BỐ BỎ TÔI CHO BÀ NGOẠI NUÔI, ĐẾN KHI TÔI MUA NHÀ THÌ LẠI TÌM VỀ NHẬN CON

Sắc mặt dì Triệu thay đổi.

Bà giật tay áo bố tôi rồi cố ý nói đủ lớn để tôi nghe thấy:

“Tôi đã bảo đừng tới, ông cứ nhất quyết đòi tới. Nhìn thái độ nó xem, đúng như bà cụ nói, nuôi không thân, chẳng biết điều.”

Tôi bật cười, đặt chiếc hộp sắt trở lại tầng cao nhất.

“Dì Triệu, dì nói vậy không đúng.”

“Bà ngoại nuôi tôi hơn mười năm, tôi chưa từng thấy bà bảo tôi nuôi không thân.”

“Ngược lại là hai người, nhiều năm chẳng thấy bóng dáng đâu, hôm nay đột nhiên xuất hiện, mở miệng ra là bảo tôi tận hiếu.”

Tôi nhìn họ.

“Hai người nghe được chuyện gì rồi phải không?”

Ánh mắt bố tôi lóe lên rồi lập tức tránh sang chỗ khác. Dì Triệu cũng siết c.h.ặ.t quai túi, không trả lời.

Trong lòng tôi đã hiểu.

Tôi lấy điện thoại ra, mở bài đăng của một môi giới bất động sản vừa đăng hôm qua.

“Nhà thuộc khu trường học ở khu mới Thành Nam, năm mươi mét vuông, nội thất hoàn thiện, báo giá 1.200.000 tệ, cần bán gấp.”

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, đường phố và văn bản

Lan can ban công trong ảnh giống hệt căn nhà mới của bà ngoại.

Tôi xoay màn hình về phía họ.

“Hai người nghe nói tôi mua nhà cho bà ngoại phải không?”

“Căn nhà ấy đứng tên bà ngoại. Sau khi bà mất, bà để lại cho tôi bằng di chúc.”

“Hai người thấy tôi chỉ mở một cửa hàng tiện lợi, liền nghĩ tôi không thể tự kiếm đủ tiền mua nhà, cho nên đoán chắc căn nhà cũ của bà ngoại được đền bù giải tỏa hoặc bà giấu thứ gì đáng tiền?”

Mặt bố tôi đỏ tím.

Chiếc vòng trên cổ tay dì Triệu va nhẹ vào mép quầy, phát ra tiếng lanh canh.

Ngoài phố, mấy bà cô xách giỏ rau đi ngang cũng tò mò liếc vào.

Tôi tắt điện thoại, lấy chiếc chìa khóa màu bạc trong túi ra.

“Căn nhà tôi giữ lại làm nơi tưởng nhớ bà ngoại.”

“Nếu hai người thật sự muốn nhận người thân, đến Thanh Minh tôi có thể đưa hai người tới nghĩa trang, dập đầu trước bà ngoại ba cái còn có ý nghĩa hơn bất cứ căn nhà hay phong bao nào.”

Tôi cất chìa khóa trở lại.

“Còn bà nội, nếu bà thật sự nhớ tôi thì bảo bà tự tới cửa hàng ngồi một lát, tôi sẽ pha cho bà một cốc trà.”

“Nhưng tôi sẽ không chuyển về. Căn nhà ấy tôi cũng không bán.”

“Hai người đi đi.”

Môi bố tôi run hồi lâu, cuối cùng nghiến răng nặn ra hai chữ:

“Bất hiếu.”

Dì Triệu dìu ông quay người bỏ đi. Gót giày của bà đập gấp gáp trên nền xi măng, nghe như mưa rơi trên mái tôn.

Tôi nhìn theo họ rẽ qua góc phố, mãi đến khi vạt váy hoa biến mất sau bóng cây hòe già mới chậm rãi ngồi xổm xuống, nhặt từng chiếc nhãn chuyển phát chưa kịp dán.

Ở tầng dưới cùng của kệ hàng có một lọ củ cải khô bà ngoại muối.

Trên lọ thủy tinh dán một mảnh giấy nhỏ:

“Mãn Mãn, nhớ ăn cơm.”

Ngày tháng ghi trên đó là ba ngày trước khi bà mất.

Tôi mở nắp ngửi. Mùi chua cay xộc lên khiến sống mũi lập tức cay xè.

Tôi cứ tưởng mình đã đủ bình thản để đối diện với những người ấy, nhưng chỗ cổ tay vừa bị bố nắm vẫn nóng rát như bị một đầu t.h.u.ố.c lá chạm vào.

Lão Vương ở tiệm cắt tóc bên cạnh ló đầu sang.

“Tiểu Châu, ai vậy? Ồn ào thế?”

“Người bán bảo hiểm.”

Tôi đậy kín lọ củ cải rồi đặt lại chỗ cũ.

Tối hôm ấy, đóng cửa xong, tôi không nằm lại trên chiếc giường xếp phía sau cửa hàng mà đạp xe tới khu mới Thành Nam.

Căn nhà năm mươi mét vuông nằm ở tầng ba.

Đèn cảm ứng ngoài hành lang đã hỏng. Tôi mò mẫm đi lên, lấy chìa khóa mở cửa.

Ánh trăng từ ban công chiếu vào, phủ một lớp sáng bạc lên di ảnh bà ngoại.

Bà cụ trong ảnh cười đến híp cả mắt, mặc chiếc áo vải xanh đã giặt bạc màu, trong tay còn nắm chiếc mác của áo phao tôi mua cho bà.

Bà luôn tiếc của.

“Áo này đắt, phải để Tết mới mặc.”

Tôi ngồi xuống nền gạch lạnh, lưng tựa vào tường, nghe tiếng xe cộ dưới đường xa xa vọng lên.

Chiếc điện thoại dành cho người già của bà ngoại vẫn được tôi giữ lại, bây giờ chỉ dùng làm đồng hồ báo thức.

Đúng lúc ấy màn hình sáng lên.

