BÀ CỤ NHẶT VE CHAI BỊ CHỦ SIÊU THỊ LÔI RA GIỮA SẢNH, ÉP NHẬN TỘI ĂN C:ẮP CHAI DẦU GỘI BÀY B:ÁN. BẢO VỆ G:IẬT PHĂNG CHIẾC BAO TẢI R:ÁCH, KHÁCH HÀNG CHỈ TRỎ: “NGHÈO ĐẾN MỨC NÀY RỒI MÀ CÒN THAM, ĐÚNG LÀ KHÔNG BIẾT NH:ỤC!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

BÀ CỤ NHẶT VE CHAI BỊ CHỦ SIÊU THỊ LÔI RA GIỮA SẢNH, ÉP NHẬN TỘI ĂN C:ẮP CHAI DẦU GỘI BÀY B:ÁN. BẢO VỆ G:IẬT PHĂNG CHIẾC BAO TẢI R:ÁCH, KHÁCH HÀNG CHỈ TRỎ: “NGHÈO ĐẾN MỨC NÀY RỒI MÀ CÒN THAM, ĐÚNG LÀ KHÔNG BIẾT NH:ỤC!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và văn bản

(Tiếp theo phần 1)

Bà cụ không trả lời ngay. Bà ngồi bệt xuống nền gạch giữa đống vỏ lon, vỏ chai, hai tay vẫn ôm chặt chiếc bao tải rách. Rồi bà ngẩng lên. Đôi mắt đục mờ nhìn thẳng vào ông Tùng, không van xin, không né tránh.

“Tôi là vợ ông Đạt.”

Năm chữ nhẹ như hơi thở, nhưng cả sảnh siêu thị nghe rõ mồn một.

Mặt ông Tùng từ tái chuyển sang xám ngắt. Ông lùi nửa bước, đụng vào chiếc xe đẩy hàng, tiếng kim loại va nhau chói tai.

“Vợ… Không thể nào.” Ông nuốt khan. “Ông Đạt nói với tôi nhà ông ấy chẳng còn ai.”

“Ổng nói vậy vì ổng tin ông.” Bà cụ đáp, giọng khàn nhưng không run. “Ổng bảo tôi ở quê trông con, chuyện làm ăn để ổng lo. Ổng đâu có ngờ có ngày ông coi nhà ổng như không có ai.”

Ông Tùng im bặt một giây. Rồi tôi thấy vẻ hoảng loạn trên mặt ông đổi thành thứ gì đó khác. Ông đưa tay ra, giọng gắt lên, cố lấy lại cái uy của chủ siêu thị.

“Chỉ là tờ giấy cũ! Bà nhặt ở đâu cũng không biết chừng. Đưa đây, tôi giữ lại làm bằng chứng bà vào siêu thị ăn c:ắp!”

Ông chộp lấy tờ giấy định xé. Tôi lao tới nắm cổ tay ông, nhanh đến mức chính tôi cũng bất ngờ.

“Chú xé thử xem.” Tôi nói. “Cả sảnh đang quay chú đấy.”

Ông Tùng giật tay ra. Ông nhìn quanh. Hơn chục chiếc điện thoại giơ lên, ống kính đen ngòm hướng cả về phía ông. Mấy phút trước những chiếc điện thoại đó còn hướng vào bà cụ. Giờ chúng đã đổi chiều.

Tôi nhẹ nhàng rút tờ giấy ra khỏi tay ông, gấp lại, đưa cho bà cụ.

“Bà giữ lấy, đừng đưa cho ai.”

Bà cụ cầm tờ giấy bằng hai bàn tay run run, nhét sâu vào ngực áo. Rồi tôi cúi xuống, nhặt chai dầu gội đang lăn lóc dưới chân.

Tôi không biết tại sao mình làm thế. Có lẽ vì cả buổi chiều nay mọi người cứ nhìn chai dầu gội này như một bản án, mà chẳng ai chịu cầm lên xem. Tôi là kế toán, tôi quen kiểm từng con số trên từng tờ giấy. Tôi lật chai lại, xem dưới đáy.

Chỗ in hạn sử dụng đã bị ai đó gạch chéo bằng bút lông đen. Phía trên nắp dán một mảnh tem nhỏ màu đỏ, chữ in rất rõ: HÀNG HỦY. Hạn sử dụng đã quá hai tháng.

“Chú Tùng.” Tôi giơ chai lên cho cả sảnh thấy. “Chú nói chai này còn nguyên tem, nguyên seal, không ai vứt thùng rác. Nhưng chai này hết hạn hai tháng rồi, đáy bị gạch chéo, nắp dán tem hủy. Hàng hủy thì phải vứt đi, vậy sao bà nhặt ở thùng rác lại thành ăn c:ắp?”

“Nhân viên làm sai quy trình!” Ông Tùng gân cổ. “Dù sao hàng vẫn là của siêu thị!”

“Vậy tức là hàng này siêu thị đã bỏ đi, đúng không ạ?” Một anh thanh niên đứng gần đó lên tiếng. Anh ta giơ điện thoại lên. “Em quay từ đầu. Hồi ba giờ chiều em đi ngang cổng chính, thấy bà cụ này xin vào gặp ông chủ, bị anh bảo vệ này đuổi ra hai lần. Sau đó bà ấy đi vòng ra cổng sau.”

