CON TRAI ĐỨNG TRƯỚC CỬA, TAY CẦM HỒ SƠ THI ĐẠI HỌC, XIN TÔI CHỞ ĐI VÌ TRỜI MƯA NHƯ TRÚT NƯỚC. TÔI ĐANG BẬN TIẾP KHÁCH NÊN GẮT: “ĐỪNG CÓ LẤY CHUYỆN THI CỬ RA LÀM NŨNG, MUỐN ĐI THÌ TỰ MÀ ĐI!” NÓ KHÔNG C:ÃI, CHỈ CÚI ĐẦU ĐẠP XE RA CỔNG. BA TIẾNG SAU, B:ỆNH V:IỆN GỌI B:ÁO CON TÔI GẶP T:AI N:ẠN TRÊN ĐƯỜNG. TÔI CHẠY VỀ LẤY GIẤY TỜ BẢO HIỂM, VÔ TÌNH THẤY DƯỚI ĐÁY NGĂN KÉO LÀ MỘT PHONG BÌ GHI “NẾU CON KHÔNG VỀ KỊP, MẸ HÃY MỞ RA”… (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Tôi không nhớ mình đứng đó bao lâu. Có thể là mười giây, có thể là một phút. Tiếng điện thoại bàn trong phòng khách reo lên lần nữa mới kéo tôi về.
Tôi nhét tấm ảnh vào túi áo, chộp lấy tờ giấy và chiếc chìa khóa, vơ đại cái ví thẻ bảo hiểm nằm lẫn dưới đống sổ vở rồi chạy ra cổng. Tôi không kịp đọc tờ giấy. Tay tôi run đến mức không gấp nổi nó lại.
Trên chiếc taxi lao qua màn mưa, tôi mới mở ra. Là nét chữ của con, nghiêng nghiêng, hơi vội:
“Mẹ, nếu mẹ đọc được thư này thì con đã không kịp về giải thích. Con xin lỗi vì đã giấu mẹ. Người trong ảnh tên Thảo, đứa bé tên Bi. Con biết ba có gia đình thứ hai từ tám tháng trước. Con định nói với mẹ sau kỳ thi đại học, vì con sợ mẹ suy sụp. Chìa khóa này là của căn phòng số 12 ở khu trọ đường Lê Văn Việt. Trong đó có đồ con giữ cho mẹ. Mẹ đừng đi một mình.”
Tôi đọc đi đọc lại ba lần. Chữ nhòe đi vì nước mưa rơi từ tóc tôi xuống.
Tám tháng. Con tôi biết trước tôi tám tháng. Suốt tám tháng đó, nó vẫn ngồi ăn cơm cùng tôi, vẫn học bài đến khuya, vẫn nói “Mẹ ngủ sớm đi” mỗi tối. Và sáng nay, nó chỉ xin tôi một chuyến xe.
Taxi dừng trước cổng bệnh viện. Tôi chạy thẳng vào khu cấp cứu, nghẹn đến mức không nói được tên con. Cô y tá trực nhìn tôi rồi dẫn tôi vào hành lang bên trong.
“Chị là mẹ em Minh? Em đang được theo dõi. Vết thương ở chân và đầu, may mà chiếc áo mưa với tập hồ sơ ôm trước ngực đã đỡ phần lớn cú va chạm. Em tỉnh rồi, nhưng yếu. Chị vào được năm phút.”
Tôi đứng sững ở cửa phòng. Minh nằm đó, đầu quấn băng, một chân bó nẹp, môi nhợt nhạt. Thấy tôi, thằng bé cố nhoẻn cười.
“Mẹ… hồ sơ của con còn không? Con chưa nộp được…”
Tôi quỳ xuống bên giường, nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của con. Tôi muốn nói “mẹ xin lỗi”, nhưng cổ họng chỉ phát ra tiếng nấc.
“Hồ sơ còn, mẹ nộp thay con. Mẹ sai rồi, Minh ơi. Mẹ sai rồi.”
“Mẹ đừng khóc,” nó khẽ nói. “Mẹ đọc thư chưa?”
“Mẹ đọc rồi.”
Nó nhắm mắt lại một lúc, rồi mở ra, giọng nhỏ nhưng rõ:
“Mẹ đừng hỏi ba vội. Mẹ đến phòng 12 trước. Có cái ổ cứng ở đó. Con ghi lại hết, mẹ xem rồi hãy quyết định.”
Cô y tá gõ cửa, nhắc hết giờ. Tôi cúi xuống hôn lên trán con, nhưng vẫn không nhịn được hỏi:
“Tại sao con không nói với mẹ?”
Minh nhìn tôi, ánh mắt của một đứa trẻ mười tám tuổi mà già hơn cả tuổi nó.
