
Tôi giơ cao chiếc phong bì lên khỏi tầm tay bà. Bàn tay mẹ chồng tôi quơ vào khoảng không, móng tay sơn đỏ run lên bần bật.
“Đưa đây! Cái đó là của tôi!” bà rít lên.
“Của mẹ?” tôi hỏi. “Mẹ nói của mẹ, nhưng mẹ còn chưa biết bên trong có gì.”
“Tôi biết!” bà nói gấp, rồi hình như nhận ra mình vừa lỡ lời, bà ngậm miệng lại.
Anh Đạt bước vào phòng khách, đặt cặp xuống ghế. Anh không nhìn tôi. Anh nhìn mẹ anh.
“Mẹ biết bên trong có gì?” anh hỏi, giọng thấp và chậm. “Vậy nói cho con nghe đi.”
Mẹ chồng tôi quay sang, cố giữ vẻ mặt cứng cỏi, nhưng môi bà tái đi.
“Con đừng nghe nó! Mẹ con nhà này dựng chuyện để lấy tiền nhà mình! Hôm nay còn bày ra cái trò phong bì cũ kỹ…”
“Chị Hạnh.”
Là mẹ tôi. Bà vẫn đứng sững bên rổ cá, hai tay buông thõng, nhưng giọng bà rất nhỏ và rất rõ.
“Phong bì ấy là của em gửi chị, từ hai mươi năm trước.”
Cả căn phòng im bặt. Mẹ chồng tôi quay phắt lại nhìn mẹ tôi, mắt mở to.
“Chị không nhớ em, chị Hạnh,” mẹ tôi nói, nụ cười gượng gạo hiện lên rồi tắt. “Cũng phải. Hồi đó em gầy, tóc còn đen, chị thì sang trọng. Em là người bán cá ở chợ Cầu Muối. Chị mua của em suốt ba năm.”
Tôi sững người. Mẹ tôi chưa từng kể chuyện này.
“Mẹ…” tôi gọi khẽ.
“Để mẹ nói, con,” mẹ đáp, không nhìn tôi. “Mẹ giữ chuyện này hai mươi năm rồi. Mẹ đã hứa với mình, nếu một ngày bà thông gia coi thường nhà mình, mẹ mới đưa cái này ra.”
Mẹ chồng tôi lùi lại một bước, tay bám vào thành ghế.
“Tôi không biết chị nói gì. Tôi chưa từng mua cá ở chợ nào…”
“Chợ Cầu Muối, sạp thứ bảy, dãy cuối,” mẹ tôi nói. “Chị hay mặc áo bà ba màu hồng, đi cùng một thằng bé tầm mười tuổi cầm cặp sách. Thằng bé hay đòi ăn cá rô kho khế.”
Tôi nghe tiếng anh Đạt hít vào thật sâu.
“Mười một tuổi,” anh nói khẽ. “Cá rô kho khế là món con thích nhất hồi đó.”
Mẹ chồng tôi quay sang anh, giọng gấp gáp:
“Đạt, đừng nghe bà ta! Ai mà chẳng ăn cá rô!”
“Mẹ,” anh nói, “mẹ cứ để bác ấy nói.”
Mẹ tôi hít một hơi, nhìn thẳng vào mẹ chồng tôi.
“Hôm đó trời mưa to. Chị mua của em hai ký cá, trả tiền xong thì phát hiện mất ví. Chị đứng giữa chợ, mặt tái xanh. Trong ví có giấy tờ, có cả tiền học phí của con chị. Em chạy theo chị, nói em cho chị mượn tiền. Chị nói không cần, chị tự lo.”
“Tôi không nhớ…” mẹ chồng tôi lẩm bẩm.
“Chị không nhớ, vì ví chị bị người ta móc. Nhưng em thì nhớ,” mẹ tôi nói, giọng đều đều. “Vì em đã chạy theo chị cả ba cây số, đưa chị phong bì có hai triệu của em, nói chị cầm lấy đóng học cho cháu. Chị cầm lấy, ghi tên em vào một mảnh giấy, hứa sẽ trả. Hai mươi năm nay em chưa nhận lại đồng nào.”
Tôi nhìn mẹ. Hai triệu đồng của hai mươi năm trước. Với một người bán cá nhỏ, đó có thể là tiền thuốc cả tháng.
“Nhưng vì sao em không đòi?” mẹ chồng tôi hỏi, giọng đã khác hẳn. Nghe như một người đang tự hỏi chính mình.