Tiếng xì xào nổi lên như sóng. Người phụ nữ sang trọng lúc nãy chỉ trỏ bà cụ giờ lùi dần ra sau, môi mím chặt, không nói câu nào.

Tôi quay sang anh bảo vệ. Anh ta khoảng hai bảy, hai tám tuổi, cứ đứng chôn chân một chỗ, tay vẫn nắm cái bao tải rách như nắm một thứ nóng bỏng.

“Anh tên gì?”

“Dạ… Thắng.”

“Anh Thắng, anh có đọc tờ giấy đó đúng không? Lúc nãy tôi thấy anh nhíu mày.”

Anh Thắng liếc ông Tùng, rồi liếc bà cụ. Ông Tùng gằn giọng.

“Thắng! Mày đừng có nói bậy!”

Nhưng anh Thắng không nói gì ngay. Anh nhìn xuống bàn tay mình. Tôi thấy yết hầu anh chạy lên chạy xuống.

“Em không đọc hết,” cuối cùng anh nói, “nhưng em thấy tên ông chủ ở dòng Bên B. Em biết chuyện này không phải chuyện ăn c:ắp.” Anh hít một hơi. “Từ tháng trước, ông chủ dặn em: hễ thấy bà cụ này lai vãng quanh siêu thị thì đuổi, đuổi mạnh vào. Hôm nay ông dặn em phải tìm cho ra cớ. Sáng nay chị Hà bảo em mang mấy chai hàng hủy ra thùng rác sau kho, đặt gần cổng sau. Em làm theo, em không biết…”

“Anh Thắng!” Chị nhân viên tên Hà hét lên, mặt đỏ bừng.

Nhưng tôi quay sang chị.

“Chị Hà, lúc nãy chị nói thấy bà cụ đi lang thang ở khu hóa mỹ phẩm. Chị thấy thật không?”

Chị Hà đứng đó, miệng hé ra mà không phát ra tiếng nào. Ông Tùng nhìn chị như muốn ăn tươi nuốt sống. Nhưng chị đã nhìn thấy ống kính của hàng chục chiếc điện thoại. Nước mắt chị trào ra.

“Em không thấy,” chị nói nhỏ như muỗi kêu. “Ông chủ bảo em nói vậy. Ông bảo lấy được tờ nhận t:ội của bà ấy thì sẽ thưởng cho em.”

Cả sảnh lặng đi một giây. Rồi tiếng bàn tán nổ ra. Một người đàn ông phía sau buột miệng:

“Trời, gài bẫy bà già bảy mươi mấy tuổi…”

“Im hết đi!” Ông Tùng quát. “Chúng mày muốn mất việc hả? Cái siêu thị này tao nuôi chúng mày!”

Không ai trả lời. Anh Thắng chỉ lặng lẽ tháo thẻ nhân viên khỏi cổ áo, đặt lên quầy bên cạnh.

Tôi ngồi xuống cạnh bà cụ. Lúc này bà mới nhìn tôi lần đầu tiên, đôi mắt ngấn nước.

“Cô gái… cảm ơn con.” Bà nói. “Bà không dám làm ầm ĩ. Bà chỉ muốn gặp ông ấy một lần.”

“Bà tên gì ạ?”

“Bà Sáu. Ông nhà tôi là Nguyễn Văn Đạt.”

Tôi đỡ bà ngồi lên chiếc ghế nhựa mà một nhân viên khác vội mang ra. Bà thở khó nhọc. Rồi bà kể, giọng đều đều như người đã kể cho chính mình nghe cả trăm lần.

Mười lăm năm trước, ông Đạt có một mảnh đất rộng hơn một nghìn hai trăm mét vuông, mặt đường lớn, đúng chỗ siêu thị Hưng Phát đang đứng. Ông Tùng khi đó còn là người làm thuê quen biết ông Đạt, đến nhờ giúp đỡ để mở một cửa hàng tạp hóa. Ông Đạt thương, bảo mình góp đất, cậu góp vốn xây, hai bên cùng làm ăn. Họ viết hợp đồng hợp tác. Lợi nhuận chia bảy ba, ông Tùng bảy, ông Đạt ba. Mảnh đất vẫn đứng tên ông Đạt.

“Mấy năm đầu cậu ấy trả đủ.” Bà Sáu nói. “Ông nhà tôi tin cậu ấy lắm, bảo thằng này biết điều. Sau đó siêu thị làm ăn khá, cậu ấy xây to lên, thuê thêm người. Rồi ông nhà tôi bị tai b:iến. Nằm một chỗ, bên tay phải co quắp, nói cũng không rõ chữ.”

“Ông Đạt bệnh thế mà ông Tùng có đến thăm không bà?”

“Có. Hai lần. Lần nào cũng để lại chút tiền rồi đi. Sau đó thì bặt tin.”

Bà Sáu lắc đầu. Tôi để ý bàn tay bà luôn đặt lên chỗ ngực áo giấu tờ hợp đồng, như sợ nó bay mất.

Con trai độc nhất của bà, anh Hưng, mất trong một tai nạn lao động năm năm trước. Vợ anh bỏ đi biệt tích, để lại đứa con trai nhỏ. Ông Đạt tai b:iến nằm liệt, một năm sau thì ch:ết. Từ đó, bà Sáu một mình nuôi cháu nội.

