Giỗ đầu của mẹ, anh cả tuyên bố bán nhà và đuổi tôi đi — tôi chỉ xin cả họ nán lại thêm mười phút

Giỗ đầu của mẹ, anh cả tuyên bố bán nhà và đuổi tôi đi — tôi chỉ xin cả họ nán lại thêm mười phút

“Cô lo dọn đồ dần đi. Cúng mẹ xong hôm nay, căn nhà này không còn chỗ cho cô nữa.”

Anh Phúc nói câu đó lúc tôi đang bưng mâm xôi gấc lên bàn thờ.

Nói to. Rõ. Trước mặt gần ba chục người trong họ.

Hôm nay là giỗ đầu của mẹ tôi.

Tôi đứng im. Hơi xôi nóng bốc lên, cay mắt.

Dì Bảy đang xếp trái cây, tay khựng lại.

“Phúc. Con nói cái gì vậy con?”

“Con nói chuyện nhà con, dì.”

“Bữa nay giỗ chị Hai mà con…”

“Thì giỗ xong mới tính. Con có đuổi ngay đâu.”

Chú Chín trưởng họ ngồi bàn giữa, đặt tách trà xuống. Không nói gì.

Tôi là Thảo, con út, ba mươi tám tuổi. Tám năm nay tôi ở căn nhà ba gian này chăm mẹ liệt giường — và sáng nay, ngay trước di ảnh mẹ, tôi thành người bị đuổi.

“Cô nghe rõ chưa?” Anh Phúc nhìn tôi.

Chị Nga — vợ anh — đứng sau lưng chồng, khoanh tay.

“Anh nói vậy là còn nể ngày giỗ đó thím.”

“Nga à…” dì Bảy kêu khẽ.

“Dì để anh em người ta nói chuyện.”

Tôi chưa trả lời vội.

Vì tôi đang nhớ tới cái hộp.

Sáng sớm, lúc lau tủ thờ, tôi cầm nó lên. Hộp bánh quy bằng thiếc của mẹ, cột dây thun, dán mảnh giấy đã ố. Chữ mẹ run run:

“Khi nào tụi nó về đủ mặt, con đưa cho chú Sáu.”

Tháng cuối, mẹ dặn câu đó ba lần, nắm tay tôi nhấn từng chữ.

“Thảo… cái hộp… nghe con.”

“Dạ. Con nhớ mà mẹ.”

“Đủ mặt… mới đưa. Thiếu một đứa… cũng chưa.”

“Dạ.”

“Trong đó… có gì vậy mẹ?”

Mẹ nhìn tôi. Lâu thiệt lâu.

“Của… chú Sáu.”

“Dạ.”

“Còn nữa…”

“Mẹ nói đi.”

“Giỗ đầu… nhớ mời chú Sáu.”

“Mời chú Sáu chi vậy mẹ?”

“Con… cứ mời.”

“Dạ thì con mời. Mẹ đừng lo.”

“Ừ… Thảo.”

“Dạ.”

“Con… ráng.”

Tôi đoán trong hộp là ảnh cũ, thư từ của người già.

Nên sáng nay chú Sáu ngồi ở bàn ngoài hiên. Hồi nãy có bà khách còn hỏi nhỏ:

“Ủa, chú Sáu công chứng cũng được mời hả?”

“Bạn cờ tướng ba mươi năm của ông nhà này mà.”

“Công chứng gì ổng?”

“Trưởng phòng công chứng huyện chớ gì. Hưu lâu rồi.”

Tôi đặt mâm xôi lên bàn thờ, sửa lại cho ngay ngắn.

“Em nghe rồi, anh Hai.”

“Nghe rồi… là sao?”

“Là em nghe rồi.”

Anh hơi khựng.

“Cô không cãi?”

“Cãi gì giữa ngày giỗ mẹ, anh.”

“…Biết điều vậy thì tốt.”

Anh nói, mà mắt còn dò tôi.

Chắc anh chờ tôi khóc, hoặc gào lên.

Tôi không làm cả hai.

Vì trong tủ thờ có một chiếc hộp — mà mẹ dặn chỉ được mở khi nhà có đủ mặt.

Và hôm nay, lần đầu tiên sau tám năm, nhà đủ mặt.

Chương 2 — Họ tưởng tôi không có gì

Khách chưa đông, anh Phúc đã kéo mọi người vô gian bên.

“Họp gia đình chút. Nhanh thôi.”

Gọi là họp, thật ra là anh nói, mọi người nghe.

“Nhà với đất này, giá giờ tầm bảy tỷ. Anh tính bán, chia ba. Xong sớm nghỉ sớm.”

Chị Hằng gật ngay.

“Em thấy hợp lý.”

“Hợp lý chứ. Anh hỏi giá rồi. Đất mặt lộ, bán nhanh lắm.”

“Chừng nào bán được hả anh?”