“Vì em không nhớ chị là ai ở đâu,” mẹ tôi đáp. “Chị nói chị tên Hạnh, ở trên thành phố. Sau đó chị không ra chợ nữa. Em đợi hai năm, rồi em nghĩ, thôi, coi như em làm phúc.”
“Vậy cái phong bì này…” tôi cúi nhìn thứ mình đang cầm.
“Đó là mảnh giấy chị Hạnh viết hồi đó,” mẹ nói. “Chị bảo em giữ làm bằng chứng. Em cho vào phong bì, cất kỹ hai mươi năm, trên mặt em viết: Gửi chị Hạnh, lỡ có ngày gặp lại.”
Mẹ tôi quay sang tôi, mắt đỏ hoe.
“Ngày con đưa mẹ ảnh anh Đạt, mẹ nhìn tên người mẹ chồng tương lai là bà Hạnh, lòng mẹ giật thót. Mẹ nghĩ có khi nào trùng tên. Mẹ không dám hỏi. Đến ngày cưới, mẹ nhìn thấy chị ấy bước vào, mẹ biết rồi.”
“Mẹ biết từ ngày cưới?” tôi thì thào. “Sao mẹ không nói với con?”
“Mẹ sợ con nghĩ mẹ đi đòi nợ nhà chồng,” mẹ đáp. “Mẹ nghĩ nếu chị Hạnh nhớ ra mẹ, thì chị sẽ tự nói. Nếu chị không nhớ, thì thôi, coi như chuyện hai mươi năm không có thật.”
Tôi thấy anh Đạt lặng lẽ bước đến chỗ mẹ anh.
“Mẹ,” anh nói. “Mẹ có nhớ mất ví ngày đó không?”
Mẹ chồng tôi nhìn anh, rồi nhìn tôi, rồi nhìn mẹ tôi. Tôi thấy bà cắn môi, như đang cố tìm một lối thoát.
“Mẹ… nhớ.” Cuối cùng bà nói, giọng như bị rút hết sức. “Mẹ nhớ có mất ví. Mẹ nhớ có một người bán cá cho mẹ mượn tiền. Nhưng mẹ không nhớ ra là chị ta.”
“Vậy mẹ nhớ ra từ lúc nào?” tôi hỏi.
“Từ lúc…” Bà dừng lại, hai tay siết chặt vạt áo. “Từ lúc con dẫn mẹ con đến nhà hỏi cưới. Mẹ nhìn thấy đôi bàn tay chị ta, bàn tay có vết sẹo ở ngón cái. Đó là vết sẹo mẹ nhớ.”
Tôi nghe mà không tin vào tai mình.
“Vậy là mẹ biết từ ba năm trước,” tôi nói chậm rãi. “Mẹ biết mẹ con từng giúp mẹ. Mẹ biết mẹ chưa trả. Và suốt ba năm nay, mẹ đối xử với con như thế này. Mẹ còn hất cơm của con, mắng mẹ con nghèo?”
“Vì mẹ sợ!” bà gào lên, giọng vỡ ra. “Mẹ sợ cả nhà biết mẹ từng nợ một người bán cá! Mẹ sợ thằng Đạt biết mẹ từng khốn khổ đến mức phải mượn tiền người ta! Mẹ gây dựng cả đời để người ta kính nể mẹ, mẹ không chịu được chuyện ai đó biết mẹ từng như vậy!”
Tôi đứng yên. Cơn giận trong tôi bốc lên, rồi lắng xuống thành một thứ nặng nề hơn nhiều.
“Mẹ,” tôi nói, “mẹ con từng gửi hai triệu cho mẹ. Hôm nay mẹ con mang cá lên, không đòi một đồng. Mẹ con vẫn nghĩ mẹ không nhớ. Thế mà mẹ nhớ, mẹ vẫn hất cơm, vẫn nói nghèo không biết thể diện.”
“Con ăn nói cho cẩn thận!”
“Mẹ đã làm đủ rồi, đừng bắt con cẩn thận nữa,” tôi đáp, giọng không to nhưng không run.
Anh Đạt quay sang tôi, mặt tái đi.
“Vy, anh xin lỗi. Anh không biết chuyện này.”
“Anh có biết chuyện nào không?” tôi hỏi.
Anh im lặng. Cái im lặng của anh khiến tim tôi chùng xuống.
“Anh biết một phần,” cuối cùng anh nói. “Năm anh mười một tuổi, anh có nhớ mẹ từng kể, có một người bán cá cho mẹ mượn tiền đóng học phí cho anh. Mẹ nói sẽ trả. Nhưng lúc anh đi học đại học, mẹ nói chuyện đó đã xong, đã trả rồi.”