“Thằng Bin năm nay chín tuổi, đang học lớp bốn.” Giọng bà chợt mềm hẳn đi. “Học giỏi lắm. Nhưng nó bị bệnh tim từ nhỏ. Bác sĩ nói phải mổ. Viện phí còn thiếu bảy chục triệu. Bà gõ cửa hết họ hàng mà không ai giúp được. Bà mới nhớ ra ổng có hợp đồng với cậu Tùng.”

“Bà đến gặp ông Tùng bao nhiêu lần rồi ạ?”

“Gần một tháng. Lần nào cũng bị đuổi ngoài cổng, không ai cho gặp. Bà cũng chẳng biết kiện cáo gì. Bà chỉ muốn đưa tờ giấy cho cậu ấy xem, nhờ cậu ấy nhớ lại tình nghĩa ngày xưa.” Bà ngừng lại. “Bà không đòi cả phần của ổng. Bà chỉ xin đủ tiền mổ cho thằng bé.”

Tôi nghẹn ở cổ họng. Quanh tôi không ai nói gì. Người phụ nữ sang trọng lúc nãy giờ đã cúi gằm mặt.

Ông Tùng đứng cách đó vài bước, hai tay thõng xuống. Tôi thấy ông thở rất nhanh, mồ hôi chảy thành dòng trên thái dương. Nhưng ông chưa chịu thua. Ông hít vào một hơi dài, giọng cố lấy lại vẻ chắc nịch.

“Bà nói gì cũng được. Nhưng tôi nói rõ cho mọi người nghe.” Ông nhìn quanh, giọng to dần lên. “Mảnh đất này ông Đạt đã chuyển nhượng đứt cho tôi từ sáu năm trước, có giấy tờ đàng hoàng, có chữ ký ông ấy. Bà nói chuyện chia lời chia lãi gì, hợp đồng đó đã hết giá trị từ lâu rồi!”

Bà Sáu ngẩng phắt lên.

“Sáu năm trước?”

“Phải. Tháng Ba sáu năm trước.”

“Tháng Ba sáu năm trước ổng nằm viện tỉnh.” Bà nói, từng chữ rành rọt. “Ổng bị liệt tay phải, không cầm nổi cái muỗng, nói không ra hơi. Bà ngồi bên giường ổng cả tháng trời, bà biết rõ hơn ai hết. Ông nói ổng ký tên? Ổng ký bằng cái gì?”

Tiếng xì xào nổi lên dữ dội hơn. Ông Tùng chột dạ. Cái liếc mắt của ông lướt qua tôi, qua anh Thắng, qua những chiếc điện thoại đang quay. Ông nhận ra không gian xung quanh đã chẳng còn ai đứng về phía ông.

Tôi đứng dậy.

“Chú Tùng, cháu là kế toán nên cháu nói gọn. Một, hợp đồng hợp tác ghi rõ lợi nhuận chia bảy ba, nghĩa là suốt mười mấy năm nay phải có sổ sách thu chi để đối chiếu. Hai, nếu có giấy chuyển nhượng thì có thể kiểm tra ngày ký, nơi công chứng, thủ tục sang tên. Ba, bà Sáu có hồ sơ bệnh án của ông Đạt không ạ?”

“Có.” Bà Sáu gật đầu. “Bà giữ hết. Giấy ra viện, giấy xét nghiệm, cả cái thẻ y tế của ổng.”

“Vậy là xong rồi.” Tôi quay về phía ông Tùng. “Chú đưa giấy chuyển nhượng ra cho công an xem, hồ sơ bệnh án sẽ nói ngày ông Đạt có thể ký hay không. Chú không đưa thì công an tự đi lấy.”

“Cô là cái thá gì mà dạy tôi?”

“Cháu chỉ là người đứng xem.” Tôi nói. “Nhưng cháu đã gọi công an phường từ lúc anh Thắng bắt đầu kể.”

Tôi giơ điện thoại lên. Màn hình hiện cuộc gọi vừa kết thúc, thời gian ba phút. Tôi gọi lúc nào, chính tôi cũng không nhớ, có lẽ là khi chị Hà bắt đầu khóc.

Ông Tùng đứng chết trân. Rồi ông làm một việc mà tôi không bao giờ ngờ tới.

Ông rút ví, móc ra một xấp tiền dày cộp, bước nhanh đến trước mặt bà Sáu, dúi vào tay bà.

“Hai chục triệu. Bà cầm lấy, đưa tờ giấy đây rồi về nuôi cháu. Chuyện này coi như xong, tôi không truy cứu chuyện bà vào siêu thị. Có được không?”

Bà Sáu nhìn xấp tiền. Hai chục triệu. Một con số bà nhặt ve chai cả đời không gom nổi.

Tôi thấy mắt bà đảo sang tờ tiền, rồi nhìn sang tôi, rồi nhìn lên trần siêu thị. Tôi hiểu bà đang nghĩ đến thằng Bin. Không ai có quyền trách bà nếu bà nhận.

Nhưng bà đặt xấp tiền xuống mặt bàn.

“Hai chục triệu.” Bà nói chậm rãi. “Ông đổi cả đời ông Đạt lấy hai chục triệu hả Tùng?”

Giọng bà nhỏ, nhưng không ai trong sảnh dám thở mạnh.

“Ổng đưa ông từ cái nhà tranh lên cái siêu thị này. Ổng nằm liệt giường mà còn dặn tôi, nếu Tùng có khó khăn thì giúp nó. Ông có biết ổng nhắc tên ông đến lúc cuối cùng không?”

Ông Tùng há miệng, nhưng không nói được gì.