“Có người hỏi rồi. Chồng cọc là xong trong tháng.”

“Vậy chia luôn trong tháng?”

“Ừ. Tiền về là anh chia liền, khỏi ai chờ ai.”

“Mà chia kiểu gì?” Chị Hằng chồm tới. “Trừ thuế phí xong mới chia hay sao?”

“Phí ai lo người đó. Anh đứng ra bán, anh trừ công hai phần trăm.”

“Ủa, công gì hai phần trăm?”

“Công chạy giấy tờ. Không ai làm không cho ai cái gì hết.”

“Vậy em cũng tính công về ký giấy được không?”

“Cô về được một buổi mà công cán gì!”

“Hai phần trăm của anh là trăm bốn chục triệu đó, anh biết không?”

“Cô tính nhanh ha.”

“Dạ. Kế toán mà anh.”

Tôi rót trà.

“Còn thím Thảo thấy sao?” chị Nga hỏi, giọng ngọt.

“Em chưa thấy gì hết.”

“Sao lại chưa?”

“Vì chưa ai hỏi mẹ muốn gì.”

“Mẹ mất rồi thì hỏi kiểu gì, thím?”

“Thì đó. Nên em mới nói từ từ.”

“Từ từ tới bao giờ?”

“Ít nhất là qua ngày giỗ.”

“Giỗ nào chả là giỗ.” Chị Hằng xen vào. “Năm nào chả có.”

“Giỗ đầu, chị.”

“Thì sao? Mẹ nằm đó tám năm, coi như đi từ lâu rồi.”

Dì Bảy sững người.

“Hằng!”

“Con nói thực tế mà dì.”

Chị Nga đổi giọng liền.

“Chia ba là còn thương thím đấy. Chứ tính sòng phẳng ra, tám năm nay thím ở nhà này không mất đồng thuê nào, ăn ở bằng tiền của mẹ.”

“Tiền của mẹ?”

“Chứ tiền của ai? Lương hưu của mẹ chứ của ai.”

“Lương hưu của mẹ bao nhiêu một tháng, chị biết không?”

Chị chớp mắt.

“Sao tôi phải biết?”

“Bốn triệu tám.”

“Thì… thì cũng là tiền chứ sao.”

“Tiền thuốc của mẹ mỗi tháng sáu triệu. Chị muốn em kể tiếp không? Tã. Sữa. Hai đợt nằm viện dài.”

“Ơ hay. Cô kể công với tôi đấy à?”

“Không. Chị hỏi tiền của ai, em trả lời.”

Chị Nga giơ tay.

“À mà khoan. Phần thím Thảo phải tính lại.”

“Tính gì nữa?” chị Hằng hỏi.

“Tám năm ăn ở. Nhà trọ ngoài kia một tháng rẻ cũng ba triệu. Tám năm là gần ba trăm triệu rồi đấy.”

“Ừ ha. Trừ vô phần nó là vừa.”

“Vậy hai chị tính luôn tiền công chăm người liệt giường tám năm đi. Người ta thuê ngoài, tháng tám triệu, bao ăn ở.”

Chị Nga nghẹn một giây.

“Cái đó… cái đó là phận làm con, ai lại tính công!”

“Vậy cái phòng em ở cũng là nhà của mẹ, ai lại tính thuê?”

Chị Hằng đập bàn.

“Con này giờ mồm mép ghê ha!”

Rồi chị nhìn tôi từ đầu tới chân.

“Mà cô lấy tư cách gì cò kè mới được? Cô thì còn cái gì? Việc bỏ tám năm rồi. Chồng cũng bỏ rồi.”

“Chị Ba.”

“Tôi nói sai chỗ nào? Cả họ ai chả biết.”

Dì Bảy từ cửa bếp nói vọng vô:

“Hằng. Hồi đó con Thảo đang làm kế toán trưởng trên quận Ba. Má con ngã một cái, nó xin nghỉ ba tháng về chăm. Ba tháng thành tám năm đó con.”

“Thì ai biểu nó nghỉ? Có ai cầm dao bắt đâu?”

“Không ai bắt.” Dì nói nhỏ. “Tại không đứa nào khác chịu về.”

Gian bên im mất một nhịp.

Chị Hằng nhún vai.

“Thì con Thảo lỡ thì, ở vậy chăm mẹ cũng phải.”

Cũng phải.

Hai chữ đó tôi nghe tám năm.

Anh Phúc hạ giọng, ra chiều phải chăng.

“Với lại anh nói thiệt. Bán cũng là vì cô Thảo thôi.”

“Vì em?”

“Chứ gì nữa. Ba mươi tám tuổi, không nghề không ngỗng. Cầm hơn hai tỷ, lên Sài Gòn mua cái chung cư nhỏ, kiếm việc làm lại cuộc đời. Ôm cái nhà quê này rồi già luôn ở đây à?”

“Anh lo cho em dữ vậy.”