Một tin nhắn từ số lạ.

“Châu Mãn, bà nội con nhập viện rồi, muốn gặp con lần cuối. Địa chỉ: tầng mười hai, khu nội trú Bệnh viện số 1 thành phố. Nếu con không tới, cả đời này đừng mong gặp lại bà.”

Tôi úp điện thoại xuống nền, thầm nghĩ chiêu này thật cũ kỹ.

Nhưng ánh trăng rơi trên di ảnh, nụ cười của bà ngoại khiến tôi nhớ tới hình ảnh năm ấy, khi bà đứng chắn trước mặt tôi rồi nói:

“Con bé nhà tôi, ai cũng đừng hòng bắt nạt.”

Tôi đi tới cửa sổ.

Cảnh đêm ở khu mới Thành Nam không đẹp lắm. Những tòa nhà dân cư lác đác sáng đèn, cần cẩu trên công trường phía xa giống những chiếc bóng khổng lồ cắm vào màn đêm.

Nhưng bà ngoại thích nơi này.

Lúc còn sống, bà từng ngồi ngoài ban công rồi lẩm bẩm:

“Mãn Mãn, căn nhà này hướng nam, mùa hè phơi chăn được, mùa đông phơi nắng được. Sau này con lấy chồng, sinh con, còn có thể đẩy xe em bé đi dạo trong vườn dưới nhà.”

Khi nói những lời ấy, bà đã bệnh rất nặng, hơi thở khò khè như một chiếc ống bễ thủng, nhưng tôi nhớ từng câu từng chữ.

Căn nhà cũ của bà sau khi giải tỏa được bồi thường 800.000 tệ.

Tôi không động đến một đồng, gửi toàn bộ vào kỳ hạn cố định, nghĩ rằng nếu sau này thật sự đến bước đường cùng thì mới lấy ra.

Tiền trả trước căn nhà mới là tiền tôi viết truyện mạng kiếm được.

Tôi viết ba năm, thất bại suốt ba năm.

Đến năm thứ tư, một bộ truyện thuộc đề tài ít người viết bỗng nổi tiếng, tiền nhuận b.út tích lại vừa đủ trả trước.

Tôi muốn bà ngoại có một căn nhà của riêng mình.

Đáng tiếc bà chỉ ở được ba ngày.

Sáng ngày thứ tư, tôi mang cháo tới thì phát hiện bà tựa đầu vào thành giường, trong tay nắm quyển tập làm văn hồi tôi học cấp ba. Trên đó còn hai chữ “Xuất sắc” viết bằng b.út đỏ.

Bác sĩ nói bà mất vào gần sáng, ra đi rất thanh thản, giống như chỉ ngủ quên.

Tôi hé cửa sổ.

Gió đêm ùa vào, mang theo mùi hoa quế. Dưới vườn có người dắt ch.ó đi dạo, tiếng ch.ó sủa vọng lên từ xa, lẫn với âm thanh bản tin thời sự phát từ căn hộ nào đó.

Tôi lấy điện thoại ra, chặn số vừa nhắn tin, sau đó gửi một tin cho môi giới.

“Căn nhà đó không bán nữa, tôi để ở.”

Trước đây tôi từng nghĩ sẽ bán vì không chịu nổi cảm giác trống trải mỗi khi bước vào.

Nhưng tối nay tôi đổi ý.

Tôi dùng chiếc ca men bà ngoại để lại pha một cốc trà nhài rẻ nhất, loại bà uống cả đời, rồi ngồi ngoài ban công chờ hơi trà bốc lên.

Nhớ đến câu “nuôi không thân” của dì Triệu, tôi không nhịn được bật cười.

Nếu bà ngoại còn sống, chắc bà sẽ dùng cây gãi lưng gõ lên đầu tôi rồi nói:

“Mãn Mãn đừng chấp người hồ đồ.”

Tôi biết mình không phải đang giận dỗi.

Căn nhà nhỏ trong ảnh cũng được, 100.000 tệ cũng được, ngay cả tin nhắn nói bà nội nhập viện cũng vậy.

Tất cả giống như thực phẩm đã quá hạn trong cửa hàng.

Bao bì có đẹp đến đâu, bên trong cũng đã hỏng.

Bà ngoại cả đời chỉ dạy tôi một đạo lý rất đơn giản: đồ của người khác đừng tham, đồ của mình phải giữ, lòng ngay thì đường mới vững.

Trước khi rời đi, tôi cúi đầu trước di ảnh.

“Bà ngoại, bà yên tâm. Căn nhà này con giữ, ai xin cũng không cho.”

Khi xuống cầu thang, đèn cảm ứng đột nhiên sáng lên.

Ánh vàng mờ chiếu vào một góc tường, nơi có ai dùng phấn viết hàng chữ xiêu xiêu vẹo vẹo như nét trẻ con:

“Châu Mãn, tầng ba. Người tốt cả đời bình an.”

Tôi khựng lại.

Đầu ngón tay vừa chạm vào lớp bụi tường, trong đầu lại vang lên lời bà ngoại.

“Mãn Mãn, người tốt có báo đáp, nhưng đừng mong báo đáp ngay trước mắt. Phải nhìn về phía trước.”

Ngoài hành lang, ánh trăng trong vắt.

Tôi đạp xe qua con đường vắng, đèn hậu kéo thành một vệt đỏ.

Biển hiệu xanh trắng của cửa hàng tiện lợi sáng ở phía xa, giống một hòn đảo nhỏ giữa biển đêm.

Tôi biết sáng mai, khi mặt trời mọc, hai người kia có thể còn tới, cũng có thể đổi sang một lý do khác, thậm chí kéo thêm họ hàng tới làm người hòa giải.

Nhưng trong túi tôi có chiếc chìa khóa.

Kim loại lạnh áp vào đùi, nhắc tôi một điều đơn giản.

Có những cánh cửa, đóng rồi chính là đóng.

Chìa khóa nằm trong tay ai thì người đó quyết định có mở hay không.