Tôi nhanh tay rút điện thoại, giơ thẳng về phía ông.

“Chú vừa đề nghị mua lại chứng cứ trước mặt hai trăm người, cháu quay đủ rồi.”

Ngoài cổng vang lên tiếng còi xe. Hai chiếc xe máy công an phường dừng trước sảnh. Một anh công an trung niên bước vào, dáng người chắc nịch, mắt quét qua căn sảnh chật ních người rồi dừng lại ở bà Sáu đang ngồi giữa đống ve chai.

“Ai là người báo?”

“Dạ cháu.” Tôi giơ tay. “Cháu là Lê Thu Ngân, khách hàng ở đây. Có vụ ép người già nhận t:ội ăn c:ắp, v:u kh:ống, phạt tiền trái quy định, và nghi vấn l:ừa đ:ảo liên quan đến một hợp đồng tranh chấp đất.”

Anh công an nhìn tôi, rồi nhìn ông Tùng. Anh ra hiệu cho đồng nghiệp.

“Mời ông Tùng, chị Hà, anh bảo vệ về phường làm việc. Bà cụ cũng đi cùng chúng tôi, có người đi theo hỗ trợ bà. Còn vị này,” anh nhìn tôi, “cô là người làm chứng, mời cô đi luôn.”

“Dạ.”

Lúc bước ra khỏi siêu thị, tôi nghe tiếng xào xạc phía sau. Người phụ nữ sang trọng lúc nãy chỉ trỏ bà cụ đuổi theo, tay run run cầm một chiếc phong bì. Bà ta cúi đầu trước bà Sáu.

“Cụ ơi, con xin lỗi cụ. Lúc nãy con nói bậy. Con… con gửi cụ chút ít cho cháu.”

Bà Sáu đưa tay đẩy phong bì lại, nhẹ nhàng.

“Con giữ lấy. Bà không nhận. Nhưng bà biết con có lòng.”

Người phụ nữ khóc nấc. Và bất ngờ, từ đám đông, từng người một bước ra. Một cô bé sinh viên nhét vào tay bà mấy tờ năm chục. Một bác xe ôm cởi nón, bỏ vào đó. Anh thanh niên quay video nói nhỏ:

“Bà ơi, bà cầm lấy cho cháu mua thuốc ạ.”

Bà Sáu đứng giữa vòng người, tay bà ôm đầy những tờ tiền nhàu nhĩ, miệng cứ lặp đi lặp lại: “Cảm ơn, cảm ơn các con…” Tôi quay mặt đi để không ai thấy mắt mình đỏ.

Ở trụ sở công an phường, anh công an trung niên tên Phong làm việc rất cẩn thận. Anh cho bà Sáu uống nước ấm, bảo chị Hà và anh Thắng ngồi riêng từng người để lấy lời khai. Ông Tùng bị đưa vào phòng khác. Tôi ngồi ở băng ghế ngoài hành lang chờ lấy biên bản chứng kiến.

Bà Sáu ngồi bên cạnh tôi. Bà đưa tờ hợp đồng cho anh Phong. Anh trải ra bàn, đọc kỹ từng dòng, rồi gọi tôi vào.

“Cô Ngân, tôi cần cô xác nhận đây là tờ giấy ông Tùng đã thấy và đã cố giật lúc ở siêu thị.”

“Dạ, đúng ạ.”

Tôi bước tới bàn. Lần này, tờ giấy nằm phẳng trước mặt tôi, không còn bị bàn tay run run của ai che khuất. Tôi đọc từ trên xuống. Bên A: Nguyễn Văn Đạt. Bên B: Trần Quốc Tùng. Điều khoản chia lợi nhuận bảy ba. Điều khoản khi một bên qua đời, quyền lợi được chuyển cho vợ và con cháu của bên đó.

Tôi chuyển xuống dòng cuối cùng, nơi có dấu đỏ chồng lên chữ ký hai bên. Bên dưới là một dòng nhỏ mà nãy giờ tôi chưa nhìn thấy, vì lúc ở siêu thị ngón cái ông Tùng đè đúng chỗ đó.

Người làm chứng: Lê Văn Hải.

Chữ ký nghiêng nghiêng, nét sổ ở chữ H kéo dài xuống dòng dưới như một cái đuôi. Tôi đã nhìn nét chữ này cả đời. Trên từng cuốn vở bài tập tôi mang về cho ba ký, trên từng giấy khen ba dán lên tường, trên tờ di chúc ngắn ngủi ba để lại ba năm trước.

Tay tôi lạnh buốt.

Cánh cửa phòng bên bật mở. Ông Tùng bước ra, đi ngang qua tôi để vào phòng lấy lời khai. Ông liếc xuống tờ hợp đồng, rồi liếc lên tôi. Gương mặt ông không còn hoảng loạn nữa. Ông cười, rất khẽ, đủ để một mình tôi nghe thấy.

“Cô nên hỏi lại ba cô xem. Ơ, quên mất. Ông ấy mất rồi, phải không?”

Ba tôi mất đã ba năm. Và trong suốt ba mươi hai năm làm con gái ông, tôi chưa từng nghe ông nhắc nửa lời về người tên Đạt.

Tôi đứng chôn chân trước bàn làm việc của anh Phong. Tờ hợp đồng vẫn nằm đó, và cái tên Lê Văn Hải vẫn nhìn tôi từ dòng cuối cùng.