“Anh là anh Hai. Không lo cho cô thì lo cho ai.”

Chị Nga gật gù phụ hoạ.

“Đó, thím nghe chưa. Nhà này được cái anh em biết nghĩ cho nhau.”

“Dạ. Em nghe rồi.”

“Nghe rồi thì lát ký cho lẹ.”

“Dạ, để em coi đã.”

“Coi. Cô thì coi được cái gì.”

Anh nói vậy, nhưng tôi biết vì sao anh gấp.

Tối qua anh đứng ngoài sân gọi điện. Cửa sổ bếp mở, tôi nghe không sót chữ nào.

“Anh Tài… anh cho em thêm hai tuần…”

Im một lúc.

“Dạ… dạ em biết em hứa rồi…”

“Cuối tháng em xoay đâu ra ba tỷ hả anh.”

Lại im. Lâu hơn.

“Anh đừng… đừng làm lớn chuyện, em xin anh…”

“Em nói thật, em đang tính bán căn nhà dưới quê… Anh cho em tới cuối tháng. Em lạy anh.”

Giọng anh lúc đó không giống giám đốc.

Giống người sắp chết đuối.

Tôi không kể với ai. Người sắp chết đuối hay quơ tay. Quơ trúng ai, người đó chìm theo.

Ba năm trước anh cũng về gấp như vậy, ngồi ghé mép giường mẹ.

“Mẹ. Cho con mượn sổ đỏ vài bữa.”

Mẹ nói không rõ tiếng, nhưng đầu óc còn tỉnh.

“Chi… vậy… con?”

“Đi photo công chứng thôi mà. Làm hồ sơ vay giùm thằng bạn.”

Mẹ nắm tay tôi. Lắc.

“Bạn con nó cần gấp lắm mẹ. Nó trả lãi đàng hoàng.”

Mẹ vẫn lắc. Chậm. Chắc.

“Mẹ già rồi, giữ mấy thứ đó chi cho mệt. Để con giữ giùm cho.”

Mẹ nắm tay tôi chặt hơn.

“Trời ơi. Mẹ không tin con hả mẹ?”

Mẹ nhắm mắt lại, coi như xong chuyện.

“Mẹ!” Anh đứng phắt dậy. “Con là con trưởng!”

Mẹ mở mắt, nhìn anh. Chỉ nhìn.

Anh về tay không, mặt rất khó coi.

Một tuần sau, mẹ kêu tôi gọi chú Sáu tới, đóng cửa buồng gần hai tiếng. Tôi không hỏi. Chuyện gì mẹ muốn tôi biết, mẹ sẽ nói.

“Thảo. Ngồi thần ra đó làm gì?”

Chị Hằng gõ tay xuống bàn.

“Chốt đi chứ. Hay cô tính ôm luôn cái nhà?”

“Hôm nay giỗ mẹ. Cúng xong rồi tính, được không chị?”

“Lại câu giờ.”

“Nửa buổi thôi mà, chị.”

“Thôi được.” Chị đổi giọng, kiểu người lớn dỗ trẻ con. “Cô muốn gì? Nói giá đi.”

“Giá gì chị?”

“Thì… muốn thêm bao nhiêu mới chịu ký? Trăm triệu? Hai trăm?”

“Chị nghĩ em đang ra giá?”

“Chứ gì nữa? Đời này ai chả ra giá.”

“Vậy chắc em làm chị thất vọng rồi.”

“Là sao?”

“Là em không bán thứ em đang giữ.”

“Cô đang giữ cái gì?”

“Chị hỏi thiệt hả?”

“Chứ giỡn với cô à?”

“Vậy chị ráng chờ tới trưa.”

Tôi bưng khay trà đứng dậy.

“Tới giờ dọn mâm rồi. Em xin phép.”

Chị Nga cười khẩy, quay sang chị Hằng, đủ to để tôi nghe:

“Đấy. Chưa gì đã thấy khó rồi đấy.”

Chương 3 — Nhục thêm một tầng

Mười giờ, khách đến đông. Anh Phúc thay bộ vest xám, ra cổng bắt tay từng người.

“Anh Phúc giỏi quá.”

“Lo cho mẹ chu toàn quá, không chê vào đâu được.”

“Dạ đâu có, phận làm con mà cô.”

“Phúc nè, mai mốt bán nhà rồi giỗ chạp ở đâu con?”

“Dạ nhà con trên Sài Gòn rộng mà cô.”

“Ờ… ờ há.”

Anh nhận hết. Không một lần nhìn về phía bếp.

Ngoài sân, tiếng xì xào len qua khói nhang.

“Nghe nói bán bảy tỷ lận.”

“Chia ba, mỗi đứa hơn hai tỷ chớ ít gì.”

“Rồi con Thảo ở đâu?”

“Thì… ai biểu không chồng không con.”

“Nói nhỏ thôi bà. Nó trong bếp kìa.”