Tôi quay sang mẹ chồng.
“Mẹ có trả không?”
Bà không đáp.
“Mẹ,” anh Đạt nói, giọng khàn đi. “Mẹ có trả không?”
Mẹ chồng tôi ngồi xuống ghế, cả người như đổ sập. Bà nhìn xuống đôi bàn tay mình, rồi nói rất nhỏ:
“Mẹ không trả. Mẹ không biết tìm ở đâu. Rồi mẹ cứ nói với con là đã trả để con khỏi hỏi.”
Anh Đạt nhắm mắt lại. Tôi thấy hàm anh siết chặt.
“Mẹ đã dạy con cả đời rằng nợ thì phải trả,” anh nói. “Mẹ đã nói với con câu đó mỗi lần con làm sai. Vậy mà chính mẹ không trả một món nợ hai triệu.”
“Đạt…”
“Con không trách mẹ vì chuyện tiền,” anh nói, mở mắt ra, nhìn thẳng vào bà. “Con trách mẹ vì hôm nay mẹ đối xử với người từng giúp mẹ như thế, ngay trước mặt con, trong nhà con.”
Anh quay sang mẹ tôi, bước tới, và trước khi tôi kịp phản ứng, anh cúi người thật sâu.
“Mẹ,” anh nói, gọi mẹ tôi bằng tiếng gọi mà ba năm nay anh vẫn gọi nhưng chưa lần nào nghe nặng như vậy. “Con xin lỗi mẹ. Thay mẹ con, con xin lỗi.”
Mẹ tôi hốt hoảng lùi lại, hai tay xua xua.
“Đừng, đừng con… mẹ có làm gì đâu. Con đứng lên đi.”
“Mẹ không có gì để xin lỗi,” tôi nói, bước đến bên mẹ. “Mẹ ngồi xuống đi. Hôm nay mẹ đã đi ba tiếng xe đò, còn chưa ăn gì.”
Tôi đỡ mẹ ngồi xuống ghế. Rồi tôi quay lại nhìn mẹ chồng, người vẫn đang ngồi gục đầu ở góc phòng.
“Mẹ,” tôi nói. “Con có hai điều muốn nói.”
Bà ngẩng lên, mắt đỏ ngầu.
“Một: hai triệu của hai mươi năm trước, con sẽ không đòi. Mẹ con cũng sẽ không đòi, vì bà không phải người như vậy. Nhưng mẹ phải nói lời xin lỗi với bà, ngay hôm nay, không phải vì con ép, mà vì đó là điều đúng.”
Mẹ chồng tôi mím chặt môi.
“Hai: con ở trong ngôi nhà này ba năm, nấu cơm, giặt đồ, chịu đựng mọi lời mẹ nói. Con chịu vì con nghĩ đó là cách để giữ hòa khí. Nhưng hôm nay con hiểu mẹ không ghét con vì con có lỗi. Mẹ ghét con vì con nhắc mẹ nhớ về một thời mẹ muốn quên.”
“Không phải…”
“Đúng hay không, mẹ tự biết,” tôi nói. “Nhưng con không thể sống tiếp như vậy.”
Anh Đạt quay sang tôi, mặt hoang mang.
“Vy, em định…”
“Em chưa định gì,” tôi nói. “Em chỉ cần anh biết, em không chịu nổi việc ai đó coi thường mẹ em, kể cả mẹ ruột của anh.”
Anh nắm lấy tay tôi.
“Anh đứng về phía em.”
“Anh nói thật không?”
“Thật,” anh đáp.
Mẹ chồng tôi nhìn cảnh ấy, và lần đầu tiên tôi thấy nước mắt bà chảy xuống. Bà không khóc thành tiếng, chỉ cúi đầu, vai run lên. Một lúc lâu sau, bà từ từ đứng dậy, bước đến chỗ mẹ tôi.
Tôi nín thở.
Bà dừng lại trước mặt mẹ tôi, hai tay đan vào nhau, môi mấp máy mấy lần mà không phát ra tiếng. Cuối cùng, bà nói bằng giọng khàn đặc:
“Chị Sáu… tôi xin lỗi.”
Mẹ tôi ngước lên nhìn bà, đôi mắt hiền lành mệt mỏi.
“Chị Hạnh, em không giận chị. Em chỉ buồn là chị coi thường thằng bé… à, con Vy, nó có lỗi gì đâu.”
“Tôi biết,” mẹ chồng tôi nói, nước mắt rơi xuống. “Tôi biết mình sai rồi.”