Đêm ấy tôi nằm mơ thấy bà ngoại ngồi phơi nắng ngoài ban công căn nhà mới, trong lòng ôm con mèo vàng cam ngày trước thường tới đầu ngõ xin ăn.

Bà quay đầu cười với tôi.

“Mãn Mãn, căn nhà sáng sủa thật.”

Tỉnh dậy, gối ướt một mảng.

Điện thoại có bảy cuộc gọi nhỡ, đều từ số lạ kia.

Tôi không gọi lại.

Tôi chuyển máy sang chế độ im lặng rồi kéo cửa cuốn. Ánh sáng buổi sớm tràn vào, chiếu lên những hàng mì ăn liền và nước khoáng được xếp ngay ngắn.

Một ngày mới lại bắt đầu.

Tám giờ ba phút, chuông cửa vang lên.

Người bước vào không phải khách mà là dì Trương ở ủy ban dân cư, trong tay cầm một phong bì, vẻ mặt đầy khó xử.

“Tiểu Mãn, bố cháu làm ầm chuyện này lên tận văn phòng khu phố, nói cháu không phụng dưỡng người già, muốn kiện cháu.”

Tôi mở phong bì.

Bên trong là một bản dự thảo thư luật sư, yêu cầu tôi thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng, kèm danh sách tiền chữa bệnh, thuê người chăm sóc và tiền dinh dưỡng của bà nội, tổng cộng mỗi tháng 12.000 tệ.

Dì Trương xoa hai tay.

“Bố cháu khóc cả buổi sáng ở văn phòng, nói cháu mua được nhà rồi lại không nhận người thân, bà cụ nằm viện không ai chăm… Tiểu Mãn, hay cháu đi thăm bà một chút? Dù sao cũng là bà nội.”

Tôi gấp lá thư lại, bỏ vào ngăn kéo.

“Dì giúp cháu chuyển cho bố một câu.”

“Nếu bố muốn kiện thì cháu theo tới cùng. Phán quyết cấp dưỡng năm đó cháu vẫn giữ. Khoản nào là nghĩa vụ của ai, cứ để người có thẩm quyền tính cho rõ.”

Dì Trương há miệng, cuối cùng chỉ thở dài rồi rời đi.

Chiếc đồng hồ cổ trong cửa hàng tích tắc chạy.

Tôi dán tiếp những nhãn chuyển phát còn sót lại, trong lòng hiểu màn kịch này có lẽ mới chỉ bắt đầu.

Nhưng tôi không còn hoảng.

Bà ngoại từng nói, đời người gặp kẻ không nói lý chẳng đáng sợ.

Đáng sợ nhất là đầu gối mình mềm xuống trước.

Ba ngày sau, chuyện thư luật sư vẫn không có động tĩnh gì.

Tôi tưởng bố và dì Triệu đã chịu yên, nhưng chiều ngày thứ tư, một vị khách không ngờ tới xuất hiện.

Bà nội tôi.

Bà già hơn rất nhiều so với ký ức.

Tóc bạc trắng, những nếp nhăn trên mặt sâu như được khắc bằng d.a.o, lưng còng, tay trái chống cây gậy bằng gỗ táo tàu, tay phải xách một túi vải.

Khi đẩy cửa, chuông vang lên.

Bà đứng ở cửa nheo mắt nhìn quanh, cuối cùng ánh mắt dừng trên mặt tôi.

“Tiểu Mãn?”

Tôi nhận ra đôi mắt ấy.

Giống bố.

Hốc mắt sâu, con ngươi màu nhạt.

Năm tôi còn nhỏ, khi bà ném cặp sách của tôi ra khỏi nhà, đôi mắt ấy từng mở trừng trừng, miệng quát:

“Đồ con gái tốn cơm tốn của, cút ngay!”

Bây giờ chúng lại ướt nhòe.

“Bà nội.”

Tôi gọi một tiếng nhưng không bước tới.

Bà chống gậy chậm rãi đi vào, đặt túi vải lên quầy.

“Bà mang cho con ít đồ.”

Tay bà hơi run khi kéo khóa.

Bên trong là một chồng album cũ, một hộp b.út bằng sắt và một chiếc áo vải xanh được gấp ngay ngắn.

“Áo của bà ngoại con. Năm đó bà ấy để lại chỗ bà.”

Tôi nhìn chiếc áo.

Cổ áo đã sờn, cúc áo là loại cúc vải được khâu bằng tay.

Sau khi bà ngoại mất, tôi từng lục khắp căn nhà cũ mà không tìm thấy.

Hóa ra nó ở chỗ bà nội.

Bà ngồi xuống chiếc ghế nhựa cạnh kệ hàng rồi chậm rãi nói:

“Đợt trước bà đúng là vào viện mấy ngày vì bị ngã, nhưng tin nhắn ép con phải tới không phải do bà gửi. Bà cũng không bảo bố con lấy chuyện ấy ra dọa.”

Tôi không nói gì.

Bà thở dài.

“Bố con không hiểu chuyện. Hôm nó tới gây chuyện, bà không biết. Sau này nghe người ta kể, bà mắng nó một trận.”

Bà lấy khăn lau khóe mắt.

“Tiểu Mãn, năm đó bà làm không đúng.”

“Không phải vì bà ghét con. Mẹ con đi rồi, bố con lại chẳng nên thân, bà vừa giận vừa sốt ruột, rồi trút hết bực bội lên một đứa trẻ.”

Bà khựng lại.

“Có nói thế nào cũng là bà sai. Câu bà mắng con năm ấy, bà nhớ suốt.”

Tôi rót cho bà một cốc nước ấm.

“Hôm nay bà tới là muốn cháu trở về?”

Bà lắc đầu.

Rồi lấy trong túi ra một phong bì.

“Đây là 20.000 tệ, tiền bà để dành.”

“Bố con muốn kiện, bà không cho. Nó còn đem căn nhà trong ảnh ra nói với bà, nhưng bà hỏi kỹ mới biết căn ấy mới chỉ là căn nó với dì Triệu đi xem, đến hợp đồng cũng chưa ký. Một căn nhà còn chưa mua mà đã mang tới trước mặt con nói như thể đang ban ơn, bà nghe xong cũng thấy mất mặt.”

