lời đáp lại của Văn, một mạch chạy thẳng về phòng.

Mấy ngày tiếp theo là kỳ nghỉ cuối tuần đầu tiên của tôi, tôi cũng đã nhận được hồ sơ xin việc mà cái Huyền gửi cho tôi. Nói là nghỉ cuối tuần nhưng công việc về nhà chẳng kém đi dạy là bao. Không có mạng wifi, tôi phải tự nghĩ ra bài tập để giao về cho học sinh, ngoài ra giáo áo còn phải sửa tay nên thời gian nghỉ ngơi cũng chẳng có. Tôi và Văn vẫn như mọi khi, anh ta hằng ngày lên phân viện trị liệu vật lý, về nhà lại tất tưởi cơm nước, tôi làm mấy việc lặt vặt, đun nước ngâm chân cho anh ta. Thế nhưng giữa tôi và anh ta lại ngấm ngấm nảy sinh một khoảng cách vô hình rất khó nói, đến ngay cả một câu chuyện chung cũng chẳng biết bắt đầu thế nào. Tôi cảm thấy rất oan ức, rõ ràng là tôi nghe được câu chuyện của anh ta vậy mà có cảm giác anh ta lại xem như tôi là người sai chỉ vì nhìn thấy tôi và Lâm ở bờ suối. Nhưng dù thấy oan ức cỡ nào tôi lại chẳng biết phải nói anh ta sai ở đâu, bởi từng việc nhỏ nhặt trong nhà anh ta không để tôi phải động tay, tôi muốn gì, cần gì chỉ cần liếc mắt qua anh ta đều hiểu, cũng đều đáp ứng, cung phụng vô điều kiện. Chính điều đó lại càng khiến tôi không biết trách móc anh ta ra sao.

Sáng sớm thứ hai khi tôi đang ngủ bỗng nghe có tiếng người nói chuyện bên ngoài. Tiếng nói to tựa như tiếng cãi vã, tôi xoay người lại không thấy Văn đâu, xe lăn cũng không ở phòng liền vội vã bật dậy mở cửa. Vừa bước chân khỏi nhà nhỏ đã thấy tiếng dì Hà than khóc trên sân nhà lớn:

– Một chút tiền thôi mà con đã khó khăn thế, bao năm khổ cực nuôi con khôn lớn báo đáp một chút cũng là đạo hiếu mà giờ con này giở giọng này ra với dì.

Văn ngồi trên xe lăn, hai tay anh ta chắp lại, gương mặt lạnh nhạt đáp:

– Lần thứ nhất con có thể nhắm mắt làm ngơ, nhưng đến lần này con không thể giúp dì được nữa. Cứ tiếp tục thế này chẳng khác nào con tiếp tay cho dì lao vào con đường sai trái. Dì tự mình lãnh hậu quả, tự chịu trách nhiệm với việc làm, con không thể giúp dì. Vả lại con cũng không có tiền, số tiền con tích cóp được bao năm cũng cần chi tiêu cho tương lai của con không thể cứ mang đi trả nợ cho dì được.
– Con không có tiền thì xin ông nội, gia đình họ thiếu gì tiền? Họ thương con thế mà, sáng nay họ về đây đó con xin tiền họ đi. Nếu như con không chịu trả cho nợ cho dì gia đình này mà biết họ cũng không để dì sống yên ổn. Con cũng thừa biết bao năm nay dì khổ cực thế nào mà, nếu năm ấy không vì quyết tâm giữ lại con dì cũng đã có một cuộc đời khác rồi. Văn, dì xin con, cứu dì đúng lần này nữa thôi, dì sẽ không tái phạm nữa đâu.
– Con nói rồi con không giúp là sẽ không giúp!

Dì Hà nghe đến đây chợt gầm lên:

– Con không giúp? Con nghĩ xem nếu con không giúp thì dì và con sẽ bị họ coi thường thế nào? Con và dì có sống yên ổn được với bọn họ không? Con nên nhớ con là máu mủ của dì, con nên nhớ vì con mà dì phải khổ thế nào, sống chui lủi thế nào, con muốn đoạn tuyệt với dì đúng không?