Tôi nhìn hai người đàn bà ấy đứng đối diện nhau, một người kiêu hãnh cả đời đang cúi đầu, một người nghèo khó cả đời vẫn thẳng lưng. Trong lòng tôi, thứ gì đó nặng nề rơi xuống rồi vỡ ra, không biết là nhẹ nhõm hay đau xót.
Mẹ chồng tôi lau mặt, quay sang tôi.
“Con, mẹ… mẹ muốn nấu cho bà thông gia bữa cơm hôm nay. Dùng cá của bà ấy mang lên.”
Tôi nhìn bà, không nói gì. Rồi tôi gật đầu.
Cả buổi chiều hôm đó, hai người đàn bà đứng chung trong bếp. Mẹ chồng tôi vụng về cầm dao, mẹ tôi chỉ cách làm sạch cá lóc, cách bỏ vảy, cách khử mùi tanh bằng gừng. Tôi đứng ngoài cửa bếp nhìn họ. Mẹ chồng tôi nói rất ít, mẹ tôi cũng vậy. Nhưng có lúc tôi thấy hai người bật cười cùng nhau vì một con cá trơn tuột khỏi tay.
Anh Đạt đứng cạnh tôi, khẽ nói:
“Anh không biết nên nói gì.”
“Đừng nói gì cả,” tôi đáp. “Cứ nhìn thôi.”
Bữa cơm tối hôm ấy, bốn người ngồi quanh bàn. Canh chua cá lóc nghi ngút khói, cá rô kho khế bóng loáng. Mẹ chồng tôi gắp một miếng cá rô cho vào chén mẹ tôi, tay hơi run.
“Chị ăn đi. Em kho theo cách chị chỉ.”
“Ngon lắm,” mẹ tôi nói sau một miếng. Rồi bà mỉm cười, lần đầu tiên từ lúc bước vào nhà này.
Tôi nghĩ mọi chuyện đến đây đã tạm yên.
Nhưng tối đó, khi mẹ tôi đã ngủ ở phòng khách tầng một, tôi xuống bếp lấy nước thì thấy mẹ chồng tôi ngồi một mình trong bóng tối, trước mặt là một chiếc hộp gỗ cũ mở nắp. Bên trong là một tờ giấy ố vàng, nét chữ nghiêng nghiêng, tôi nhận ra ngay đó là chữ của mẹ chồng, đề ngày hai mươi năm trước: “Tôi, Hạnh, nợ chị bán cá sạp số bảy chợ Cầu Muối hai triệu đồng.”
Dưới tờ giấy ấy còn một thứ nữa. Một tấm ảnh chụp cũ, tôi chỉ kịp liếc qua: một đứa bé gái khoảng năm tuổi, mặc áo đỏ, đứng trước sạp cá. Mặt sau tấm ảnh có dòng chữ viết tay: “Con gái chị Sáu. Hạnh thề sẽ trả.”
Tôi chưa từng thấy tấm ảnh nào của mình ở tuổi ấy mà không nằm trong album nhà tôi.
Bà ngẩng lên, thấy tôi, không giấu nữa.
“Vy,” bà nói, giọng rất khẽ. “Mẹ giữ tấm ảnh này hai mươi năm rồi. Còn con, con có biết vì sao chữ ‘thề’ trong đó lại nặng hơn hai triệu đồng không?”
“Con không biết,” tôi nói. Giọng tôi khàn đi giữa căn bếp tối. “Con chưa từng thấy tấm ảnh này. Sao mẹ lại có ảnh của con hồi nhỏ?”
Mẹ chồng tôi nhìn tấm ảnh trong tay mình rất lâu. Ngón tay bà vuốt nhẹ lên mép giấy đã cong, như sợ nó rách.
“Vì mẹ con đưa cho mẹ,” bà nói. “Hôm mất ví. Chỗ mẹ kể với con hồi chiều là chưa đủ, Vy ạ. Mẹ chỉ kể đoạn mẹ dám kể.”
Tôi kéo ghế ngồi xuống đối diện bà. Ngoài hiên, mưa bắt đầu rơi lất phất. Không hiểu sao tôi lại thấy lạnh gáy.
“Mẹ nói đi,” tôi bảo. “Lần này nói hết.”
Bà hít một hơi dài.