Cuối cùng mắt tôi mới động nhẹ.

Khoảng trống trong câu chuyện mấy hôm nay bỗng có lời giải.

Bà đẩy phong bì về phía tôi.

“Bà ngoại con nuôi con lớn không dễ dàng. Bà chẳng giúp được gì, bây giờ cũng không còn mặt mũi bắt con nuôi.”

“Căn nhà con cứ giữ. Bà không cần.”

Bà im lặng rất lâu mới nói tiếp:

“Chỉ là… nếu con không quá khó chịu, thỉnh thoảng tới thăm bà được không? Bà sống một mình, chân cẳng bất tiện, nhiều lúc chỉ muốn có người nói vài câu.”

Ngoài cửa, trời dần tối.

Đèn đường vừa sáng, ánh vàng chiếu lên mái tóc bạc của bà.

Tôi nhìn những đốm đồi mồi trên mu bàn tay ấy, bất giác nhớ bà ngoại trước khi mất cũng từng ngồi bên giường, nắm tay tôi nói:

“Mãn Mãn, dù chỉ có một mình cũng phải ăn cơm cho t.ử tế.”

Tối hôm ấy, tôi không nhận 20.000 tệ, nhưng giữ lại chiếc áo vải xanh.

Khi tiễn bà ra cửa, bà đi rất chậm.

Tôi do dự một lúc rồi đưa tay đỡ cánh tay bà.

Cơ thể bà khựng lại.

Ngay sau đó, bàn tay thô ráp như vỏ cây lập tức nắm lấy tay tôi.

Tôi vẫn chưa thể tha thứ.

Nhưng cũng không muốn một bà lão hơn tám mươi tuổi tự chống gậy xuống những bậc thềm trơn.

“Cuối tuần sau cháu tới thăm bà.”

Bà quay lại.

Nước mắt rơi nhưng khóe môi lại cong lên.

“Được, được. Bà gói sủi cảo cho con. Hồi nhỏ con thích nhất nhân hẹ trứng.”

Tôi nhìn bà lên taxi, đèn hậu dần biến mất ở góc đường.

Trong gió đêm, mùi hoa quế càng đậm.

Tôi lấy điện thoại nhắn vào số của bà ngoại.

“Bà ngoại, hôm nay có người xin lỗi con.”

“Con chưa tha thứ.”

“Nhưng hình như cũng không còn hận như trước.”

“Bà nói đúng, nhìn về phía trước thì đường sẽ rộng.”

Màn hình tối đi.

Tôi trở vào cửa hàng, gấp chiếc áo vải xanh bỏ vào hộp sắt cùng những tờ phiếu chuyển tiền.

Lọ củ cải khô trên kệ còn nửa lọ.

Nhớ bà nội nhắc tới sủi cảo hẹ trứng, tôi bỗng thấy đói.

Đường còn dài.

Cứ từ từ mà sống.

Sáu giờ sáng thứ Bảy, lần đầu tiên tôi đóng cửa hàng nửa ngày.

Tôi đạp xe tới chợ Thành Nam, mua ba cân hẹ, hai cân trứng và một túi bột mì. Đi ngang quầy trái cây thấy dâu tây đỏ mọng, nhớ bà ngoại khi còn sống rất thích nhưng luôn tiếc tiền, tôi lại cân thêm hai cân rồi treo lên tay lái.

Bà nội sống trong khu tập thể công nhân cũ phía bắc thành phố, tầng sáu, không có thang máy.

Tường cầu thang bong tróc gần hết, lộ lớp xi măng xám bên trong.

Leo tới nơi, chân tôi hơi mỏi, đứng ngoài cửa thở một lát mới gõ.

Cửa mở rất nhanh.

Bà nội mặc chiếc áo bông hoa nhỏ sạch sẽ, tóc chải gọn, tay còn dính bột.

Nhìn thấy đồ tôi mang tới, bà cười đến cong cả mắt.

“Con thật sự tới à? Bà còn tưởng con chỉ nói để dỗ bà.”

“Đã hứa thì cháu sẽ tới.”

Tôi thay giày bước vào.

Phòng khách không lớn nhưng được dọn rất sạch. Sofa phủ vải trắng, trên bàn trà có một đĩa táo đã rửa.

Trên tủ tivi đặt một khung ảnh.

Là tấm ảnh tôi năm tuổi được bà nội bế trong công viên, cả hai bà cháu đều cười lộ khoảng răng thiếu.

Bà mang cho tôi một cốc nước mật ong.

“Hẹ để vào chậu, bà trộn nhân.”

Tôi không để bà làm.

Tôi ấn bà ngồi xuống sofa, tự đeo tạp dề vào bếp.

Căn bếp nhỏ đến mức chỉ đủ một người xoay sở, nhưng sạch sẽ, gia vị xếp ngay ngắn, trên từng nắp còn dán nhãn bằng nét chữ xiêu vẹo của bà.

Lúc tôi đang rửa hẹ, bên ngoài vang lên giọng bà gọi điện.

“Con đừng tới nữa. Mẹ đã nói với Tiểu Mãn rồi, hôm nay nó tới thăm mẹ.”

“Chuyện thư luật sư mẹ còn chưa tính với con. Luật sư cũng bảo chuyện ấy không thể làm như con nghĩ. Dừng lại đi.”

Đầu dây bên kia dường như bố đang lớn tiếng.

Bà cúp máy, vài giây sau lại gọi lại.

“Con không sợ mất mặt thì cứ tới.”

“Nhưng nếu dẫn cả Triệu Thải Bình tới, bảo nó trực tiếp xin lỗi Tiểu Mãn. Lần trước nó nói cái kiểu gì vậy?”

Tôi nghe tiếng xe ngoài cửa sổ, tay vẫn cắt hẹ thành những đoạn nhỏ đều nhau.