“Ủa chớ tui nói gì sai?”

Trong bếp, tôi với dì Bảy nấu sáu mâm.

Mười một giờ kém, anh vào bếp, đặt một xấp giấy lên bàn, cạnh rổ rau sống.

“Tranh thủ ký đi.”

“Giấy gì đây anh?”

“Thoả thuận phân chia di sản. Anh soạn sẵn rồi. Chia ba đều, không ai thiệt.”

“Ai soạn cho anh vậy?”

“Luật sư công ty. Chuẩn từng chữ, khỏi lo.”

Tôi chùi tay vào tạp dề, cầm lên đọc.

Đọc chậm.

“Đọc gì mà đọc kỹ vậy? Giấy chia đều mà.”

“Hợp đồng nào em cũng đọc chậm, anh. Nghề cũ.”

“Anh Hai.”

“Gì nữa?”

“Trang hai, mục 3.2. Em cam kết bàn giao nhà trong ba mươi ngày, không yêu cầu bất kỳ khoản hỗ trợ nào khác.”

“Thì sao? Chia ba rồi, hỗ trợ gì nữa?”

“Trang ba, mục 4.1. Tiền bán nhà do anh đại diện nhận và phân chia.”

“Chứ ai nhận? Cô nhận à?”

“Em chỉ đọc lại thôi.”

Tôi đặt xấp giấy xuống.

“Em chưa ký hôm nay đâu, anh Hai.”

Mặt anh sầm lại.

“Sao?”

“Hôm nay giỗ mẹ.”

“Ký cái chữ mất bao lâu?”

“Nửa phút.”

“Vậy ký đi!”

“Nửa phút đó, để sau ngày giỗ.”

“Cô tính câu giờ tới bao giờ?”

“Tám năm anh về được sáu lần. Nửa buổi nữa, nhằm nhò gì.”

Anh nghẹn một giây.

“Thì giỗ mẹ mới đủ mặt! Cô tưởng tôi rảnh mà chạy về đây lần nữa à?”

Chị Hằng từ ngoài bước vào, đứng chống nạnh ngay cửa bếp.

“Nó không ký thì để nó kiện. Học tới đâu mà đòi kiện, hả Thảo? Kế toán quèn nghỉ việc tám năm, giờ đến cái xe máy còn phải đi mượn.”

Câu đó chị nói to. Ngoài sân có khách quay đầu vào.

Mặt tôi nóng lên.

Nhưng cái làm tôi đau không phải chữ “kế toán quèn”.

Là chữ “nó”.

Chị hơn tôi bốn tuổi. Hồi nhỏ chị cõng tôi đi học mẫu giáo.

Chị Nga bước vào theo, đảo mắt quanh bếp.

“Với lại, trước khi bán nhà, em nói thật, phải kiểm kê.”

“Kiểm kê cái gì?” dì Bảy hỏi.

“Vàng vòng của mẹ ngày xưa đâu? Hồi đám cưới em, em thấy mẹ đeo nguyên bộ. Mẹ nằm một chỗ tám năm, một tay thím lo hết, thì… ai biết được cái gì còn cái gì mất.”

“Bộ vàng đó mẹ bán năm mẹ mổ. Còn hoá đơn tiệm vàng. Chị muốn coi không?”

“Hoá đơn thì… ai chả in được.”

“Vậy chị muốn gì?”

“Muốn gì đâu. Rõ ràng thôi.”

“Rõ tới đâu thì chị vừa lòng?”

Chị không đáp.

Dì Bảy buông đôi đũa xuống, tay run run.

“Nga. Cháu nói vậy là… là nói con Thảo ăn cắp?”

“Con không nói vậy. Con nói là phải rõ ràng.”

“Rõ ràng… Tám năm nay cháu về được mấy lần mà đòi kiểm người ở lại?”

“Con về ít thì con mới phải hỏi chứ dì. Người ngay thì sợ gì kiểm.”

Tôi đứng giữa cái bếp tôi đã nấu cháo cho mẹ hai nghìn chín trăm ngày. Tay tôi nắm lại trong túi tạp dề — nơi có chùm chìa khoá, và chiếc nhỏ nhất là chìa tủ thờ.

Tôi nắm nó chặt đến hằn lòng bàn tay.

Chương 4 — Người tôi thương bị kéo vào

Mười hai giờ kém, sắp cúng.

Dì Bảy bưng mâm cúng lên nhà trên. Dì là em ruột của mẹ, goá, nghèo. Tám năm qua cứ cách ngày dì đạp xe ba cây số qua phụ tôi tắm cho mẹ — một mình tôi lật người mẹ không nổi.

Dì sửa lại di ảnh của mẹ cho ngay.

Chị Nga đứng cạnh, buột miệng, giọng không nhỏ:

“Hai dì cháu hợp nhau ghê. Một cặp… nương tựa nhà người ta.”

Dì Bảy quay lại.