“Hôm đó, mẹ không chạy đi tìm cái ví,” bà nói. “Mất ví chỉ là giọt nước tràn ly. Trước đó một tuần, bố thằng Đạt bỏ hai mẹ con mẹ mà đi, để lại một đống nợ hụi. Chủ hụi kéo tới nhà ba lần. Mẹ bán hết đồ đạc, chỉ còn đúng số tiền đóng học phí cho thằng Đạt. Rồi cái ví bị móc.”
Bà dừng lại, hai bàn tay siết vào nhau trên mặt bàn.
“Mẹ đứng giữa chợ, nhìn mưa, thấy mình không còn gì cả. Mẹ gửi thằng Đạt cho bà hàng xóm, nói đi mua đồ chút. Rồi mẹ đi bộ ra phía cầu. Mẹ định không quay về nữa.”
Tôi nín thở.
“Mẹ định t:ự t:ử, mẹ ạ?”
Bà gật đầu, rất nhẹ.
“Mẹ đứng trên cầu, mưa ướt hết. Đúng lúc đó có tiếng chân chạy phía sau. Một người đàn bà gầy, chân đất, váy ướt sũng, thở không ra hơi. Bà ấy chạy theo mẹ cả ba cây số. Bà ấy không nói gì to tát, chỉ nắm chặt cổ tay mẹ. Tay bà ấy lạnh ngắt, ngón cái có vết sẹo.”
Tôi thấy mắt mình cay xè.
“Bà ấy nói,” mẹ chồng tôi nghẹn lại, “‘Chị còn thằng nhỏ ở nhà. Nó đang chờ chị.’ Mẹ nói mẹ không còn gì cho nó. Bà ấy rút trong áo ra cái phong bì có hai triệu, nhét vào tay mẹ. Rồi bà ấy lục túi, đưa cho mẹ tấm ảnh này.”
Bà lật tấm ảnh lại. Một đứa bé gái mặc áo đỏ, bím tóc lệch, đứng trước sạp cá, cười toe toét để lộ cái răng cửa sún.
“Bà ấy nói đây là con gái bà, năm nó năm tuổi, tấm ảnh duy nhất bà có,” mẹ chồng tôi nói. “Bà ấy bảo: ‘Chị cầm cái này. Tôi cũng chỉ còn mỗi nó, mà tôi vẫn phải sống. Chị cũng vậy. Khi nào chị thấy mệt, chị nhìn mặt nó rồi nhớ lại có người từng chạy theo chị.’”
Tôi quay đi, đưa tay lên che miệng. Mẹ tôi chưa từng kể. Hai mươi năm, mẹ chưa từng kể với ai rằng bà từng giữ một người đàn bà lại bên bờ cầu, dưới trời mưa, chỉ bằng một cái nắm tay và tấm ảnh của đứa con chín tuổi.
Hôm ấy tôi chín tuổi. Tôi nhớ lờ mờ có buổi tối mẹ về muộn, người ướt sũng, ôm tôi ngủ thật chặt, và tôi bị đánh thức vì mẹ khóc rất khẽ.
“Mẹ viết chữ ‘thề’ phía sau ảnh ngay hôm đó,” bà nói. “Mẹ thề sẽ trả cho người ta cái mạng mẹ. Hai triệu chỉ là tiền. Cái mẹ nợ là cuộc đời của mẹ và của thằng Đạt.”
Tôi lau mặt, nhìn bà.
“Vậy sao mẹ không trả?” tôi hỏi, giọng nhẹ hơn tôi tưởng. “Mẹ có cả hai mươi năm.”
“Vì mẹ xấu hổ,” bà đáp thẳng. “Mẹ trèo lên được rồi. Mẹ mở sạp vải, rồi cửa hàng, rồi mua được căn nhà này. Càng giàu, mẹ càng sợ có ai biết mẹ từng đứng trên cầu. Mẹ quay lại chợ Cầu Muối tìm mấy lần, nhưng đến cổng chợ là mẹ quay xe. Mẹ sợ gặp bà ấy. Mẹ sợ bị nhìn thấy cái dáng mẹ năm đó.”
Tôi im lặng. Bên ngoài mưa đã nặng hạt.
“Còn chuyện hồi chiều,” tôi nói. “Mẹ nhận ra mẹ con từ lúc hỏi cưới. Rồi mẹ cho phép con vào nhà này làm dâu. Có phải mẹ chấp nhận cưới con cho anh Đạt vì chuyện này không?”
Bà ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt tôi lần đầu tiên.