Trứng được đ.á.n.h tan, cho vào chảo dầu đảo vàng.

Bà nội chống gậy dịch tới cửa bếp, tựa người vào khung cửa nhìn tôi.

Rất lâu sau, bà mới nói:

“Con giống bà ngoại thật. Đến tư thế thái rau cũng y hệt.”

“Bà ngoại dạy cháu.”

Bà im lặng một lúc.

“Chiếc áo vải xanh ấy là bà ngoại con tặng bà.”

Tay tôi khựng lại.

“Một mùa đông bà bệnh rất nặng, trong nhà không có tiền mua áo bông. Bà ấy mang chiếc áo dày nhất của mình cho bà.”

“Sau đó hai bà cãi nhau, bà luôn muốn trả lại nhưng bà ấy không bao giờ tới lấy nữa.”

Bà ngoại chưa từng kể với tôi chuyện ấy.

Bà chỉ từng nói:

“Bà già nhà họ Châu tính bướng nhưng người không xấu.”

Tôi quay lại nhìn.

Bà nội đã quay lưng về phía bếp, vai hơi nhô lên như đang lau nước mắt.

Sủi cảo vừa gói xong, còn chưa kịp cho vào nồi thì chuông cửa vang.

Ngoài cửa là bố và dì Triệu.

Bố thay một chiếc áo khoác sẫm màu, tóc chải ngay ngắn. Dì Triệu hôm nay không đeo vòng, chỉ mặc áo len màu trơn, trong tay xách một thùng sữa.

Hai người thấy tôi đeo tạp dề đứng trong bếp, sắc mặt đều hơi cứng.

“Vào đi.”

Bà nội tránh sang một bên.

“Đừng đứng đó nữa, ăn cơm.”

Không khí trên bàn có chút kỳ lạ.

Ba đĩa sủi cảo được bưng ra, vỏ mỏng, nhân hẹ trứng đầy đặn.

Dì Triệu ăn một cái rồi gượng cười.

“Tiểu Mãn khéo tay thật.”

Tôi không đáp, chỉ tiếp tục pha giấm cho bà nội.

Bố cúi đầu ăn gần hết một đĩa mới đặt đũa xuống.

“Mẹ, hôm qua con nói với luật sư rồi. Chuyện kiện tụng dừng lại ở đây.”

“Vốn dĩ con không nên làm.”

Bà nội đập đũa xuống bàn.

“Châu Kiến Quân, hôm nay mẹ nói rõ.”

“Năm đó con để Tiểu Mãn cho bà ngoại nó, mẹ có thật sự bảo vệ con bé không? Không.”

“Con đi làm xa bao nhiêu năm, không về nhìn nó, mẹ có khuyên không? Có. Con không nghe.”

“Bây giờ con bé lớn rồi, có tiền đồ rồi, con mới nhớ mình còn một đứa con gái?”

Bà cười lạnh.

“Con nhớ con gái hay con nghe nói nhà cũ giải tỏa, tưởng nó cầm được một khoản tiền?”

Mặt bố lúc đỏ lúc trắng.

Dì Triệu kéo tay áo ông nhưng bị hất ra.

“Mẹ, con không có ý ấy. Con chỉ nghĩ Tiểu Mãn một mình bên ngoài không dễ dàng, bây giờ nhà mình khá hơn trước, có thể giúp nó một chút…”

“Giúp?”

Bà nội lấy từ dưới bàn ra một cuốn sổ tiết kiệm.

“Đây là tiền phụng dưỡng mỗi tháng con đưa mẹ, 1.200 tệ.”

“Mẹ gửi suốt sáu năm, một đồng cũng không tiêu.”

“Cộng với khoản mẹ để dành từ trước và chút tiền lãi, trong này có hơn 98.000 tệ.”

“Hôm nay trước mặt mọi người, mẹ cho Tiểu Mãn. Nó không nhận thì cứ coi như bà nội để dành của hồi môn cho nó.”

Tôi mở sổ.

Từng khoản đều được ghi rõ. Tiền phụng dưỡng sáu năm là 86.400 tệ, phần còn lại là tiền bà có từ trước và tiền lãi.

Tôi gấp sổ rồi đặt trở lại tay bà.

“Bà nội, tiền này bà giữ.”

“Cháu không thiếu tiền.”

Tôi im lặng một lát.

“Thứ cháu thiếu là bữa sủi cảo hôm nay của bà.”

Sống mũi hơi cay.

Tôi cúi đầu uống một ngụm nước luộc sủi cảo. Nóng đến tê đầu lưỡi nhưng trong lòng lại ấm.

Ăn xong, tôi vào bếp rửa bát.

Dì Triệu đi tới phụ, im lặng đứng cạnh đưa từng chiếc đĩa.

Nước chảy ào ào.

Một lúc sau, bà nhỏ giọng:

“Tiểu Mãn, lời lần trước dì nói không đúng. Dì xin lỗi.”

“Bố con vụng miệng, nhưng thật ra trong lòng ông ấy vẫn nhớ con.”

Tôi không quay đầu.

“Dì Triệu, nhớ một người không phải nói bằng miệng.”

“Bà ngoại tôi từng dạy, thật lòng tốt với một người phải nhìn từ những chuyện nhỏ.”

“Ví dụ bà nhớ tôi không thích rau mùi, biết tôi sợ tối nên tối nào cũng để lại một ngọn đèn.”

Tôi khóa vòi nước rồi nhìn bà.

“Hai người hôm nay tới là vì bà nội gọi, không phải vì tự nhiên muốn tới, đúng không?”

Dì Triệu không trả lời.

Tôi cũng không ép.

“Bữa cơm hôm nay tôi ăn rất vui vì có bà nội.”

“Chuyện khác để sau hãy nói.”

Lúc tôi rời đi, bà nội đưa tới đầu cầu thang rồi lấy trong túi ra một chiếc chìa khóa đồng kiểu cũ, buộc sợi dây đỏ đã phai màu.