“Vì mẹ lúc nào cũng bận, mẹ ơi. Con sợ nói ra, mẹ gục luôn.”
Tôi bước ra hành lang, ngồi phịch xuống chiếc ghế nhựa. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mình là một người mẹ thất bại. Hàng ngày tôi nấu cơm, giặt đồ, đóng tiền học, nhưng đứa con duy nhất của tôi phải ôm một bí mật to đến thế một mình mà không dám nói với tôi.
Tôi gọi cho em gái tôi, Hà, nhờ nó vào bệnh viện trông Minh. Rồi tôi đứng dậy.
**
Khu trọ trên đường Lê Văn Việt là dãy nhà cấp bốn cũ, hành lang tối, mùi ẩm mốc. Phòng 12 ở cuối dãy. Chiếc chìa khóa nhỏ trong tay tôi vừa khít ổ.
Cánh cửa mở ra là một căn phòng chưa đầy mười hai mét vuông. Trên chiếc bàn gỗ kê sát tường là cái laptop cũ của Minh, mà tôi tưởng nó đã gửi bạn sửa từ tháng trước. Cạnh đó là một cái ổ cứng ngoài và một xấp hóa đơn kẹp gọn.
Tôi mở laptop, thấy một thư mục tên “Cho mẹ”. Tay tôi lạnh buốt khi nhấp vào.
Bên trong có ba thứ: một thư mục ảnh, một thư mục ghi âm và một tệp văn bản.
Ảnh đầu tiên là cảnh anh Thành đứng trước cổng một ngôi nhà ngói ở huyện bên cạnh, tay bế một đứa trẻ, bên cạnh là người phụ nữ khoảng ba mươi lăm tuổi mặc áo bà ba. Ngày chụp: mười tháng trước. Ảnh thứ hai, ba, bốn đều là cảnh gia đình nhỏ ấy ăn cơm, đi chợ, đưa đứa bé đi tiêm phòng.
Tôi lướt qua từng tấm ảnh mà không thở nổi. Người đàn ông ấy, cái người một tháng chỉ về nhà vài hôm, nói là đi công trình xa, hóa ra có cả một mái ấm khác cách nhà tôi chưa đến sáu chục cây số.
Rồi tôi mở tệp văn bản. Chữ của con tôi, rõ ràng và dứt khoát:
“Con theo dõi ba từ tháng Ba. Ba không đi công trình xa như ba nói. Hai năm nay ba chỉ ở công trình đúng bốn tháng. Phần còn lại ba ở với cô Thảo. Con đã hỏi cô, cô nói cô không biết ba có vợ, ba nói ba ly dị từ lâu. Con tin cô ấy không biết. Nhưng chuyện đó chưa phải điều tệ nhất, mẹ ạ.”
Tôi dừng lại, nhìn xuống dòng cuối.
“Điều tệ nhất là ngôi nhà mình đang ở. Con xem giấy tờ trong tủ của mẹ. Ba đã đem sổ đỏ đi thế chấp. Số tiền là một tỷ hai.”
Tôi nắm chặt mép bàn.
Ngôi nhà ba tầng tôi và anh Thành cùng dành dụm mười lăm năm. Sổ đỏ đứng tên cả hai vợ chồng. Muốn thế chấp, phải có chữ ký của tôi.
Tôi chưa từng ký.
Tôi mở thư mục ghi âm. Có bảy tệp, đặt tên theo ngày. Tôi bấm tệp gần nhất, ngày hôm kia. Giọng anh Thành vang lên, nhỏ nhưng quen thuộc đến lạnh gáy:
“Em yên tâm, tuần sau anh làm xong thủ tục. Cái nhà đó bán được, trả ngân hàng xong anh với em và thằng Bi chuyển vào trong Nam. Con Hạnh nó không biết gì đâu, nó cả ngày lo công ty với lo thằng Minh.”
Rồi giọng người phụ nữ, nhỏ nhẹ, hơi ngập ngừng:
“Anh… chị ấy với thằng bé còn ở đó mà. Anh định bán nhà thì họ ở đâu?”
“Họ có chỗ của họ. Anh sẽ lo. Em đừng nghĩ nhiều.”
Tệp dừng. Tôi ngồi bất động, tay đặt trên bàn phím, mắt nhìn chằm chằm vào những dòng chữ trên màn hình nhưng không còn đọc được chữ nào.
Anh Thành định bán nhà. Bán nhà khi tôi và con vẫn đang ở trong đó. Và con trai tôi, đứa trẻ mười tám tuổi mà sáng nay tôi vừa mắng vì “làm nũng”, đã im lặng thu thập từng bằng chứng, từng tấm ảnh, từng cuộc ghi âm suốt tám tháng trời để bảo vệ ngôi nhà của mẹ nó.