“Ban đầu mẹ nghĩ vậy,” bà nói. “Mẹ nghĩ, trời xếp đặt thế này, mẹ phải gật đầu. Nhưng rồi mẹ lại thấy cái ơn ấy đè nặng quá. Cứ nhìn con là mẹ thấy mình thiếu nợ. Nhìn con nấu cơm cho mẹ, mẹ thấy mình bé đi. Mẹ không chịu nổi. Nên mẹ làm ngược lại. Mẹ chê con, mắng con, để tự bảo mình là mẹ mới là người ban ơn cho cái nhà này.”
“Mẹ làm như vậy là sai,” tôi nói.
“Mẹ biết,” bà đáp. “Mẹ biết từ ngày đầu tiên.”
Có tiếng động ở cửa bếp. Tôi quay lại thấy anh Đạt đứng đó, tóc rối, áo ngủ nhàu, mắt đỏ hoe. Anh đã đứng đó từ bao giờ, tôi không biết.
“Con nghe hết rồi,” anh nói.
Mẹ chồng tôi đứng bật dậy, tay quờ lên che mặt.
“Đạt, mẹ…”
“Con nhớ hôm đó,” anh nói, bước vào, giọng run run. “Con nhớ có một buổi chiều mưa, mẹ về nhà ướt như chuột lột, ôm con ngủ suốt đêm, ôm chặt đến mức con nghẹt thở. Sáng ra mẹ nấu cháo, nói mẹ có chút chuyện nên về muộn. Con tưởng mẹ đi vay tiền.”
“Mẹ xin lỗi, con…”
“Mẹ đừng xin lỗi con,” anh nói. Anh nhìn mẹ anh rất lâu, mắt ngấn nước. “Con chỉ muốn hỏi một điều. Hai mươi năm nay mẹ ôm chuyện này một mình, sao mẹ không nói với con một lời?”
“Vì mẹ là mẹ con,” bà nói, giọng vỡ ra. “Mẹ muốn con nhìn mẹ như một người đàn bà mạnh mẽ. Mẹ không muốn con biết có lúc mẹ yếu đuối đến mức đó.”
Anh Đạt bước tới, và tôi đã nghĩ anh sẽ nói gì đó nặng nề. Nhưng anh chỉ đưa tay ôm lấy bà. Chiếc áo ngủ của anh ướt vì nước mắt của bà.
“Mẹ mạnh mẽ vì mẹ đã đứng dậy sau ngày hôm đó,” anh nói khẽ. “Không phải vì mẹ chưa từng gục xuống.”
Tôi nhìn hai mẹ con họ, trong lòng bỗng thấy nhẹ đi một chút, rồi lại nặng trĩu. Bởi chuyện chưa xong. Tôi không thể gật đầu cho qua chỉ vì một câu chuyện cảm động.
Tôi đứng dậy, đợi hai người buông nhau ra.
“Mẹ,” tôi nói. “Con hiểu vì sao mẹ xấu hổ. Con thương cho mẹ ngày đó. Nhưng con có hai điều cần nói rõ, vì nếu không nói thì ngày mai mọi chuyện sẽ lại như cũ.”
Bà lau mặt, gật đầu.
“Một,” tôi nói, “nỗi xấu hổ của mẹ không cho mẹ quyền sỉ nhục mẹ con. Mẹ con đã chạy ba cây số để giữ mẹ lại. Hôm nay mẹ con đi xe đò từ ba giờ sáng mang cá lên, mẹ coi đó là thứ tanh bùn. Con không bỏ qua được chuyện đó.”
“Mẹ biết,” bà nói.
“Hai,” tôi tiếp, “ba năm nay mẹ coi con như người mang nợ. Mẹ không cho con ngồi cùng mâm khi có khách, mẹ chê con nấu ăn nhà quê. Mẹ biết mình sai mà vẫn làm. Muốn con ở lại ngôi nhà này thì mẹ phải thay đổi, không phải bằng một câu xin lỗi, mà bằng cách sống.”
Bà im lặng một lúc. Rồi bà quay người, bước tới tủ bếp, mở ngăn dưới cùng. Tay bà lục lọi một lúc rồi đặt lên bàn một cuốn sổ tiết kiệm bìa xanh đã sờn góc.
“Cái này,” bà nói, “mẹ mở từ hai mươi năm trước, ngay sau cái đêm đó. Đứng tên con.”
Tôi sững người.
“Tên con?”
“Nguyễn Thị Vy. Mẹ nhớ cái tên ghi sau tấm ảnh, bà ấy viết ở góc giấy,” bà nói. “Mỗi năm mẹ gửi vào một ít. Mẹ định đến ngày con lấy chồng sẽ trả bà ấy. Nhưng lúc con bước vào nhà này, mẹ không dám đưa. Mẹ sợ nếu đưa, con và bà ấy sẽ nghĩ nhà mẹ mua cái ơn bằng tiền.”