Anh Phong ngẩng lên, nhìn sắc mặt tôi.

“Cô Ngân, cô có sao không?”

“Dạ… người làm chứng trong hợp đồng này là ba cháu.” Giọng tôi khô khốc. “Ba cháu m:ất ba năm rồi. Cháu chưa từng nghe ba nhắc đến ông Đạt.”

Bà Sáu ngồi ngoài hành lang nghe thấy, chống tay đứng dậy, bước vào. Bà nhìn tôi rất lâu, đôi mắt đục mờ chợt sáng lên như người vừa nhớ ra điều gì.

“Hải… Ông Hải làm ở địa chính huyện đúng không con? Cái ông gầy gầy, hay hút thuốc lào, hay đi xe Cub cũ?”

“Dạ, đúng ạ.”

“Trời ơi.” Bà đưa tay lên miệng. “Hồi đó ổng hay ghé nhà bà uống trà với ông Đạt. Ổng bảo ký hợp đồng thì phải có người ngoài làm chứng cho chắc. Bà quên mất mặt ổng, chỉ nhớ cái tên.”

Tôi ngồi phịch xuống ghế. Mười lăm năm trước, tôi mới mười bảy tuổi, đang ôn thi đại học. Ba tôi bận đi suốt, tôi chẳng buồn hỏi ba đi đâu.

Anh Phong gõ nhẹ ngón tay xuống mặt bàn.

“Cô Ngân, nếu ba cô là người làm chứng thì cô là người có thể xác nhận chữ ký này. Điều đó rất quan trọng với vụ án.”

“Cháu xác nhận được ạ.” Tôi nói. “Nhưng cháu nghĩ cháu còn làm được hơn thế.”

Lúc đó tôi mới nhớ ra một chuyện. Trong tờ di chúc ngắn ngủi của ba có đúng một dòng mà tôi đọc ba năm nay vẫn không hiểu: “Cái hộp sắt trong tủ gỗ, nếu có ai tìm đến hỏi về mảnh đất ngoài đường lớn, con đưa cho họ.”

Ba năm qua tôi chưa từng mở cái hộp đó. Tôi cứ nghĩ đó là kỷ vật. Tôi cứ nghĩ mảnh đất ngoài đường lớn là chuyện gì đó của người lớn ngày xưa.

Tôi nhìn bà Sáu.

“Bà ơi, bà cho cháu về nhà một chút. Cháu hứa sẽ quay lại ngay.”

Anh Phong gật đầu, cử một đồng chí đi theo tôi. Tôi phóng xe về nhà, tay run đến mức mấy lần suýt cắm đầu vào gốc cây ven đường.

Căn nhà của ba vẫn y nguyên như ngày ba đi. Chiếc tủ gỗ đặt trong góc phòng, mùi mốc và mùi thuốc lào thoảng ra khi tôi kéo cánh cửa. Hộp sắt nằm ở ngăn dưới cùng, phủ bụi dày. Tôi bê nó ra giữa nhà, bật nắp.

Bên trên là một phong bì lớn dán kín, ngoài ghi nét chữ nghiêng nghiêng của ba: “Gửi con gái Ngân”.

Tôi xé phong bì. Bên trong là một xấp giấy, và trên cùng là một lá thư viết tay.

“Ngân con,

Nếu con đọc được thư này tức là có người đã tìm đến hỏi về mảnh đất của bác Đạt, và ba đã không còn ở đây để tự mình giải quyết.

Mười lăm năm trước, ba làm chứng cho bác Đạt ký hợp đồng hợp tác với thằng Tùng. Ba biết thằng Tùng là đứa khéo ăn nói, nhưng bác Đạt tin nó, ba cũng tin. Bốn năm sau ngày ba về hưu, thằng Tùng tìm ba, đưa ra một tờ giấy chuyển nhượng đất, trên đó có chữ ký bác Đạt, và có cả tên ba làm chứng. Ba chưa từng ký tờ nào như thế.

Ba biết ngay đó là giấy giả. Bác Đạt khi ấy đã nằm liệt vì tai b:iến, bàn tay phải co quắp, làm sao ký được cái chữ trơn tru như thế? Ba nhìn kỹ thấy chữ ký bác Đạt trên tờ giấy kia y hệt chữ ký trong hợp đồng cũ, chỉ có thể là đồ lại.

Thằng Tùng đề nghị ba xác nhận mình có làm chứng, nó trả một trăm triệu. Ba từ chối. Nó đổi giọng đe dọa. Nó nói nó quen giám đốc công ty vận tải nơi con đang làm kế toán, nó nói con là đứa trẻ có tương lai, đừng để vì chuyện người ngoài mà hỏng.

Ba sợ. Ba thừa nhận ba sợ. Khi ấy ba đã phát hiện bệnh, ba biết mình không còn nhiều thời gian. Ba chỉ có mình con.

Nhưng ba không ký, không nhận một đồng nào của nó. Số tiền nó dúi cho ba, ba đã chuyển trả lại bằng ngân hàng, giấy tờ ba kẹp ở đây. Ba cũng viết lại toàn bộ sự việc, có xác nhận của hai người bạn cũ ở địa chính. Ba đi tìm vợ con bác Đạt nhưng nhà bác đã bán nhà dưới quê, không ai biết đi đâu.

Ba xin lỗi con vì đã im lặng. Ba hèn. Nếu con thấy nên đưa tất cả ra ánh sáng, con cứ làm. Ba tin con.