“Đây là chìa khóa căn nhà cũ, nơi bà ngoại con sống cả đời.”

“Trước khi giải tỏa, bà lén giữ lại chiếc chìa của ổ khóa cũ.”

“Con cầm đi. Khi nhớ bà ấy thì lấy ra nhìn.”

Tôi nhận.

Kim loại hơi lạnh.

Bà nội lại nói:

“Phía bố con, bà sẽ quản.”

“Con cứ sống tốt cuộc đời mình. Đừng để mấy chuyện phiền lòng ảnh hưởng.”

Tôi xuống tầng rồi lên xe.

Quay đầu lại, bà nội vẫn đứng bên cửa sổ tầng sáu vẫy tay.

Tôi xâu chiếc chìa khóa đồng vào chùm chìa khóa, treo cạnh chìa căn nhà mới.

Hai chiếc chìa va vào nhau, phát ra tiếng leng keng.

Trên đường về, tôi đi ngang con ngõ bà ngoại từng mua rau, cây long não ở đầu ngõ vẫn còn.

Trên thân cây có chữ “Mãn” xiêu vẹo, do tôi sáu tuổi dùng d.a.o nhỏ khắc.

Bà ngoại nhìn thấy không mắng, chỉ nói:

“Mãn Mãn, cây cũng biết đau. Sau này đừng khắc nữa.”

Tôi dừng xe, đưa tay sờ lên chữ ấy.

Vỏ cây đã lành, ép nét khắc mờ đi nhưng vẫn nhận ra.

Điện thoại rung.

Bà nội nhắn:

“Về tới nhà nhớ báo bà.”

Tôi chụp cây long não gửi cho bà.

“Cháu tới đầu ngõ rồi, sắp về cửa hàng.”

Bà trả lời ngay bằng biểu tượng cười.

“Sủi cảo nhân hẹ ngày mai vẫn ăn được, bà để phần cho con.”

Tôi cười, cất điện thoại.

Trong gió chiều có mùi thức ăn nhà ai đang xào, lẫn hương hoa quế và bụi đất.

Tôi bỗng cảm thấy thành phố này thật ra không lớn đến thế.

Có những người mình tưởng đã hoàn toàn lạc mất, hóa ra vẫn có thể gặp lại ở một góc đường.

Tất nhiên, điều kiện là mình chịu rẽ qua góc ấy.

Tối đó, tôi nằm trên sofa trong cửa hàng, xem cuốn album cũ bà nội mang tới.

Trang đầu là ảnh đầy tháng của tôi.

Bà ngoại bế tôi, bà nội đứng bên cạnh, cả hai đều cười rất vui.

Mặt sau có nét chữ của bà ngoại:

“Tiểu Mãn đầy tháng, bà ngoại và bà nội cùng cạo tóc cho con bé.”

Tôi nhìn tấm ảnh rất lâu.

Thì ra họ từng thân thiết như vậy.

Thì ra có những thù hận tôi từng tưởng là bẩm sinh, thật ra chỉ là những bức tường được xây lên từ hết lần hiểu lầm này đến lần im lặng khác.

Hai tuần sau đó trôi qua khá bình thường.

Ban ngày tôi trông cửa hàng, buổi tối viết vài truyện ngắn gửi tạp chí, thỉnh thoảng tới nhà bà nội ăn cơm.

Bố không tới nữa.

Dì Triệu có một lần ghé cửa hàng một mình. Bà mua một thùng nước khoáng, lúc đi để lại một túi quýt, nói là cây nhà trồng.

Tôi không từ chối, nhận quýt rồi đưa lại bà một chai trà bưởi mật ong mới nhập.

“Tiểu Mãn.”

Bà đứng ngoài cửa, do dự mãi.

“Gần đây bố con đang tìm việc. Đồng nghiệp cũ ở nhà máy giới thiệu công việc bảo vệ nhưng ông ấy chê lương thấp, hai người đang giận dỗi.”

“Con xem… có thể giúp hỏi chỗ nào thích hợp hơn không?”

Tôi bóc một quả quýt.

“Dì Triệu, ông ấy là bố tôi, điều đó tôi không phủ nhận.”

“Nhưng những năm đáng lẽ phải nuôi tôi, khoản cấp dưỡng ông ấy cũng không thực hiện đầy đủ.”

“Bây giờ ông khó khăn, tôi có thể giúp. Nhưng trước mắt cứ coi như hàng xóm láng giềng giúp nhau.”

“Tôi quen lão Lý ở tiệm sửa xe bên cạnh. Chỗ ông ấy thiếu người trông ca đêm, lương không cao nhưng bao chỗ ở. Dì bảo bố thử.”

Dì Triệu sững ra rồi gật đầu.

Cuối tháng, tôi nhận được một bưu kiện từ văn phòng luật sư ở khu mới Thành Nam.

Bên trong là giấy chứng nhận bất động sản mới cùng thông báo rằng thủ tục xác lập quyền thừa kế và sang tên căn nhà theo di chúc của bà Châu Lâm Chi đã hoàn tất.

Kèm theo đó còn có một bức thư viết tay bà gửi tại văn phòng khi còn sống.

Phong bì vẫn nguyên niêm phong.

Tôi mở ra.

Nét chữ quen thuộc, chỉ xiêu vẹo hơn trong ký ức.

“Mãn Mãn, khi con đọc được lá thư này, bà ngoại đã không còn.”

“Tiền trả trước căn nhà ấy là do chính con kiếm, bà chẳng giúp được gì. Con nhất quyết để bà đứng tên vì muốn bà có một căn nhà của riêng mình, bà biết lòng con.”

“Bà đã để lại di chúc rõ ràng. Sau này làm thủ tục sang tên có thể hơi phiền, nhưng nhà cuối cùng vẫn là của con.”

“Người phía bố con nếu tới tìm, con đừng sợ.”

“Cả đời bà ngoại chẳng tích được bao nhiêu tiền, chỉ tích được một đứa cháu là con.”

“Con sống tốt thì bà vui.”