Anh Đạt cầm cuốn sổ lên, mở ra, nhìn con số, rồi lặng lẽ đưa cho tôi.
Con số khiến tôi phải ngồi xuống.
“Con không nhận,” tôi nói.
“Mẹ biết con sẽ không nhận,” bà đáp. “Nhưng mẹ muốn con hiểu. Mẹ không hề quên.”
“Không phải con nhận hay không,” tôi nói, đẩy cuốn sổ lại. “Mà là người mẹ phải đưa nó là mẹ con, không phải con. Và mẹ phải mang nó đến tận tay bà, ngay trước mặt con.”
Bà nhìn cuốn sổ, nhìn tôi, rồi gật đầu.
“Sáng mai,” bà nói.
Sáng hôm sau, chúng tôi ngồi lại ở phòng khách. Mẹ tôi mặc bộ áo bà ba nâu, tóc búi thấp, ngồi mép ghế như hôm qua, nhưng lần này tay bà không còn xoa vào nhau nữa. Mẹ chồng tôi ngồi đối diện, lưng thẳng, hai tay đặt trên đầu gối.
Bà đặt cuốn sổ tiết kiệm lên bàn, đẩy về phía mẹ tôi.
“Chị Sáu,” bà nói. “Hai mươi năm trước chị cứu tôi. Tôi đã thề sẽ trả. Đây là toàn bộ những gì tôi dành dụm để trả cho chị. Tôi xin chị nhận.”
Mẹ tôi nhìn cuốn sổ, nhìn rất lâu. Rồi bà mỉm cười, đẩy nó trở lại, nhẹ nhàng như đẩy một cái bát đầy nước.
“Chị Hạnh,” mẹ tôi nói. “Tôi không nhận.”
“Chị Sáu…”
“Hôm đó tôi chạy theo chị, tôi không tính toán được mất,” mẹ nói. “Tôi chỉ sợ chị đi rồi thằng nhỏ ở nhà mồ côi mẹ. Đó là cái tôi sợ. Chị giữ được cho nó một người mẹ, tôi thấy thế là đủ rồi.”
“Nhưng tôi nợ chị…”
“Chị nợ tôi một chuyện khác,” mẹ tôi nói. Bà quay sang tôi, mắt hiền nhưng giọng rất dứt khoát. “Chị nợ con gái tôi. Tôi cho chị mượn mạng sống của chị bằng hai triệu và một tấm ảnh. Chị trả bằng cách đối xử với nó như con. Chứ không phải bằng cuốn sổ này.”
Mẹ chồng tôi cúi đầu. Tôi thấy bờ vai bà run.
“Mẹ,” tôi nói, “mẹ giữ lại cuốn sổ đi. Hoặc dùng nó làm việc gì có ích. Nhưng đừng coi nó là cách trả. Cách trả là mẹ phải thay đổi.”
Bà ngẩng lên, nhìn tôi, rồi gật đầu.
“Mẹ hiểu.”
Anh Đạt, người nãy giờ im lặng, lên tiếng:
“Mẹ, con có đề nghị.”
Mọi người quay lại nhìn anh.
“Số tiền trong sổ,” anh nói, “mình đem lên xã của bác Sáu, xem cái ao và con đường đất vào xóm có cần sửa không. Không phải đưa riêng cho bác. Mà làm cho cả xóm. Bác thấy sao?”
Mẹ tôi ngạc nhiên, nhìn anh, rồi nhìn mẹ chồng tôi.
“Mùa mưa con đường vào xóm sình lầy lắm,” mẹ nói chậm rãi. “Mấy đứa nhỏ đi học hay bị ngã. Nếu làm được thì tốt quá.”
Mẹ chồng tôi gật đầu liên tục.
“Làm,” bà nói. “Làm ngay tháng này.”
Tôi nhìn họ, thấy trong lòng có một khoảng trống mà không biết nên lấp bằng gì. Mọi chuyện đã được giải thích. Nhưng giải thích chưa phải là hàn gắn.
Tôi nói với mẹ chồng:
“Mẹ, còn chuyện con. Con muốn đi với mẹ con về quê vài ngày. Một mình. Con cần suy nghĩ.”
Anh Đạt thoáng biến sắc. Tôi nắm tay anh.
“Không phải con bỏ đi,” tôi nói với anh. “Con chỉ cần thở. Khi về, con muốn thấy căn nhà này khác đi.”