“Cháu nói gì?”

“Con nói dì với thím Thảo có phước, tám năm được ở gần mẹ. Chứ tụi con ở xa, muốn báo hiếu cũng đâu có cửa.”

“Muốn báo hiếu thì… thiếu gì cửa, Nga.”

“Dì nói vậy là sao?”

“Xe đò dưới này lên Sài Gòn ngày sáu chuyến. Tám năm nay chuyến nào cũng chạy.”

“Dì nói móc con đấy à?”

“Dì nói giờ xe. Ai có tật thì nấy giật mình.”

Anh Phúc nói vọng từ bàn giữa, không thèm quay đầu:

“Dì Bảy. Chuyện nhà cửa lát nữa là chuyện con cái trong nhà. Dì là phận bên ngoại, không phận sự, dì đừng xen vô.”

Cả gian nhà im phắc.

Dì Bảy đứng đó, hai tay còn dính mỡ, cái lưng còng xuống thêm một chút.

Dì là người nấu cơm cữ cho mẹ khi mẹ sinh anh Phúc. Bốn mươi lăm năm trước.

Mắt dì đỏ lên. Dì không cãi. Người nghèo ít khi cãi. Dì lùi ra, nép vào cạnh tủ chè, thu mình cho nhỏ lại.

Tôi bước lên một bước.

Câu nói đã lên tới cổ họng.

Tám năm nay người “không phận sự” đó thay tã cho mẹ anh nhiều hơn anh về thăm mẹ gấp trăm lần.

Tôi hoàn toàn có thể nói ra ngay lúc đó.

Nhưng tôi nuốt xuống.

Không phải vì tôi sợ anh.

Vì mẹ dặn: đợi đủ mặt, đợi cúng xong. Mẹ nằm tám năm, nói được ít, nhưng chưa dặn sai điều gì bao giờ.

Tôi cầm tay dì.

“Dì. Vô đây phụ con thắp nhang cho chị Hai của dì.”

Dì nhìn tôi.

“Thảo… dì có sao đâu con.”

“Dạ. Con biết.”

Tôi cố tình nói vậy.

Chị Hai của dì. Không phải “mẹ của anh Phúc”.

Để cả nhà nhớ: người nằm trên bàn thờ kia là ruột thịt của người đàn bà vừa bị đuổi ra rìa.

Anh Phúc nhìn tôi một cái rất nhanh. Rồi anh chỉnh cà vạt, quay ra tiếp khách.

Kẻ đang thắng ít khi để ý bàn cờ.

Chương 5 — Tôi cho họ một cơ hội

Trước giờ cúng, bà Tám hàng xóm ghé bếp, kéo tay tôi.

“Thảo. Nghe nói… bây sắp dọn đi hả con?”

“Dạ ai nói cô?”

“Ngoài sân người ta nói rần rần kìa. Rồi bây tính đi đâu?”

“Con chưa tính, cô.”

“Cái thứ gì đâu… tám năm trời…”

“Thôi cô. Bữa nay giỗ mẹ con.”

“Ừ… ừ. Có gì qua cô nghe con. Nhà cô chật, mà có chỗ.”

“Dạ.”

“Mà Thảo nè.”

“Dạ?”

“Hồi má bây còn, lần nào cô qua cũng thấy bây ngồi bóp chân cho bả. Cô nhớ. Cả xóm nhớ.”

“…Dạ.”

Mắt cay.

Cúng xong, cả họ ngồi vào sáu mâm. Ăn gần tàn, anh Phúc gõ muỗng vào ly.

“Nhân hôm nay đủ mặt cả họ, tôi xin phép thưa chuyện.”

Anh đứng dậy, đúng phong thái giám đốc.

“Mẹ tôi mất tròn năm. Anh em tôi bàn rồi—” anh liếc chị Hằng, chị gật, “—nhà này sẽ bán, chia đều ba anh em. Tuần sau tôi đăng bán.”

Tiếng đũa thưa dần rồi tắt hẳn.

Có tiếng hỏi nhỏ ở mâm ngoài:

“Bán… bán thiệt hả?”

“Suỵt. Nghe kìa.”

“Còn cô Thảo…”

Anh quay sang tôi. Cả sáu mâm quay theo.

“…cô thu xếp dọn đi trong tháng. Cô lớn rồi, không thể ăn nhờ ở đậu cả đời được. Coi như từ nay ai lo phận nấy.”

Ăn nhờ ở đậu.

Bốn chữ đó rơi giữa sáu mâm cỗ giỗ mẹ tôi.

Vài người cúi mặt và cơm. Vài người nhìn tôi, chờ.

Chú Chín hắng giọng.

“Phúc. Chuyện lớn vậy, để thư thư ít bữa…”

“Dạ thôi chú. Con ít về được lắm. Nay đủ mặt, con nói luôn cho gọn.”

“Gọn với ai thì gọn. Chớ với em con…”

“Chú. Con lo được.”