Ba của con.”

Tôi gập lá thư lại. Nước mắt rơi xuống làm nhòe cả một góc giấy. Đồng chí công an đứng cạnh lặng lẽ đưa cho tôi tờ khăn giấy.

Dưới lá thư là một bản photo công chứng của hợp đồng gốc, một bản sao tờ giấy chuyển nhượng giả mà ba tôi chụp lại, bản xác nhận của hai người bạn cũ, và biên lai chuyển khoản trả lại một trăm triệu cho Trần Quốc Tùng, kèm dòng ghi chú: “Tôi không bán chữ ký của mình.”

Tôi ôm cả hộp quay lại phường.

Lúc tôi bước vào, ông Tùng đã ngồi sẵn trong phòng lấy lời khai, hai tay khoanh trước ngực, vẻ mặt thản nhiên của người nghĩ mình nắm được con bài cuối cùng. Trên bàn là một bản photo giấy chuyển nhượng đất. Anh Phong cho tôi xem.

“Giấy này ông Tùng nộp. Ghi là ông Đạt chuyển nhượng toàn bộ đất cho ông Tùng, tháng Ba sáu năm trước. Người làm chứng: Lê Văn Hải.”

Ông Tùng nhìn tôi, nhếch môi.

“Cô thấy chưa? Ba cô làm chứng đấy. Tôi và ba cô là người cùng một thuyền. Cô muốn tố tôi thì cũng là tố ba cô.”

Tôi đặt hộp sắt xuống bàn. Tôi mở bản photo giấy chuyển nhượng, đặt cạnh lá thư của ba.

“Anh Phong, cháu xin trình bày.” Tôi nói chậm rãi. “Chữ ký Lê Văn Hải trên giấy này không phải của ba cháu. Ba cháu viết chữ H có một nét sổ kéo dài xuống dòng dưới, giống như cái đuôi. Trên hợp đồng gốc có, trên di chúc ba cháu có, trên mọi giấy tờ ba cháu ký suốt bốn chục năm đều có. Trên giấy này thì không.”

Ông Tùng đổi sắc mặt.

“Cô bịa!”

“Ba cháu để lại thư viết tay, nói rõ ông ấy chưa từng ký giấy này.” Tôi đẩy lá thư về phía anh Phong. “Còn đây là biên lai chuyển khoản. Ba cháu trả lại ông một trăm triệu ông đưa để mua chữ ký. Ông nhìn xem, tên người nhận là ai?”

Ông Tùng không trả lời. Mồ hôi lấm tấm trên trán ông.

“Chưa hết.” Tôi nói. “Bà Sáu có hồ sơ bệnh án của ông Đạt. Tháng Ba sáu năm trước ông ấy nằm viện tỉnh, tay phải liệt hoàn toàn. Mà chữ ký ông Đạt trên giấy chuyển nhượng lại thẳng thớm, rõ ràng, đúng từng nét như trên hợp đồng mười lăm năm trước. Người ta liệt tay phải thì không thể ký đẹp hơn lúc còn khỏe.”

Anh Phong lật bản bệnh án mà bà Sáu vừa đưa, đặt cạnh giấy chuyển nhượng. Anh nhìn rất lâu.

“Ông Tùng.” Anh Phong gấp hồ sơ lại. “Chúng tôi sẽ trưng cầu giám định chữ ký, đối chiếu cả ngày tháng và tình trạng sức khỏe của ông Đạt. Tờ giấy này, tôi đề nghị ông giải thích cho rõ.”

“Tôi… tôi mua đất đàng hoàng!” Ông Tùng gân cổ nhưng giọng đã lạc đi. “Ông Đạt tự nguyện!”

“Tự nguyện bằng bàn tay liệt?” Bà Sáu đứng ở cửa, giọng khàn khàn. “Ông Tùng, tôi hỏi ông một câu thôi. Ổng có biết ông làm vậy không? Lúc ổng sắp đi, ổng còn dặn tôi giúp ông nếu ông khó khăn.”

Ông Tùng cúi gằm mặt. Tôi chờ ông chối. Tôi chờ ông gào lên. Nhưng ông chỉ ngồi đó, bờ vai chùng xuống, như một cái bao đã bị rút hết thứ bên trong.

Cuối cùng ông mở miệng, giọng nhỏ đến mức tôi phải căng tai nghe.

“Lúc đó tôi nợ ngân hàng hai chục tỷ. Siêu thị sắp bị siết. Tôi chỉ cần có cái giấy chuyển nhượng đứng tên tôi để thế chấp vay thêm. Tôi định khi nào có tiền sẽ trả lại cho nhà ông Đạt…”

“Ông định?” Tôi hỏi.

“Tôi định thật.” Ông Tùng ngẩng lên, mắt đỏ. “Nhưng sau đó siêu thị làm ăn khá lại, tiền về nhiều, tôi quen dần. Tôi nghĩ ông Đạt ốm yếu, vợ con ở quê chắc cũng chẳng biết gì. Rồi ông ấy m:ất, thằng Hưng cũng m:ất…”

Anh Phong đặt bút xuống.

“Ông Tùng, ông hiểu những lời vừa nói sẽ được ghi vào biên bản chứ?”

Ông Tùng im lặng một lúc lâu, rồi gật đầu.