“Nhớ kỹ, chuyện lớn bằng trời, ngủ một giấc rồi cũng qua.”

“Ăn uống t.ử tế.”

“Ngủ cho ngon.”

“Sống cho tốt.”

“Bà ngoại yêu con.”

Trên giấy có một vệt nước cũ làm nhòe bốn chữ “sống cho tốt”.

Tôi gấp thư, cùng giấy nhà cất vào hộp sắt.

Chiều hôm ấy, tôi đóng cửa rồi đạp xe tới nghĩa trang.

Trước bia mộ có một bó cúc đã khô, không biết ai đặt.

Tôi thay bằng cẩm chướng trắng.

“Bà ngoại, nhà sang tên xong rồi.”

“Hai người kia từng tới tìm con, nhưng con không chịu thiệt.”

“Bà nội cũng tới. Bà thay đổi nhiều. Bọn con còn cùng gói sủi cảo.”

“Bà nói đúng, lòng người rách vẫn có thể vá.”

“Tuy vá xong còn đường chỉ, nhưng vẫn tốt hơn để gió cứ lùa mãi.”

Xuống núi, tôi gặp mẹ.

Bà già hơn rất nhiều so với lần cuối tôi gặp. Tóc cắt ngắn, uốn xoăn nhỏ, mặc áo khoác màu be, xách một chiếc túi nâu.

Bà đứng trên bậc thềm cổng nghĩa trang, nhìn thấy tôi thì quai túi suýt trượt khỏi tay.

“Tiểu Mãn?”

Tôi gọi một tiếng:

“Mẹ.”

Dễ hơn tiếng “Bố” lần trước rất nhiều, nhưng vẫn không hề tự nhiên.

Bà bước nhanh tới, giơ tay định sờ mặt tôi rồi lại rụt về.

“Cao thế này rồi… mẹ suýt không nhận ra.”

Chúng tôi tới quán trà dưới chân núi.

Bà kể sau khi tái hôn đã tới Chiết Giang, mở một cửa hàng quần áo nhỏ.

Cuộc sống khá ổn.

Nói đến chuyện vì sao gần hai mươi năm không liên lạc, bà im lặng rất lâu.

Cuối cùng bà không tìm lý do cho mình.

“Những năm đầu mẹ cứ nghĩ đợi ổn định rồi sẽ về đón con. Sau đó nghe nói bà ngoại không muốn mẹ làm xáo trộn cuộc sống của con, mẹ lại tự nói với mình rằng ở với bà ngoại có lẽ tốt hơn.”

“Càng để lâu, mẹ càng không biết phải mở miệng thế nào.”

“Rồi cuộc sống mới cuốn đi.”

Bà cúi đầu.

“Nói gì cũng không thay đổi được một chuyện: lúc con cần mẹ nhất, mẹ không ở đó.”

“Cho nên mẹ không dám bảo con phải tha thứ.”

“Lần này mẹ trở về vì nghe hàng xóm cũ nói bên bố đang gây chuyện, mẹ sợ ông ấy ép con.”

Bà nhìn tôi.

“Con đừng quan tâm bên bố.”

“Năm đó ông ta không nuôi con cho t.ử tế, bây giờ cũng không có quyền coi con như cây rút tiền.”

“Bây giờ mẹ có điều kiện rồi. Nếu con muốn, có thể sang Chiết Giang ở với mẹ một thời gian…”

“Mẹ.”

Tôi ngắt lời.

“Con ở đây rất tốt. Cửa hàng làm ăn được, con cũng có chỗ ở.”

“Nếu mẹ nhớ con thì sau này về thăm nhiều hơn. Hoặc lúc rảnh con sang Chiết Giang thăm mẹ.”

Bà sững ra rồi cười.

“Được. Mẹ nghe con.”

Bà lấy từ túi một thẻ ngân hàng.

“Đây là 100.000 tệ mẹ để dành làm của hồi môn cho con. Đừng từ chối.”

Tôi nhìn tấm thẻ, lại nhớ 100.000 tệ bố từng mang tới và cuốn sổ tiết kiệm của bà nội, bỗng cảm thấy cuộc đời thật biết trêu người.

Lúc tôi thật sự cần, chẳng ai ở đó.

Đến khi tôi không còn thiếu nữa, tiền lại lần lượt xuất hiện.

“Tiền mẹ giữ đi.”

“Sau này con lấy chồng hãy đưa. Đến lúc ấy mẹ phải ngồi bàn chính.”

Tôi cố ý nói đùa rồi đẩy thẻ trở lại.

Nước mắt bà lập tức rơi.

Lúc đi, bà đứng trước cửa soát vé ga tàu cao tốc, quay đầu hét:

“Tiểu Mãn, nhớ ăn cơm cho t.ử tế!”

Tôi vẫy tay.

Đột nhiên cảm thấy bốn chữ “ăn cơm cho t.ử tế” có lẽ chính là kiểu quan tâm chân thật nhất mà những người không biết nói lời yêu thương có thể thốt ra.

Đầu tháng Mười Một là sinh nhật bà nội.

Tôi đóng cửa hàng, chuẩn bị trước hai ngày.

Dì Trương giúp đặt một chiếc bánh hai tầng kiểu cũ, một tầng trái cây, một tầng sô-cô-la, bên trên viết:

“Chúc bà nội mạnh khỏe.”

Hôm sinh nhật có khá nhiều người tới.

Dì Trương, lão Vương ở tiệm cắt tóc, lão Lý ở tiệm sửa xe, chị bán dâu tây ngoài chợ và vài hàng xóm cũ.

Bố với dì Triệu cũng tới, xách hai thùng sữa cùng một túi trái cây, đứng ngoài cửa một lúc lâu mới dám bước vào.

Bà nội gọi họ ngồi.

Dì Triệu chủ động vào bếp cán vỏ sủi cảo.

Bố ngồi trên sofa uống trà, tivi đang phát hí khúc, ông còn khe khẽ hát theo hai câu.

Tôi làm hai loại nhân sủi cảo, hẹ trứng và thịt lợn hành lá.