“Con lo.” Chú Chín gật chậm. “Ừ. Nãy giờ chú thấy con lo dữ lắm rồi.”

Tôi lau tay, đứng dậy.

“Anh Hai. Em hỏi anh một câu, lần cuối.”

“Hỏi gì?”

“Anh có chắc là anh muốn làm rõ hết mọi chuyện tiền bạc, giấy tờ của mẹ — ngay hôm nay, trước bàn thờ mẹ, trước đủ mặt cả họ không?”

Anh nheo mắt.

“Cô… cô doạ tôi đấy à?”

“Không.”

Tôi nhìn thẳng anh.

“Em chỉ muốn anh nhớ rằng em đã hỏi.”

“Hỏi thì sao? Không hỏi thì sao?”

“Thì thôi, anh Hai.”

Hai giây im lặng.

Rồi anh bật cười. Chị Hằng cười theo. Chị Nga cười to nhất.

“Ghê chưa. Nó doạ kìa.”

“Doạ ai? Lấy gì doạ?”

“Thì kệ nó. Rõ ràng thì sợ gì.”

“Ừ thì rõ! Rõ hết! Sợ gì mà không rõ?”

Ngoài hiên, chú Sáu đặt tách trà xuống.

Chú không cười.

Chương 6 — Họ tự nói ra điều không nên nói

“Rõ thì rõ luôn!” Anh Phúc hất cằm, giọng đã có men rượu và men đám đông. “Cả họ nghe cho kỹ đây.”

Anh chỉ tay về phía tôi.

“Tám năm nay cô này ở không trong nhà của mẹ tôi, sống bằng lương hưu của mẹ tôi. Không nghề, không lương, không đóng góp một đồng. Giờ nhà bán, chia ba là tử tế lắm rồi. Còn tôi—”

Anh vỗ ngực. Vỗ mạnh.

“—tôi nói trước bàn thờ mẹ tôi luôn: tôi chưa từng cầm của mẹ tôi một đồng nào. Nửa đồng cũng không. Trời đất quỷ thần chứng giám.”

“Anh Hai.” Tôi nói khẽ. “Anh say rồi.”

“Tôi tỉnh! Tỉnh hơn bao giờ hết!”

Chú Chín trưởng họ chậm rãi buông đũa.

“Phúc. Lời đó con nói trước bàn thờ má con đó. Nói chắc chưa con?”

“Con chắc!”

“Chú hỏi lại lần nữa. Chắc chưa?”

“Con chắc!” Anh nói to hơn, như sợ ai không nghe thấy. “Ai — bất kỳ ai — đưa ra được bằng chứng con cầm tiền của mẹ, con quỳ ngay tại đây, lạy cả họ. Còn không có, thì xin cả họ từ nay khỏi nghe con Thảo kể công.”

Mâm ngoài có tiếng xuýt xoa.

“Thề chi dữ vậy trời.”

“Kệ. Người ta sòng phẳng.”

Chị Hằng đứng bật dậy theo, sợ mất phần:

“Em cũng vậy! Em chưa từng nhận của mẹ một cắc nào! Đứa nào đặt điều, trời phạt nó!”

Dì Bảy đứng cạnh tủ chè, nói khẽ:

“Hằng… bớt lại một câu đi con.”

“Dì đứng ngoài đi! Nãy anh Phúc nói rồi đó!”

Chị nói xong còn lườm tôi một vòng.

Chị Nga vỗ tay.

“Đấy! Rõ ràng, sòng phẳng như thế chứ! Ai dám thề trước bàn thờ như anh Phúc nhà con nữa?”

Sáu mâm cỗ im lặng. Mấy chục con mắt đổ dồn về phía tôi — con em út đứng một mình cạnh bàn thờ.

Tôi nghe tim mình đập rất chậm. Chậm và rõ.

“Anh Hai nói xong chưa?”

“Xong.”

“Anh không rút lại chữ nào?”

“Rút làm gì? Tôi nói thật!”

“Chị Ba nói xong chưa?”

“Xong! Làm gì nhau?”

“Chị cũng không rút?”

“Rút cái gì? Cô có bằng chứng thì lôi ra!”

“Em không lôi.”

“Thấy chưa!”

“Có người lôi giùm.”

Tôi gật đầu.

“Vậy em xin cả họ nán lại thêm mười phút.”

“Mười phút làm cái gì?” chị Nga hỏi.

“Làm đúng một lời mẹ dặn.”

“Mẹ dặn? Mẹ nằm liệt tám năm, dặn cô được cái gì?”

“Chị nán lại thì biết.”

Chú Chín gõ nhẹ tay xuống bàn.

“Cả họ ngồi lại. Mười phút thôi mà.”

Không ai đứng dậy. Thiệt ra lúc đó có đuổi cũng không ai chịu về.