Bà Sáu đứng lặng ở cửa. Bà không khóc, không mắng, không nói gì. Chỉ có bàn tay bà run lên khi nắm lấy khung cửa. Tôi bước tới đỡ bà, và lần đầu tiên bà tựa hẳn người vào tôi.

“Con ơi,” bà nói rất khẽ, “ba con là người tốt.”

“Dạ.” Tôi nghẹn giọng. “Ba cháu chỉ sợ quá thôi bà ạ.”

“Ổng không sợ,” bà lắc đầu. “Ổng thương con.”

Đêm đó tôi không ngủ được. Tôi nằm trong căn phòng cũ của ba, ôm cái hộp sắt, đọc lại từng trang ba viết. Có những dòng ba ghi cách đây năm năm, nét chữ đã run. Ba viết: “Nếu có ngày gặp được vợ con bác Đạt, ba sẽ xin lỗi vì không cứu được họ sớm hơn.” Ba chưa kịp gặp. Hôm nay, thay ba, tôi đã gặp.

Sáng hôm sau tôi gọi cho công ty xin nghỉ một tuần. Sếp tôi hỏi lý do, tôi kể ngắn gọn. Đầu dây im lặng một hồi lâu, rồi sếp nói: “Em cứ đi giải quyết cho xong. Công ty không quen ông Tùng nào cả.” Tôi bật cười, nước mắt chảy ròng ròng. Lời đe dọa của ông Tùng suốt mấy năm qua chỉ là hơi gió.

Chuyện của bà Sáu lan khắp mạng sau đúng một buổi tối. Đoạn video anh thanh niên quay, đoạn tôi quay cảnh ông Tùng dúi tiền cho bà, đoạn chị Hà khóc nói ông chủ bảo mình vu cho bà cụ, tất cả được chia sẻ cả chục nghìn lần. Có người mở trang quyên góp cho thằng Bin. Chỉ trong ba ngày, số tiền đã vượt quá bảy chục triệu viện phí còn thiếu. Bà Sáu gọi điện cho tôi, giọng như muốn khóc.

“Con ơi, nhiều quá, bà không dám nhận hết. Bà xin chỉ lấy đủ cho cháu mổ thôi, còn lại bà trả.”

“Bà cứ giữ ạ.” Tôi nói. “Mổ xong còn phải thuốc men, phục hồi nữa. Bà đừng lo.”

Thằng Bin vào viện đúng ngày thứ Hai tuần sau. Tôi đến sớm, mang theo túi trái cây và một cái hộp bút màu, vì bà Sáu bảo cháu thích vẽ. Thằng bé nằm trên giường bệnh trắng, nhỏ xíu, gầy nhẳng, đôi mắt to tròn nhìn tôi tò mò.

“Chị là chị Ngân ạ? Bà kể chị nhiều lắm.”

“Bà kể gì thế?”

“Bà bảo chị giống người trong truyện cổ tích. Nhưng không có phép màu, chỉ có cái đầu rất thông minh.”

Tôi bật cười. Bà Sáu ngồi bên cạnh, xấu hổ che mặt. Khi y tá đẩy cháu vào phòng mổ, bà nắm tay tôi chặt đến mức móng tay bà hằn vào da tôi. Tôi cũng không rút tay ra. Chúng tôi ngồi ngoài hành lang bốn tiếng đồng hồ, không ai nói gì. Khi bác sĩ bước ra, tháo khẩu trang, gật đầu, bà Sáu khuỵu xuống ghế, bật khóc thành tiếng.

Thằng Bin tỉnh dậy vào chiều hôm sau. Nó mở mắt, nhìn bà, rồi nhìn tôi, rồi hỏi bằng giọng khàn khàn:

“Bà ơi, con ngủ lâu lắm hả?”

“Lâu rồi con.” Bà Sáu cười mà nước mắt tràn xuống. “Giờ con dậy rồi.”

Vụ án của ông Tùng chạy nhanh hơn tôi tưởng, vì chứng cứ đầy đủ và người dân theo dõi sát sao. Cơ quan giám định kết luận chữ ký ông Đạt và chữ ký người làm chứng trên giấy chuyển nhượng là giả mạo. Hồ sơ bệnh án chứng minh ông Đạt không có khả năng ký tên vào thời điểm đó. Văn phòng công chứng bị xác minh con dấu, cũng không ghi nhận giao dịch nào. Ngân hàng đã cho ông Tùng vay thế chấp bằng một bộ hồ sơ có vấn đề, và họ cũng tham gia cuộc điều tra.

Ông Tùng bị khởi tố về tội làm giả giấy tờ và l:ừa đ:ảo chiếm đoạt tài sản. Chị Hà và anh Thắng được xác định bị chỉ đạo, khai báo thành khẩn nên được xem xét giảm nhẹ. Anh Thắng sau đó đến tìm tôi, nói anh xin việc ở một công ty bảo vệ khác.

“Em thấy xấu hổ lắm chị.” Anh nói. “Hôm đó chị đứng lên, em mới dám đứng lên.”

“Anh đã đứng lên rồi.” Tôi nói. “Anh tháo thẻ nhân viên đặt xuống quầy. Không phải ai cũng làm được.”