Đầu tôi đột nhiên nổ ầm một tiếng, hai chân không tự chủ mà run lên, mấy chữ con là máu mủ của dì gần như vang vọng trong não tôi. Tiếng Văn đáp lại rất bình thản nhưng tôi lại chỉ nghe được những tiếng ù ù:

– Con chưa bao giờ cần họ, mười bảy năm sống ở đây con chưa từng cần họ giúp đỡ về bất cứ phương diện nào vậy dì nói xem việc gì phải sợ họ không cho sống yên ổn. Thậm chí bao năm học đại học con cũng chưa từng cần họ giúp, dì thích thì tự xin tiền họ con không muốn tiếp tay cho chuyện xấu. Còn việc con không giúp dì là để dì tự mình tỉnh táo mà quay đầu lại. Dì đừng đổ lỗi cho bất cứ ai, lựa chọn của dì dì tự có trách nhiệm.

Nói xong không đợi dì Hà đáp Văn đã quay xe lăn lại còn dì Hà thì tức giận bỏ đi. Lúc thấy tôi anh ta khẽ nhíu mày, thế nhưng dường như anh ta cũng chẳng mảy may đến việc tôi nghe được gì mà chỉ bảo tôi:

– Em về thay quần áo đi, sáng sớm nay có chợ phiên, tôi dẫn em qua ăn sáng rồi đi làm.

Suốt đoạn đường đi ra chợ phiên tôi không tài nào xoá được cuộc nói chuyện của Văn và dì Hà ra khỏi đầu. Tôi nhớ đến sự lạnh nhạt của mẹ chồng mình, cách thiên vị của bà dành cho anh Nam, nhớ đến việc Văn phải ở đây suốt mười bảy năm trời và lời nói ban nãy của dì Hà “con là máu mủ của dì” đã gần như hiểu ra điều gì đó. Nhưng tôi lại không dám khẳng định, cũng không hiểu nổi câu chuyện từ đầu đến cuối như thế nào chỉ cảm thấy dường như tôi bắt đầu hiểu ra sự mặc cảm của Văn đến từ đâu. Không phải từ đôi chân bị liệt, không phải vì sinh ra và lớn lên ở vùng núi, mà dường như bắt đầu từ điều này thì phải.

Chợ phiên tấp nập, tiếng khèn, sáo thổi lên những bản nhạc du dương. Trời hôm nay âm u, mấy người bán hàng mặc đồ thổ cẩm sặc sỡ bày biện hàng nhìn lên dãy núi trước mặt xì xào về thời tiết. Văn dẫn tôi vào một hàng ăn sáng, tôi gọi một bát phở gà đen còn anh ta chỉ ăn một gói xôi nhỏ. Lúc đang ăn tôi bỗng nghe tiếng chủ quán cùng mấy người gần đó nói chuyện với nhau:

– Dạo này vợ chồng tên bán bánh mì không thấy ở đây mấy nhỉ. Từ hồi theo A Bân phất lên, bánh mì cũng không thèm bán mấy nữa.
– Ui giời ai theo A Bân chẳng phất, nhưng không phải ai A Bân cũng cho theo đâu. Gã bán bánh mì này nhanh nhẹn, khôn khéo, giờ toàn theo A Bân ra huyện, ra tỉnh thôi, khéo mà mấy nữa xây nhà to ngang A Bân đó.
– Thôn mình đợt này cũng lắm người lạ từ thôn khác đến làm ăn, chẳng biết họ là người từ đâu đến, cũng chẳng biết làm ăn chân chính không, từ hồi A Bân giàu lên làm tôi cũng thấy bất an thay, người tứ xứ đến chẳng biết tốt xấu thế nào.