Tôi thò tay vào túi tạp dề, lấy chùm chìa khoá, tách ra chiếc nhỏ nhất.

Và bước về phía tủ thờ.

Chương 7 — Lá bài đầu tiên

Cái hộp bánh quy bằng thiếc đặt lên bàn giữa, ngay dưới di ảnh của mẹ.

Dây thun đã giòn. Mảnh giấy ố vẫn còn dính: “Khi nào tụi nó về đủ mặt, con đưa cho chú Sáu.”

Tôi bưng hộp bằng hai tay, đi ra hiên.

“Chú Sáu. Mẹ con dặn đưa chú cái này. Dặn ba lần.”

Chú Sáu nhìn cái hộp một lúc lâu. Rồi thở ra một hơi dài.

“Rồi. Cũng tới ngày.”

“Chú biết trong này có gì hả chú?”

“Biết. Một nửa.”

“Nửa nào chú không biết?”

“Nửa… bà cụ viết một mình.”

Chú đứng dậy, vào bàn giữa, đeo kính lão. Cả họ dạt ra. Nhà im như lúc đọc văn tế.

“Cái hộp gì vậy?” chị Nga hỏi nhỏ.

Không ai trả lời chị.

Trong hộp có hai phong bì dán niêm, mép niêm ký tên mẹ tôi — nét chữ xiêu vẹo của người liệt nửa người tập viết tay trái.

Chú Sáu cầm phong bì mỏng trước. Bóc.

“Cái này… tôi đọc nguyên văn.”

Chú đọc chậm, từng chữ:

“Giấy vay tiền. Tôi tên Trần Hữu Phúc… có vay của mẹ tôi là bà Lê Thị Hường… số tiền bốn trăm triệu đồng… hẹn hoàn trả trong hai năm… Ngày 12 tháng 3 năm 2021. Người vay đã ký, ghi rõ họ tên.”

Chị Nga bật dậy.

“Khoan! Đọc lại… đọc lại cái tên coi!”

“Trần. Hữu. Phúc.” Chú Sáu đọc rời từng tiếng. “Cần chú đánh vần nữa không, con?”

Chú xoay tờ giấy lại, đưa cao cho cả họ thấy chữ ký.

“Kèm theo: giấy xác nhận của mẹ các cháu, lăn tay, lập tại phòng công chứng — do chính tôi chứng. Nội dung: số tiền trên bà rút từ sổ tiết kiệm của ông nhà để lại, đưa cho con trai trưởng để cứu công ty. Tới ngày bà mất… chưa nhận lại đồng nào.”

Không ai nhúc nhích.

Rồi mâm ngoài có tiếng buột miệng:

“Bốn trăm triệu…”

“Hồi nãy nó thề cái gì bây?”

“Thề chưa cầm một đồng…”

“Suỵt. Coi thằng Phúc kìa.”

Anh Phúc trắng bệch. Miệng anh mở ra, khép lại, rồi mới bật được thành tiếng:

“Giấy… giấy giả! Con Thảo nó ở nhà một mình với mẹ, nó muốn bịa gì chả được!”

“Phúc.” Chú Sáu gọi.

“Giấy giả! Chữ ký này…”

“Chữ ký của ai?”

“Của… giống của tôi, nhưng…”

“Nhưng sao con?”

“Nhưng tôi… tôi đâu có nhớ…”

“Không nhớ, thì giám định. Hồ sơ lưu tại phòng công chứng của chú. Con muốn, chú đọc số hồ sơ cho cả họ nghe luôn.”

Anh im.

Anh nhìn quanh. Không ai nhìn lại anh.

“Chú Sáu… chú với con Thảo… hai người bàn nhau từ trước đúng không?”

“Chú giữ hồ sơ. Con Thảo giữ cái hộp. Tới sáng nay nó còn tưởng trong này là ảnh cũ. Ai bàn với ai, con?”

Anh không trả lời được.

Chú tháo kính, nhìn anh. Cái nhìn của người ba mươi năm ngồi ghế công chứng.

“Hay là con muốn quỳ trước? Hồi nãy con hứa với cả họ rồi đó.”

Có tiếng ai đó nuốt nước bọt.

Chị Hằng lùi một bước, đụng cạnh bàn. Chén rượu đổ, không ai buồn dựng lại.

Phong bì mỏng còn tờ thứ hai. Chú liếc qua, nhìn chị Hằng.

“Hằng. Biên nhận một trăm triệu, tháng 7 năm 2020. Chú đọc luôn nghe: ‘Con gái tôi là Trần Thị Thu Hằng nhận để đóng tiền phẫu thuật cho tôi.’”

“Trời.” Bà Tám buột miệng. “Đợt mổ đó tui còn qua nuôi phụ mấy bữa.”

“Con… cái đó là…”

“Cái đó là sao con?”

“Hồi đó con tính đóng viện phí thiệt mà… xong… xong nhà con kẹt…”

“Rồi rốt cuộc ai đóng?”