Ba tháng sau, tòa tuyên án. Mảnh đất hơn một nghìn hai trăm mét vuông được xác định thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Nguyễn Văn Đạt, người thừa kế hợp pháp là bà Sáu và cháu nội Bin. Siêu thị Hưng Phát bị buộc thanh toán phần lợi nhuận chưa chia theo hợp đồng hợp tác trong suốt mười mấy năm, tính theo sổ sách mà cơ quan điều tra thu giữ, cộng thêm khoản bồi thường cho thiệt hại tinh thần. Ông Tùng lĩnh bảy năm t:ù. Cái bụng phệ của ông ngày xét xử đã xẹp xuống, tóc bạc trắng. Khi ông được dẫn ra khỏi phòng xử, ông quay đầu nhìn bà Sáu một lần. Bà nhìn lại. Không ai nói gì.

Chiều hôm đó, bà Sáu mời tôi về nhà ăn cơm. Căn nhà nhỏ của bà nằm trong con hẻm chật hẹp phía sau chợ, mái tôn cũ, vách ván ố. Bà nấu canh chua cá lóc và đĩa rau muống luộc giản dị. Thằng Bin ngồi cạnh tôi, vẽ cho tôi một bức tranh nguệch ngoạc: ba người đứng dưới một cái cây, một bà già, một đứa bé, và một chị mặc áo trắng.

“Con vẽ chị đó.” Nó nói.

“Sao chị mặc áo trắng?”

“Vì chị giống thiên thần.”

Tôi nuốt miếng cơm mà thấy nghẹn.

Ăn xong, bà Sáu đưa tôi một tờ giấy gấp làm tư. Bà bảo tôi mở ra. Đó là bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp lại. Dưới tên bà Sáu và Bin là một dòng chữ viết tay của bà, nét chữ run run:

“Tặng con gái của ông Hải một phần trăm. Không phải vì tiền. Vì tình.”

“Bà…”

“Con đừng từ chối.” Bà giữ tay tôi lại. “Bà biết con không cần. Nhưng bà muốn cái tên ông Hải còn có mặt trong mảnh đất đó. Ổng làm chứng cho giấy tờ bà tin. Ổng giữ cho bà cái hộp. Ổng xứng đáng.”

Tôi nhìn bà. Rất lâu. Rồi tôi gật đầu.

Một năm sau, mảnh đất ngoài đường lớn trở thành một thứ khác. Bà Sáu không bán, không cho thuê lại cho người ngoài. Với số tiền bồi thường, bà cùng Bin dựng lên một tiệm tạp hóa nhỏ ở đúng góc đất ngày xưa ông Đạt từng đứng. Tôi giúp bà làm sổ sách, hướng dẫn bà ghi chép từng khoản thu chi bằng quyển sổ có kẻ ô. Bà học rất nhanh, ngày nào cũng ghi, chữ cứ tròn dần.

Siêu thị Hưng Phát đóng cửa vì phải thanh lý tài sản trả nợ. Nhưng những nhân viên cũ được nhiều nơi hỏi mua lại tay nghề. Chị Hà xin vào làm ở một cửa hàng nhỏ, hôm chị ghé thăm tiệm của bà Sáu, chị đứng ngoài cửa rất lâu mới dám bước vào. Bà Sáu đưa cho chị một chai nước, chỉ nói một câu: “Con làm lại từ đầu đi.” Chị Hà khóc.

Mỗi chiều thứ Bảy, tôi vẫn ghé tiệm của bà Sáu mua đồ ăn cho cả tuần, giống như cái thói quen ngày xưa tôi hay đến siêu thị. Chỉ khác ở chỗ bây giờ tôi không phải đứng lặng giữa đám đông nữa. Tôi ngồi xuống chiếc ghế nhựa trước cửa, uống ly trà đá bà rót sẵn, nghe thằng Bin khoe điểm mười môn Toán và kể chuyện đi học. Vết mổ của nó đã lành, môi hồng hào, chạy nhảy được như bao đứa trẻ khác.

Một buổi chiều, tôi mang cái hộp sắt của ba đến. Tôi đặt nó lên bàn thờ nhỏ của ông Đạt, nơi bà Sáu vẫn thắp hương mỗi sáng. Bên cạnh di ảnh một người đàn ông gầy, hiền lành, tôi đặt thêm tấm ảnh của ba. Hai người đàn ông, hai gương mặt từng ngồi uống trà dưới mái hiên mười lăm năm trước, giờ lại ở cạnh nhau.

Bà Sáu đứng sau lưng tôi, thắp hai nén nhang, đưa một nén cho tôi.

“Con khấn đi,” bà nói. “Ba con sẽ nghe.”

Tôi cầm nén nhang, nhắm mắt lại. Trong đầu tôi không có lời khấn nào cả. Chỉ có hình ảnh người đàn ông gầy gầy hay hút thuốc lào, hay đi xe Cub cũ, chưa bao giờ kể với con gái rằng mình đã từng từ chối một trăm triệu, đã từng bị đe dọa, đã từng sợ hãi nhưng vẫn không chịu ký.

“Ba,” tôi nói thầm, “con đã làm xong rồi.”

Gió thổi qua mái hiên, làn khói nhang bay nghiêng đi, rồi tan vào ánh nắng chiều. Thằng Bin từ ngoài sân chạy vào, tay cầm một chai nước mát, đưa cho tôi.

“Chị Ngân ơi, uống đi chị. Bà bảo chị làm việc vất vả.”

Tôi nhận lấy chai nước, xoa đầu thằng bé. Phía ngoài đường, những chiếc xe ve chai chầm chậm đi qua, và lần này, tôi biết chắc không còn ai dám nhìn những người nhặt ve chai bằng ánh mắt cũ nữa.

–HẾT–