Tôi úp mặt vào hai bàn tay. Tôi khóc, nhưng chỉ cho phép mình khóc đúng năm phút. Rồi tôi lau mặt, đứng dậy.
Tôi chụp lại toàn bộ tài liệu bằng điện thoại, chép thêm một bản vào chiếc ổ cứng ngoài, gửi một bản vào email của em gái tôi. Xong xuôi, tôi mở lại xấp hóa đơn kẹp cạnh laptop. Đó là hóa đơn thuê phòng trọ này, ba triệu một tháng, đã trả đủ tám tháng, chữ ký người thuê: Lê Quang Minh. Tiền ấy nó lấy từ đâu? Tôi chợt nhớ mấy tháng nay nó nhận dạy kèm cho hai đứa nhỏ hàng xóm, mỗi tuần ba buổi, chưa từng xin tôi một đồng.
Tôi gọi cho anh Thành. Chuông đổ ba hồi thì anh bắt máy, giọng bình thản như mọi khi:
“Gì đấy em? Anh đang bận họp.”
“Anh Thành, anh về nhà tối nay được không? Minh bị t:ai n:ạn, đang nằm viện.”
Đầu dây im một nhịp rất ngắn. Tôi nghe thấy rõ, và tôi hiểu: anh không bất ngờ vì con bị nạn. Anh bất ngờ vì tôi gọi.
“Nặng không? Anh sắp xếp được, tối anh về.”
“Anh về đi,” tôi nói. “Có chuyện anh với em phải nói rõ.”
Tôi cúp máy, nhìn vào cái ổ cứng trong tay, rồi nhìn quanh căn phòng nhỏ này, nơi đứa con trai mười tám tuổi của tôi đã âm thầm làm công việc mà đáng ra người làm chuyện đó phải là tôi.
**
Tối đó, tôi ngồi ở phòng khách, ngay chiếc ghế đối diện cửa chính. Em gái tôi, Hà, vừa từ bệnh viện về, ngồi cạnh tôi, tay cầm ly nước mà không uống. Con trai tôi vẫn nằm lại bệnh viện, ổn định, bác sĩ nói chân gãy nhẹ, đầu chỉ chấn động nhẹ.
Chín giờ tối, tiếng xe máy dừng ngoài cổng. Anh Thành bước vào, mặc áo sơ mi nhàu, tay xách cái cặp quen thuộc. Anh nhìn tôi, nhìn Hà, rồi cười nhẹ:
“Sao hai chị em ngồi nghiêm trọng thế? Thằng Minh sao rồi?”
“Anh ngồi xuống đi,” tôi nói.
Anh ngồi, hơi chần chừ. Tôi đặt cái ổ cứng lên bàn, ngay trước mặt anh, bên cạnh tấm ảnh anh bế đứa bé chừng ba tuổi.
Sắc mặt anh thay đổi trong một giây rất ngắn, nhanh đến mức nếu không nhìn thẳng, tôi sẽ không thấy. Rồi anh lấy lại vẻ bình tĩnh, nhưng giọng đã khác:
“Em lấy ở đâu cái này?”
“Con trai anh đưa. Cái con trai mà sáng nay em mắng, đạp xe dưới mưa để nộp hồ sơ thi đại học, rồi bị xe tông.”
“Hạnh, em nghe anh giải thích.”
“Anh giải thích cái gì?” Tôi hỏi, không to, nhưng từng chữ như mài qua kẽ răng. “Giải thích cái nhà ba tầng anh đã thế chấp một tỷ hai mà không có chữ ký của em? Hay giải thích cô Thảo và thằng Bi? Hay anh giải thích câu ‘con Hạnh nó không biết gì đâu’?”
Anh Thành đứng bật dậy, quai hàm bạnh ra.
“Em bật ghi âm lên nghe lén anh?”
“Không phải em. Là Minh.”
Nghe đến tên con, anh khựng lại. Tôi thấy yết hầu anh chuyển động một lần.
“Thằng bé theo dõi anh?”
“Nó mười tám tuổi, anh Thành ạ. Nó theo dõi ba nó suốt tám tháng, ăn ngủ cùng anh mà anh không biết. Anh có biết vì sao không? Vì nó muốn giữ cho nhà mình còn một cái mái.”
Anh im lặng. Hà ngồi bên cạnh thở dài, quay mặt đi chỗ khác.
“Chuyện thế chấp,” anh nói, giọng hạ xuống, “anh làm vì có lý do. Công ty anh bị ép vốn, anh phải xoay…”
“Sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng. Muốn thế chấp phải có chữ ký của em. Em chưa ký.”
“Có, em ký rồi.”
“Em chưa ký.”