Văn khẽ liếc mắt nhìn tôi còn tôi lại vờ như không nghe thấy tiếp tục cúi xuống múc một miếng phở gà bỏ vào miệng. Ăn sáng xong Văn đưa cho tôi một chiếc túi rồi nói:

– Sáng tôi có việc phải vào huyện, đồ ăn tôi đã nấu xong từ sáng em bỏ ra hâm lại là được.

Tôi gật đầu cũng không hỏi anh ta đi đâu chỉ cầm túi quay lại trường học. Trong chiếc túi Văn đưa cho tôi là một đôi ủng, một cái áo mưa, một đôi bảo vệ đầu gối. Ban đầu tôi cũng không hiểu anh ta đưa cho tôi cái túi này để làm gì, thế nhưng mới dạy được ba tiết trời bỗng đổ mưa lớn, mưa như trút nước xuống thôn làng, đường đất đỏ trơn trượt, mưa lớn suốt gần một tiếng đồng hồ cho tới khi tan học mới ngớt đôi chút. Học sinh tranh thủ mưa nhỏ vội vã đi về, đợi học sinh về hết tôi và mọi người cũng mới về. Giáo viên ở đây đa số ở nơi khác đến nên ở khu tập thể chỉ có tôi, Diệp, Ngọc và một giáo viên nữa nhà trong thôn. Tôi mặc áo mưa, đeo đôi ủng, mặc đôi bảo vệ gối sau đó học theo Diệp bẻ một cành cây ven rừng men theo con đường trơn trượt lần mò đi ra khỏi cổng trường. Đường về nhà của tôi một hướng, đường về của ba bọn họ lại một hướng khác nhau, qua phân viện tôi và họ liền chia làm hai ngã. Đường vắng tanh không một bóng người, tôi vừa đi vừa nghĩ thầm nếu như hôm nay Văn không chuẩn bị đồ cho tôi tôi thật sự không biết về nhà bằng cách nào. Đi được một quãng tôi chợt thấy phía bên kia đường có một đứa bé chừng bốn, năm tuổi đang chạy giữa trời mưa. Rõ ràng học sinh đã về hết, nếu là học sinh mầm non thì phải ở lại trường ăn bán trú, đứa bé này trông rất lạ, dưới màn mưa lớn tôi chỉ thấy hình như đó là một bé trai, mặc một bộ sơ mi trắng rất thời thượng nhưng lại bị bùn đất vấy bẩn. Tôi vội vã chạy về phía đứa bé nhưng đường mưa trơn đến mức vừa chạy mấy bước tôi đã ngã nhào xuống một cái hố nhỏ. Cho tới khi nhấc người lên được quay lại tôi đã không còn thấy bóng dáng đứa bé đâu nữa. Mưa lại ào ào đổ xuống, lớp lớp hạt mưa trắng xoá, tôi tìm quanh rốt cuộc vẫn không thấy đứa bé đâu nữa. Tôi còn nghĩ hay là mình nhìn nhầm rồi, mưa lớn như vậy làm sao có một đứa bé chừng ấy tuổi đi ngoài đường được chứ. Thế nhưng khi vừa về đến nhà tôi đã thấy trong sân đầy rẫy những tiếng ồn ào, còn có tiếng khóc nấc của chị Quỳnh Anh. Tôi có chút sửng sốt, vừa vào đã nghe thấy tiếng mẹ chồng tôi nghẹn ngào:

– Rốt cuộc thì thằng bé đi đâu được chứ? Tìm mấy tiếng rồi vẫn không thấy, trời thì mưa lớn thế này.

Mọi người về đây lúc nào tôi không hay biết, chỉ biết người nào người nấy bùn đất lấm lem, mưa trút xuống ướt nhẹp cả người. Trong giây lát tôi bỗng thấy hoảng hốt, một lát sau khi xâu chuỗi lại những lời lộn xộn từ miệng họ đã kịp hiểu ra có chuyện gì. Bin – con trai của chị Quỳnh Anh và anh Nam đi lạc ở chợ khi đi cùng cái Bích mua đồ, bọn họ đã tìm mấy tiếng rồi vẫn không thấy thằng bé đâu. Tôi run run nhìn họ nói:

– Con vừa thấy có một đứa bé trai ở gần lối phân viện, không biết phải Bin nhà mình không.