Mẹ chồng tôi nhìn tôi rất lâu, rồi nói bằng giọng chậm rãi và rõ ràng:
“Con cứ đi. Mẹ đợi.”
Tôi về quê với mẹ năm ngày. Năm ngày ngồi bên cái ao sau nhà, nhìn mẹ buông lưới, nghe tiếng ếch nhái trong đêm. Tôi hỏi mẹ vì sao mẹ chưa từng kể chuyện hôm trên cầu. Mẹ nói:
“Vì đó không phải chuyện để khoe, con. Mẹ giữ người ta lại là chuyện của mẹ. Chuyện chị ấy đứng dậy mới là chuyện của chị ấy.”
Ngày thứ năm, anh Đạt chạy xe xuống quê, tay cầm một chiếc túi vải. Anh không nói gì nhiều. Chỉ nói mẹ anh gửi.
Tôi mở túi. Bên trong là chiếc nón lá cũ, vành sờn, một đôi ủng cao su còn mới nguyên nhãn, và một tờ giấy gấp tư, nét chữ nghiêng nghiêng của mẹ chồng tôi: “Mẹ muốn học bắt cá. Nếu con cho phép, mẹ sẽ xuống thăm bà thông gia cuối tuần này.”
Tôi bật cười. Cười rồi lại rơm rớm nước mắt.
Cuối tuần ấy, mẹ chồng tôi đến. Bà xuống xe đò chứ không đi xe nhà, vì nói đã hứa với mình phải đi bằng đúng cách mẹ tôi từng đi. Bà mặc áo bà ba, đội nón lá, đứng giữa sân đất nhà mẹ tôi, trông lạ lẫm đến buồn cười.
Mẹ tôi đưa bà cái rổ tre. Mẹ chồng tôi vén ống quần, bước xuống ao, bùn lún tận bắp chân. Bà nhăn mặt, kêu lên một tiếng khi con cá trê quẫy trơn tuột khỏi tay.
“Tanh quá!” bà thốt lên, rồi chợt khựng lại, nhìn mẹ tôi, mặt đỏ bừng.
Mẹ tôi bật cười, cái cười đầu tiên không còn gượng gạo.
“Tanh chứ chị,” mẹ tôi nói. “Mùi của người sống bằng tay mình đấy.”
Mẹ chồng tôi đứng giữa ao, bùn dính đầy váy, nhìn con cá đang giãy trong tay mình. Rồi bà cười theo, cười đến rơi nước mắt.
Hôm đó, hai người đàn bà chị chị em em ngồi ở bậc thềm, lột vảy cá, đốt bếp củi nấu canh chua. Anh Đạt và tôi đứng ngoài sân, không nói gì. Khói bếp bay lên, quyện vào mùi bùn và mùi lá chuối.
Con đường vào xóm mẹ tôi được đổ bê tông cuối năm đó. Bên cạnh tấm bảng ghi tên người đóng góp, tôi thấy một dòng nhỏ khắc tay, nét chữ vụng về mà tôi nhận ra ngay: “Gửi người đã giữ tôi lại.”
Mẹ chồng tôi không nhắc đến chuyện trả ơn nữa. Bà chỉ làm. Cuối tuần nào bà cũng xuống quê, lúc đầu còn vụng, sau thạo dần. Có lần bà khoe với tôi hai bàn tay chai sần vì kéo lưới, ánh mắt như một đứa trẻ khoe điểm mười.
Một buổi sáng đầu năm, chuông cổng nhà phố reo. Tôi ra mở, thấy mẹ tôi đứng đó, vẫn chiếc áo bà ba nâu, tay ôm một cái rổ tre phủ lá chuối. Cá lóc, cá rô đồng quẫy nhè nhẹ dưới lớp lá.
“Mẹ lên thăm chị Hạnh,” mẹ tôi nói. “Cá hôm nay béo lắm.”
Tôi chưa kịp đáp thì mẹ chồng tôi từ trong nhà bước ra, tay còn dính bột, tạp dề buộc lỏng ở eo. Bà đứng ở thềm, nhìn cái rổ trong tay mẹ tôi, nhìn rất lâu.
Rồi bà bước xuống bậc thềm, giơ cả hai tay đón lấy.
“Chị Sáu đến rồi à,” bà nói, mắt cong lên. “Vào nhà đi. Hôm nay em kho khế, chị chỉ em thêm nhé.”
Mùi tanh bùn của đồng quê lan ra khắp hành lang. Không ai bịt mũi cả.
-HẾT-