“Em ký trong xấp giấy hồi tháng Tư anh đưa em, em bảo giấy bảo hiểm.”
Tôi nhìn anh. Tôi nhớ. Tháng Tư, anh về nhà đúng một đêm, đưa tôi một xấp giấy, nói là hồ sơ bảo hiểm nhân thọ cho cả nhà, bảo tôi ký vào các chỗ có đánh dấu. Tôi đang vội đi làm, ký nhanh, không đọc.
Tim tôi lạnh dần. Không phải vì anh đã lừa tôi. Mà vì tôi đã tin.
“Anh dùng chữ ký lừa của em để thế chấp nhà,” tôi nói chậm rãi. “Tôi sẽ làm việc với luật sư. Tối nay anh ngủ ngoài.”
Anh Thành nhìn tôi, rồi nhìn chiếc ổ cứng, nụ cười khẩy hiện lên trên môi:
“Em tưởng một cái ổ cứng là đủ à? Em biết cô Thảo là ai không?”
Tôi khựng lại.
“Cô ấy là người đứng tên ngôi nhà ngói ở huyện kia. Cô ấy và thằng Bi, thằng Bi mang họ anh, giấy khai sinh có tên anh. Em kiện anh, em kéo cả hai mẹ con vào, em muốn thằng Minh nhìn thấy em trai nó đi tù vì ba nó à?”
Cả phòng im bặt. Hà nắm chặt tay tôi.
Tôi nhìn thẳng vào anh. Trong mắt người đàn ông này, từ lúc nào, con người ta đã chỉ còn là quân cờ?
“Anh đừng đem đứa trẻ ba tuổi ra làm lá chắn,” tôi nói, giọng bình tĩnh đến lạ. “Chuyện của anh, anh tự chịu. Còn nhà này là của em và Minh.”
Anh cười nhạt một lần nữa, đứng dậy, cầm cặp, mở cửa bước ra. Trước khi đóng cửa, anh quay lại:
“Em nhớ kỹ, chữ ký đó là của em. Tòa nhìn vào chữ ký, không nhìn vào lời em nói.”
Cửa đóng lại. Tiếng xe máy nổ, rồi xa dần.
Tôi ngồi lặng. Hà ôm vai tôi, hỏi khẽ:
“Chị tính sao?”
“Chị đi gặp luật sư. Ngay sáng mai.”
Nhưng nửa đêm, điện thoại tôi rung lên. Số của bệnh viện. Tim tôi thắt lại, tôi bắt máy ngay:
“Chị Hạnh phải không ạ? Em y tá trực đây. Em Minh vừa có một người đến thăm lúc mười một giờ, họ nói là người nhà. Em hỏi tên thì họ bảo là cô Thảo. Nhưng chị ơi, khi em quay lại, cả hai đã không còn trong phòng. Giường em Minh trống, và trên gối có để lại một phong bì.”
Tôi đánh rơi điện thoại xuống nền nhà.
Tôi không biết mình đã quỳ trên nền nhà bao lâu. Hà phải lay vai tôi ba lần tôi mới nghe thấy tiếng nó.
“Chị! Chị nghe em không? Chị đứng dậy đi, mình vào viện ngay!”
Tôi nhặt điện thoại lên, tay run đến mức bấm không trúng. Hà giật lấy máy, gọi lại cho cô y tá, vừa nghe vừa kéo tôi ra cổng. Chiếc xe máy của nó lao đi trong đêm, gió táp vào mặt lạnh buốt. Trong đầu tôi chỉ có một câu: nếu con tôi mất, tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho mình.
Khoa chỉnh hình lúc nửa đêm sáng đèn nhạt nhòa. Cô y tá đứng chờ sẵn ở cửa phòng, mặt tái xanh.
“Chị Hạnh, em xin lỗi. Em chỉ rời đi hai phút để lấy thuốc truyền. Lúc quay lại thì giường trống. Bên bảo vệ đang xem camera.”
Tôi nhìn chiếc giường trống, tấm chăn gấp gọn một nửa, chiếc nạng gỗ của con vẫn dựa vào thành tường. Trên gối là một phong bì trắng. Tôi cầm lên, tay lạnh như đá.
Bên trong là một tờ giấy viết tay, nét chữ mềm, hơi run:
“Chị Hạnh, em là Thảo. Em xin lỗi. Em không bắt cóc ai, em đưa Minh đi gặp một người mà em nghĩ chị cần biết. Chị đừng báo công an vội. Em hứa sáng mai sẽ đưa Minh về nguyên vẹn. Địa chỉ ở mặt sau. Chị đến một mình, hoặc chỉ đi với người chị tin.”
Tôi lật mặt sau. Một địa chỉ ở thị trấn bên cạnh, kèm một dòng nhỏ: “Nhà ông Bảy, đường sau chợ.”