Tất cả mọi người đổ dồn ánh mắt nhìn tôi, mặc trời mưa lớn, tôi, bố mẹ chồng, vợ chồng anh Nam và dì Hà nhanh chóng chạy ra ngoài đi về phía phân viện. Không hiểu sao lồng ngực tôi quặn thắt lại, hệt như có một sợi dây vô hình níu lấy trái tim mình. Đường rất khó đi, khi tôi và mọi người đến phân viện vẫn không thấy bóng dáng một đứa trẻ nào. Anh Nam vào phân viện hỏi nhưng mọi người đều bận bịu nên không ai nhìn thấy. Một đứa trẻ hơn bốn tuổi chắc chắn không thể đi xa được, nhưng vì đường núi nên lại rất khó tìm. Chúng tôi vòng lại ra đường ngoài, bố chồng tôi đi ngược lại về phía trường học còn chúng tôi đi theo lối ra chợ, ở khu vực này không có mấy đường chính, đường đi chỉ là những lối mòn trên núi. Tiếng chị Quỳnh Anh khóc mỗi lúc một lớn, mọi người vừa đi vừa gọi nhưng núi rừng hoang vu vẫn chẳng có ai đáp lại. Mẹ chồng ruột gan như có ai cào cấu, mắt đỏ hoe gọi tên cháu. Anh Nam run lên, đi tìm thêm một đoạn vẫn không thấy Bin đột nhiên quay về phía tôi túm lấy cổ gầm lên:

– Cô thấy nó sao không đưa nó về mà lại để mặc nó đi trong mưa?

Tôi thấy anh ta không tìm được con như phát điên, chỉ là sự phát điên này quá vô lý liền kéo tay anh ta ra đáp lại:

– Em không biết đó là Bin, lúc em định hỏi thằng bé thì bị chẳng may ngã xuống hố, quay lại đã không thấy thằng bé đâu nữa.

Thế nhưng câu trả lời của tôi chẳng khiến anh Nam bình tĩnh lại, ngược lại anh ta còn như một kẻ mất lý trí không biết trút giận lên ai chỉ biết trút giận lên tôi giơ chân đạp thẳng vào ngực tôi tôi một cái sau đó rít lên:

– Cô đừng nguỵ biện, tôi thấy cô mang tâm địa độc ác thì có. Ở đây làm gì có đứa nào giống nó, cô biết hôm nay chúng tôi về đây chẳng lẽ không đoán ra được đó là Bin? Nếu hôm nay không tìm thấy Bin cô đừng có mơ mà sống với tôi.

Cú đạp của anh Nam rất mạnh, ngực tôi đau nhói, đường nhỏ hẹp, lại trơn trượt, toàn thân tôi loạng choạng không chống đỡ nổi ngã thẳng xuống bờ vực bên cạnh. Nước mưa trút xuống, vực sâu ngập tràn nước, thế nhưng không một ai một ai để ý đến tôi vẫn phăng phăng đi tìm Bin, chỉ có mẹ chồng tôi sửng sốt nhìn tôi rồi quay sang dì Hà nói:

– Cô xuống kéo nó lên đi, không thì tìm cái cây cho nó bám vào rồi kéo lên. Tôi phải đi tìm được thằng Bin đã, nó còn nhỏ một phút cũng không thể chậm trễ.

Nước bên dưới cuồn cuộn như thác, tôi bám được lên lớp đất nhưng mưa lớn đã xói mòn lớp đất ngay lập tức. Dì Hà nhìn tôi, không rõ dì hoảng hốt vì điều gì chỉ thấy dì ném cho tôi một cây gỗ khô rồi nói lớn trong mưa:

– Con bám vào đây rồi cố mà lên, dì phải đi tìm Bin, nếu không tìm được Bin không phải chỉ con đâu, mà dì và thằng Văn cũng không sống nổi với bọn họ đâu.