Thịt lợn hành lá là vị bố từng thích.

Khi tôi bưng lên, ông sững người.

Tôi chỉ nói:

“Chỉ là một bữa cơm, đừng nghĩ nhiều.”

Ông cúi đầu gắp một cái, ăn được mấy miếng thì mắt dần đỏ.

Lúc cắt bánh, bà nội nhắm mắt ước rất lâu.

Tôi hỏi:

“Bà ước gì vậy?”

Bà ghé sát tai tôi.

“Ước Tiểu Mãn nhà mình cả đời đều có người thương.”

Tối ấy, mọi người về hết, bà nội giữ tôi ngủ lại.

Nửa đêm, bà khẽ gọi:

“Tiểu Mãn, con ngủ chưa?”

“Chưa.”

“Bố con hôm nay lúc về nói với bà nó hối hận.”

“Nó nói hồi trẻ không biết làm bố là thế nào, bây giờ biết rồi thì đã muộn.”

Tôi nhìn vết nứt trên trần nhà.

“Hối hận hay không thì cuộc sống vẫn phải đi về phía trước.”

“Nếu bố thật lòng muốn bù đắp, không cần vội.”

“Cứ từ từ.”

Bà không nói nữa.

Một lúc sau, hơi thở đã đều.

Tôi trở mình nhìn ánh trăng mờ qua khe rèm, bỗng cảm thấy những thứ từng thắt thành nút c.h.ế.t đang được thời gian ngâm mềm từng chút.

Không phải hoàn toàn tha thứ.

Chỉ là không còn cấn đau như trước.

Đầu tháng Mười Hai, bố thật sự tới làm ở tiệm sửa xe của lão Lý.

Có hôm tan ca, ông đi ngang cửa hàng, vào mua một bao t.h.u.ố.c rồi do dự hỏi:

“Tiểu Mãn, chỗ con có thiếu người trông ban đêm không?”

Tôi nói ca đêm đã có người, nhưng ban ngày thiếu người sắp hàng. Nếu ông muốn thì chiều có thể tới giúp vài tiếng.

Mắt ông sáng lên.

Từ đó, mỗi chiều ông tới sắp hàng khoảng hai tiếng.

Ít nói, nhưng làm rất cẩn thận.

Dì Triệu thỉnh thoảng mang bánh hẹ hoặc cháo kê tới, vẫn còn nóng khi đặt lên quầy.

Đêm trước Tết Dương lịch, tôi tới nhà bà nội ăn cơm đoàn viên.

Bố và dì Triệu đều ở đó.

Trên bàn là nồi lẩu sôi ùng ục, thịt cừu cuộn, cải thảo, đậu phụ và miến bày đầy.

Bà nội rót nước cam cho mọi người.

“Năm mới, cả nhà bình an, khỏe mạnh.”

Tôi chạm cốc với bà.

Bố nâng cốc, dường như muốn nói rất nhiều nhưng cuối cùng chỉ nói:

“Mẹ, năm mới vui vẻ.”

Đêm ấy, trên đường về, phố đầy xác pháo, trong không khí có mùi khói và hạt dẻ rang đường.

Tôi dừng dưới cây long não rồi nhắn cho số bà ngoại:

“Bà ngoại, năm mới vui vẻ.”

“Những điều bà dặn con đều nhớ.”

“Ăn uống t.ử tế.”

“Ngủ cho ngon.”

“Sống cho tốt.”

Hai chiếc đèn l.ồ.ng đỏ trước cửa hàng là bố treo ban ngày.

Tôi mở cửa, lấy hộp sắt ra.

Bên trong, thư bà ngoại nằm trên cùng, cạnh đó là album bà nội đưa và tấm ảnh mới chụp trong buổi sinh nhật.

Bà nội ngồi giữa.

Tôi đứng bên phải.

Bố và dì Triệu đứng bên trái.

Dì Trương ngồi xổm phía trước, cầm chiếc bánh.

Mọi người đều cười.

Tôi đóng nắp hộp.

Sáng mai mặt trời vẫn mọc.

Cửa hàng vẫn mở.

Ngày tháng vẫn trôi.

Nhưng có vài thứ đã khác.

Sang xuân, bố nghỉ việc xếp hàng ở chỗ tôi vì tiệm sửa xe chuyển ông thành nhân viên chính thức.

Dì Triệu thuê một quầy ở chợ bán sủi cảo thủ công, việc làm ăn khá tốt. Mỗi sáng đi ngang cửa hàng, bà thường để lại một hộp còn nóng, bên dưới kẹp mẩu giấy:

“Tiểu Mãn, hôm nay nhân rau tề thái, con nếm thử.”

Tôi tích góp mấy tháng nhuận b.út rồi sang lại cửa hàng trống cạnh cửa tiện lợi, định mở rộng thành một quán sách nhỏ.

Ngày khởi công, bố xin nghỉ tới giúp sơn tường.

Dì Triệu hấp một nồi bánh bao lớn cho thợ ăn.

Bà nội chống gậy tới xem một vòng rồi gật gù:

“Tốt, tốt. Tiểu Mãn nhà mình có tiền đồ.”

Ngày quán sách khai trương là trước Thanh Minh.

Mẹ từ Chiết Giang trở về, ôm theo một chậu trầu bà.

“Nghe nói hôm nay con khai trương, mẹ tới góp vui.”

Buổi chiều, hai mẹ con ngồi cạnh cửa sổ uống trà.

Mẹ nói bà đã sang lại cửa hàng quần áo ở Chiết Giang, định trở về thành phố này sống.

“Bà ngoại con không còn, nhưng mẹ còn.”

“Sau này con có chuyện gì, mẹ cũng muốn có mặt.”

Lần này tôi không lập tức né tránh.

Tôi nắm tay bà.

“Cạnh đây còn một cửa hàng trống.”

“Mẹ có muốn mở cửa hàng quần áo không?”

“Hai mẹ con mình làm hàng xóm.”

Bà cười mà nước mắt lại rơi.