Hà đọc qua vai tôi, giọng gắt lên:
“Chị đừng đi! Người đàn bà đó là nhân tình của anh Thành, ai biết cô ta giở trò gì!”
“Minh đi theo cô ấy,” tôi nói chậm rãi. “Nó đang bó nẹp, đau chân, mới tỉnh có mấy tiếng. Nếu cô ấy muốn hại nó thì đã không để lại nạng, không để lại thư. Hơn nữa…”
Tôi nhìn xuống chiếc nạng.
“Con chị không phải đứa dễ bị dắt đi. Nó tự đứng dậy được thì mới đi.”
Nhân viên bảo vệ gọi tôi sang xem camera. Hình ảnh mờ mờ: hai bóng người đỡ nhau đi dọc hành lang, một nữ đội nón, một thiếu niên chống tay vào vai cô ấy. Minh không bị ép buộc. Thằng bé còn quay lại nhìn về phía phòng bệnh một lần, như người sợ mình bỏ quên thứ gì.
Tôi ký giấy cam đoan với bệnh viện, nhờ họ giữ kín chuyện, rồi cùng Hà lên xe.
**
Nhà ông Bảy nằm sau chợ thị trấn, một căn nhà cấp bốn quét vôi vàng, hiên có chậu lan héo. Đèn bên trong còn sáng. Chúng tôi đến khi gà vừa gáy canh đầu.
Cửa mở trước khi tôi kịp gõ. Người đứng sau cánh cửa chính là người đàn bà trong tấm ảnh: dáng gầy, mặt không son phấn, quầng mắt thâm sì. Trên tay chị bế đứa bé ba tuổi đang ngủ gục.
“Chị Hạnh,” chị nói khẽ. “Chị vào đi. Minh ở trong.”
Tôi bước qua cánh cửa, không nhìn chị. Trong gian nhà nhỏ, Minh ngồi trên chiếc ghế dài, chân bó nẹp gác lên một cái ghế đẩu, đang uống nước từ một cái cốc sứt miệng. Bên cạnh nó là một ông cụ tóc bạc phơ, chừng bảy mươi tuổi, tay run run cầm chén trà.
Thấy tôi, Minh nói ngay:
“Mẹ, con tự đi, cô Thảo không ép con. Con nhờ cô đưa con tới đây. Con xin lỗi vì không nói với mẹ.”
Tôi quỳ xuống trước mặt con, ôm lấy nó. Tôi không biết mình đang giận hay đang sợ, chỉ biết bờ vai nó vẫn còn nóng, hơi thở vẫn đều.
“Con làm mẹ sợ chết khiếp,” tôi nói, giọng nghẹn. “Con vừa mới…”
“Con biết,” nó đáp khẽ. “Nhưng chuyện này phải nói ngay đêm nay, mẹ ạ. Mai ba sẽ đến ngân hàng làm thủ tục.”
Tôi ngẩng lên nhìn nó.
“Thủ tục gì?”
Minh quay sang người đàn bà.
“Cô Thảo, cô nói với mẹ đi.”
Chị Thảo đặt đứa bé xuống chiếc võng gần đó, kéo chăn đắp lên người con, rồi quay lại nhìn tôi. Đôi mắt chị đỏ hoe. Chị đứng thẳng như người đã chuẩn bị rất lâu cho giây phút này.
“Chị Hạnh, em không có tư cách xin chị tha thứ,” chị nói. “Em chỉ nói ba điều. Thứ nhất, em thật sự không biết anh Thành có vợ. Ba năm trước, anh nói với em anh ly dị, vợ cũ đi lấy chồng khác, con riêng ở với bà ngoại. Em tin. Thứ hai, ngôi nhà ngói ở huyện, đứng tên em, nhưng tiền xây là tiền anh Thành đưa. Em nghĩ đó là tiền anh dành dụm làm ăn.”
“Điều thứ ba?” Tôi hỏi.
Chị Thảo nhìn xuống đôi bàn tay.
“Tháng Năm, em bắt đầu nghi, vì có lần anh Thành nói mớ trong lúc ngủ, gọi tên một người đàn bà khác. Em tự đi hỏi. Em hỏi nhiều nơi, rồi em gặp được ông Bảy đây.”
Ông cụ ngẩng lên, đặt chén trà xuống. Giọng ông khàn nhưng rành rọt:
“Cô Hạnh, tôi là ông Bảy, trước làm thủ quỹ phòng giao dịch ngân hàng ở huyện. Nghỉ hưu hai năm rồi.”
Hà ngồi sau lưng tôi bật ra một tiếng. Tôi giơ tay ngăn lại.
“Ông muốn nói gì?”