Cả người tôi ướt như chuột lột, chỉ một giây đã thấy dì Hà lao thẳng về phía trước. Tôi bám lấy cành cây khô nhưng ngay sau đó nước lớn đã cuốn thẳng tôi ra xa. Nước gần như nhấn chìm tôi, mái tóc tôi lẫn cả cát, đất và những nhánh cỏ khô. Giữa mênh mông tôi không thể gào thét kêu cứu, bản năng sinh tồn khiến tôi ngậm miệng lại, giữ sức bám chặt không buông cành cây. Lúc nhỏ tôi đã được học bơi, nhưng nguồn nước lớn thế này tôi gần như phải giữ bình tĩnh để có thể giữ mình nổi trên mặt nước. Đất đá văng vào mặt tôi, văng cả vào tay chân, không rõ từ bao giờ máu từ cơ thể tôi đã hoà với thứ nước đục ngầu tạo thành một màu đỏ nhàn nhạt. Tôi hít từng hơi, cắn răng chịu đau. Tôi không thể chết, tôi nhất định phải sống nên cố gắng gượng vừa giữ sức vừa quan sát, khi bị cuốn trôi một đoạn xa tôi chợt thấy một vách đá có thể trèo lên. Ngay lập tức tôi vung một bên cây khô, một bên cố gắng nhờ cành cây để bơi theo dòng nước về phía vách núi. Suốt đoạn đường bị cuốn đi tôi không thể nào tin mình lại có thể may mắn đến vậy, bơi vào được đến vách đá toàn thân tôi cũng run lẩy bẩy. Hai tay tôi bám vào từng bậc đá nhọn hót, lúc trèo được lên những ngón tay cũng túa máu ra.

Cho tới khi nhìn thấy đường mòn tôi mới biết mình đã thật sự sống rồi. Hai tay tôi cầm cành cây vừa chống đỡ vừa run rẩy đi theo lối mòn. Thế nhưng mới đi được một đoạn tôi chợt thấy hai gã đàn ông đang đi ngược đường với mình. Đoạn đường này rất lạ lẫm, tôi bỗng có linh cảm rất bất an định lùi chân lại. Chỉ có điều hai gã đàn ông kia đã ngay lập tức nhìn thấy tôi, một gã nhìn tôi chằm chằm lên tiếng:

– Mày nhìn xem, ở đây có một đứa con gái từ đâu ra xinh thế này? Nhìn hơi lấm lem, ướt át một chút thôi nhưng da trắng tinh như tuyết, xinh như người thành phố, dáng dấp cũng ngon như hoa hậu.

Gã đàn ông còn lại quan sát tôi rồi đáp lại:

– Nhìn quen lắm, hình như vợ của thằng Văn bên thôn Nà Kẻ.
– À, thì ra vợ thằng què ấy hả. Thế càng tốt chứ sao, chồng nó chỉ là một thằng liệt, anh em mình thay chồng nó chơi nó cho biết thế nào là mĩ vị nhân gian.
– Phải, lấy một thằng liệt thì làm gì được, chơi xong bắt luôn về làm vợ hai không thì cùng lắm ném thẳng xuống vực kia ai hay biết? Thôn này có mấy ai xinh được như thế, anh em mình phải chơi gái thành phố thử xem cảm giác khác mấy con vợ quê mùa của chúng ta không?

Những lời nói kinh tởm đến buồn nôn, tôi kinh hãi xoay người định vùng chạy. Thế nhưng còn chưa kịp chạy ngay lập tức phía sau lưng tôi hai gã đàn ông đã lao đến. Trong một khoảnh khắc tôi thấy gã nào đó cúi xuống nhặt một gỗ lớn đập thẳng vào gáy tôi giọng cười đầy ghê rợn:

– Chạy đi đâu?

Câu nói ấy vừa dứt, toàn thân tôi phút chốc cũng lịm hẳn đi!

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*