“Tháng Tư năm nay, anh Thành đến phòng giao dịch bên tôi làm thủ tục thế chấp ngôi nhà ba tầng của cô. Hồ sơ có chữ ký của cô. Nhưng tôi nhìn qua đã thấy lạ.” Ông Bảy ngừng một chút. “Chữ ký của cô ở ba trang liên tiếp, đều nằm ngay vị trí dưới cùng của tờ giấy, trong khi hợp đồng thế chấp thì phải ký ở cuối mỗi điều khoản. Tôi làm nghề ba mươi năm, tôi biết đó là những chữ ký bị đặt chồng lên trang khác.”
Tim tôi đập mạnh.
“Ý ông là…”
“Cô ký trên một tập giấy trắng có đánh dấu. Họ in hợp đồng lên sau.” Ông Bảy nói thẳng. “Cách này tôi đã gặp hai lần trong đời. Cả hai lần đều có người bị mất nhà.”
Tôi nhớ đến câu nói của anh Thành: “Tòa nhìn vào chữ ký, không nhìn vào lời em nói.” Anh đã tính từng bước.
“Tại sao ông không báo?” Hà hỏi gắt.
“Tôi có báo,” ông Bảy đáp, mặt chùng xuống. “Tôi báo với trưởng phòng. Ông ấy bảo hồ sơ hợp lệ, đã công chứng, không đến lượt tôi can thiệp. Tuần sau tôi bị chuyển sang quầy khác. Tháng sau tôi nghỉ hưu sớm. Chuyện đó tôi nuốt trong họng cả năm nay.”
Tôi hít một hơi thật sâu.
“Vậy ông có bằng chứng gì không?”
Ông Bảy lật nắp một cái hộp bánh quy cũ trên bàn, lấy ra một phong bì giấy dày. Bên trong là mấy tờ photo hồ sơ thế chấp, kèm một biên bản nội bộ có chữ ký tay của chính ông.
“Tôi giữ bản sao nhật ký giao dịch ngày hôm đó. Ghi rõ giờ vào, giờ ra, người thực hiện, và có hai điểm bất thường: công chứng viên ký xác nhận vắng mặt người vợ, và tờ cam đoan ‘đã đọc và hiểu hợp đồng’ do chính anh Thành ký thay.”
Thay. Tôi thấy tai mình ù đi. Chữ ký của tôi, tên của tôi, bằng chứng tôi chưa hề nhìn thấy hợp đồng. Chỉ cần một dòng này, mọi thứ đảo ngược.
Minh ngồi bên cạnh, ánh mắt sáng lên giữa khuôn mặt nhợt nhạt.
“Con tìm ra ông Bảy từ hai tuần trước, mẹ ơi,” nó nói. “Cô Thảo là người dẫn con đến. Lần đầu con không tin cô. Nhưng cô giúp con thật.”
Tôi quay sang nhìn người phụ nữ đang đứng cạnh chiếc võng, tay đặt lên lưng đứa trẻ đang ngủ. Tôi từng nghĩ mình sẽ hận chị, sẽ muốn tát vào mặt chị. Nhưng đứng trước chị lúc này, tôi chỉ thấy hai người đàn bà bị cùng một người đàn ông dối gạt, chỉ khác nhau ở chỗ tôi bị lừa trước.
“Chị cũng là nạn nhân,” tôi nói khẽ. “Nhưng chị đã đưa con tôi đi trong đêm, khi nó đang bị thương.”
“Em biết. Em sai,” chị Thảo cúi đầu. “Nhưng Minh nói ngày mai anh Thành sẽ gặp một người từ ngân hàng ở quán cà phê gần cổng chợ huyện lúc chín giờ, để ký giấy cuối cùng bán nhà. Chị mà đợi đến sáng hôm sau mới đi thì không còn kịp nữa.”
Tôi nhìn đồng hồ. Ba giờ sáng.
“Cô có cách nào chứng minh chữ ký của tôi bị lừa đảo không?” Tôi hỏi ông Bảy.
“Giám định chữ ký,” ông đáp. “Bản gốc mẫu giấy trắng anh ta bắt cô ký còn không? Nếu còn thì đối chiếu vị trí, mực, thời điểm in sau. Cô có giữ xấp ‘giấy bảo hiểm’ đó không?”
Tôi nhớ ra, ngay đêm tháng Tư ấy, tôi mang xấp giấy trở lại tủ hồ sơ, không dám vứt. Có thể anh Thành không biết điều đó.
“Tôi giữ,” tôi nói. “Một bản photo. Tôi photo lại hết giấy tờ gia đình mỗi dịp Tết.”
Ông Bảy gật đầu rất chậm.
“Vậy thì còn cứu được.”
**
Sáng hôm sau, chín giờ kém mười lăm, tôi ngồi trong quán cà phê gần cổng chợ huyện, cách bàn của anh Thành hai dãy ghế, đội chiếc nón rộng vành của Hà. Bên cạnh tôi là một chị luật sư tên Lan, bạn cũ của Hà, vừa kịp có mặt sau cuộc gọi lúc năm giờ sáng. Chị mang theo cặp hồ sơ, mắt thâm quầng nhưng thần sắc tỉnh táo.
Ở bàn cuối quán, anh Thành đang ngồi đối diện một người đàn ông mặc vest xám, bộ dạng giống cán bộ tín dụng. Trên bàn là một xấp giấy tờ dày. Anh Thành cười nói thoải mái, thỉnh thoảng nhìn đồng hồ. Dáng vẻ của người sắp hoàn tất một thương vụ lớn.
“Chị Hạnh, chị chắc chưa?” luật sư Lan thì thầm. “Chị bước vào lúc này là chị phá luôn buổi ký.”
“Tôi biết,” tôi nói. “Đó chính là điều tôi muốn.”
Tôi đứng dậy, bỏ nón xuống, đi thẳng đến bàn của anh. Hà và luật sư Lan đi sau. Anh Thành ngẩng lên, nụ cười đông cứng trên mặt.
“Hạnh? Em làm gì ở đây?”
“Em đến để xem chồng em bán căn nhà em đang ở,” tôi nói, giọng đủ to để các bàn kế bên quay lại. “Anh Thành, đây là luật sư của em. Còn anh này là…”
Tôi nhìn sang người đàn ông mặc vest xám.
“Tôi là Khoa, bên phòng tín dụng,” anh ta đáp, mặt hơi tái. “Chị là…”
“Tôi là vợ hợp pháp của anh Thành. Đồng sở hữu căn nhà anh định nhận.” Tôi đặt cặp hồ sơ lên bàn, mở ra. “Anh làm ơn xem giúp, chữ ký của tôi trên hợp đồng thế chấp có phải tôi ký không? Còn đây là xấp giấy tôi ký tháng Tư. Anh nhìn vị trí chữ ký, nhìn nội dung in phía trên, nhìn nét mực.”
Anh Khoa nhìn từng tờ giấy, mặt dần dần thay đổi. Anh Thành đứng bật dậy:
“Em đừng làm trò! Giấy tờ này đã công chứng!”
“Công chứng viên xác nhận vắng mặt người vợ,” luật sư Lan lên tiếng, bình thản như đang đọc bản tin thời tiết. “Tờ cam đoan đã đọc và hiểu do chính anh ký thay. Đó là hai điều có thể khiến hợp đồng bị tuyên vô hiệu, đồng thời khiến người ký thay đối diện tội hình sự về lừa đảo chiếm đoạt tài sản.”
Cả quán im bặt. Có người đặt ly cà phê xuống, có người rút điện thoại ra.
Anh Thành quay sang tôi, mắt đỏ ngầu, giọng hạ xuống thành một tiếng rít:
“Cô giở trò gì vậy? Cô lấy đâu ra mấy thứ này?”
“Con trai anh,” tôi nói. “Và một người từng làm thủ quỹ ngân hàng, người đã nhìn thấy hồ sơ của anh từ tháng Tư.”
Anh Khoa đứng dậy, thu gom các tờ giấy lại, giọng run run:
“Anh Thành, tôi xin dừng buổi làm việc hôm nay. Tôi sẽ báo lại với phòng pháp chế.”
“Anh Khoa! Anh nghe tôi…”
“Dừng.” Anh Khoa xách cặp, cúi chào tôi rất nhanh, rồi gần như chạy ra cửa.
Anh Thành đứng đó, hai tay buông thõng, trông như kẻ vừa bị rút hết hơi. Một lúc lâu sau anh mới nhìn thẳng vào tôi. Tôi thấy trong mắt anh không còn nụ cười nhạt, không còn sự tính toán. Chỉ còn một nỗi sợ trần trụi.
“Hạnh… anh nợ người ta một tỷ hai,” anh nói nhỏ. “Anh hùn vốn với một ông chủ thầu, ông ấy cuỗm tiền bỏ trốn. Anh sợ em biết, sợ em khinh anh, nên anh…”
“Nên anh lừa em?” Tôi hỏi.
“Anh định bán nhà, trả nợ, rồi làm lại. Anh định nói với em sau.”
“Sau là khi nào?” Giọng tôi lạnh đi. “Sau khi em với Minh ra đường?”
Anh cúi đầu. Không trả lời.
Tôi nhìn người đàn ông này, người tôi đã sống cùng mười tám năm. Tôi chờ mình thấy hả hê, nhưng chỉ thấy một khoảng trống rất rộng. Hóa ra thứ tôi mất không phải một người chồng. Tôi đã mất người ấy từ lâu, từ lúc anh thôi về nhà.
“Em không báo công an,” tôi nói. “Chưa. Nhưng anh sẽ ký đơn ly hôn, ký cam kết rút toàn bộ hồ sơ thế chấp, tự trả khoản nợ của anh bằng tiền của anh. Căn nhà này là của em và Minh. Còn anh với cô Thảo, chị ấy cũng là người bị anh lừa, anh nhớ lo cho đứa bé đàng hoàng. Nó không có tội.”
“Em nghĩ anh sẽ ký sao?”
“Anh sẽ ký,” luật sư Lan chen vào. “Vì nếu không, hồ sơ sẽ đến công an trong chiều nay, kèm bản ghi âm anh nói ‘con Hạnh nó không biết gì đâu’. Đó là bằng chứng anh biết rõ mình đang làm gì.”
Anh Thành nhắm mắt, ngồi phịch xuống ghế. Rất lâu sau anh mở mắt, tay vuốt mặt một lần.
“Anh ký.”
**
Bốn tháng sau, tòa tuyên cho chúng tôi ly hôn. Căn nhà ba tầng được xác nhận là tài sản của tôi và Minh, hợp đồng thế chấp bị tuyên vô hiệu. Ngân hàng, sau khi làm việc nội bộ, chấp nhận hủy toàn bộ khoản vay và rút đơn phong tỏa sổ đỏ. Trưởng phòng ngày xưa bác bỏ lời tố cáo của ông Bảy bị đình chỉ công tác. Ông Bảy được mời làm chứng trước tòa, và ngày ra về, ông bắt tay tôi, nói một câu tôi nhớ đến giờ: “Cô nên cảm ơn con trai cô. Chính nó gõ cửa nhà tôi trước.”
Anh Thành bán xe, bán lô đất nhỏ ở quê để trả một phần nợ, phần còn lại ký giấy hẹn trả dần. Anh chuyển vào Nam làm thợ cho một công ty xây dựng, mỗi tháng gửi tiền nuôi Minh theo thỏa thuận mà không bao giờ trễ một ngày. Có lần anh nhắn cho tôi một câu, tôi đọc rồi để đó, không trả lời: “Anh xin lỗi. Anh không xứng làm cha thằng Minh.”
Chị Thảo dọn khỏi ngôi nhà ngói, chuyển về quê ngoại của chị, mở một quầy bán rau nhỏ. Chúng tôi gặp lại nhau một lần, ở đám cưới của một người họ hàng xa của Hà. Chị đứng ở góc phòng, bế thằng Bi, lúng túng không biết có nên chào tôi không. Tôi bước tới, nói “Chào chị”, chỉ vậy thôi. Chị bật khóc.
Minh nằm viện thêm chín ngày, tháo nẹp sau sáu tuần. Hồ sơ đăng ký của nó, tôi đích thân mang đến trường nộp thay, cô giáo chủ nhiệm nhận từ tay tôi, mắt đỏ lên khi nghe tôi kể lý do trễ hạn. Nhà trường làm văn bản xin gia hạn, trường đại học chấp nhận. Mùa thi năm ấy, tôi ngồi chờ ngoài cổng trường từ sáu giờ sáng. Không phải vì nó yếu, mà vì lần này tôi muốn là người đứng chờ nó đi ra.
Ngày công bố điểm, Minh đỗ vào khoa kinh tế một trường công lập ở thành phố. Nó nhìn màn hình, rồi quay sang tôi:
“Mẹ, mình ăn mừng được không?”
“Được,” tôi nói. “Mẹ nấu. Con chọn món.”
“Con chọn mẹ đừng bận.”
Tôi nghẹn họng, không biết đáp gì. Cuối cùng tôi chỉ gật đầu, ôm nó thật chặt.
Tối đó tôi dọn lại ngăn kéo cuối cùng của bàn học. Phong bì màu vàng nhạt vẫn nằm trong đó, tôi giữ nó lại. Tôi lấy bút, viết một dòng ở mặt sau, nét chữ nắn nót:
“Mẹ đã đọc. Mẹ ở đây.”
Rồi tôi đặt phong bì vào chính chỗ cũ, để lần sau, nếu con có điều gì khó nói, nó biết mẹ đã học được cách lắng nghe.
Sáng hôm sau trời mưa. Minh đứng ở cửa, đeo ba lô, tóc hơi ướt, tay cầm chiếc ô cũ.
“Mẹ ơi, mẹ chở con ra bến xe được không? Trời mưa to.”
Tôi đặt ly trà xuống, cầm chìa khóa, mỉm cười.
“Được. Đợi mẹ lấy áo mưa.”
-HẾT-