Chị không trả lời được.

“Chú nhớ đợt đó. Đợt đó bà mổ bằng tiền con Thảo vay ngân hàng, đúng không Thảo?”

Tôi không trả lời.

Có những câu hỏi không cần trả lời. Cả họ đang tự trả lời trong đầu rồi.

Chị Hằng ngồi phịch xuống ghế. Câu “trời phạt đứa đặt điều” của chị mười phút trước còn treo lơ lửng giữa nhà.

Anh Phúc vớ được cọng rơm cuối:

“Thì… thì kể cả vậy! Nợ là chuyện nợ! Nhà là chuyện nhà! Nhà của mẹ, mẹ mất thì chia theo luật, con nào cũng có phần! Cô Thảo giỏi thì trừ nợ vào phần tôi, nhưng nhà vẫn phải bán!”

Chú Sáu không đáp.

Chú cầm phong bì thứ hai. Cái dày hơn.

“Trong đó… còn gì nữa?” chị Nga hỏi, giọng khô.

“Còn cái mẹ các cháu dặn đọc sau cùng.”

Chú nhìn tôi.

“Thảo. Con muốn chú đọc luôn không?”

Tôi nhìn lên di ảnh của mẹ. Mẹ trong ảnh cười hiền queo, cái khăn rằn quen thuộc vắt vai.

“Dạ. Mẹ đợi một năm rồi, chú.”

Chương 8 — Cả căn phòng im bặt

Phong bì thứ hai có ba thứ.

Thứ nhất: một bản di chúc, lập tại phòng công chứng, tháng 8 năm 2022.

Thứ hai: một bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất — cái mà cả nhà quen gọi là sổ đỏ.

Thứ ba: một lá thư.

Chú Sáu cầm bản di chúc lên trước, chưa đọc vội. Chú nhìn quanh sáu mâm.

“Trước khi đọc, chú nói cho cả họ một chuyện, để khỏi cãi về sau. Hồi tháng 6 năm 2022, bà Hường kêu chú tới nhà hai lần. Đầu óc bà lúc đó tỉnh táo hoàn toàn — có xác nhận của bác sĩ kèm trong hồ sơ. Bà làm hai việc.”

“Việc thứ nhất: bà làm hợp đồng tặng cho — sang tên căn nhà này và toàn bộ đất cho con gái út, Trần Thị Thanh Thảo. Đã đăng bộ, đã ra sổ mới từ tháng 9 năm 2022.”

“Không thể nào.” Anh Phúc lắp bắp. “Mẹ nằm liệt thì… thì đi công chứng kiểu gì?”

“Công chứng viên tới tận nhà được, Phúc. Luật cho phép. Người tới là chú.”

“Vậy mà… vậy mà không ai nói với con một tiếng?”

“Bà cụ dặn không nói. Giờ con hiểu vì sao rồi đó.”

Chú giơ tờ thứ hai lên, chậm rãi:

“Nói cách khác: căn nhà mà hồi nãy có người đòi ‘tuần sau đăng bán’… không nằm trong di sản. Vì từ ba năm trước, nó đã không còn là của bà cụ để mà chia.”

Gian nhà không còn là im lặng nữa.

Nó đông cứng.

Tôi nghe được tiếng quạt trần quay. Tiếng nhang cháy lép bép trên bàn thờ.

Rồi ai đó ở mâm ngoài thì thào:

“Ra sổ mới… ba năm trước lận?”

“Vậy hồi nãy đòi bán… là đòi bán nhà của con Thảo?”

“Trời đất.”

“Hồi nãy ai đòi kiểm kê con người ta cà?”

“Suỵt!”

Chị Nga là người vỡ ra trước. Chị quay phắt sang anh Phúc, giọng rít:

“Anh nói với em là nhà chưa sang tên! Anh nói sổ đỏ vẫn tên mẹ!”

“Thì… thì anh tưởng…”

“Anh tưởng? Em lỡ hứa với người ta đủ thứ rồi, giờ anh nói anh tưởng?”

“Nga. Từ từ…”

“Anh nhìn tôi làm gì? Anh nói đi!”

Anh Phúc không trả lời vợ nữa.

Vì anh đang nhớ ra — tôi thấy rõ khoảnh khắc anh nhớ ra — cái lần ba năm trước anh về “mượn sổ đỏ đi photo”, và mẹ nằm trên giường, lắc đầu.

Hoá ra mẹ tôi, nằm liệt trên cái giường đó, nhìn thấy hết. Trước tất cả chúng tôi.

Chị Hằng lẩm bẩm, như nói với chính mình:

“Vậy giờ… nhà là của con Thảo… từ ba năm trước…”

“Từ hồi nó còn giặt mền cho bà cụ mỗi đêm đó, cô.” Chú Sáu nói, không nhìn ai.

“Việc thứ hai,” chú tiếp, “là bản di chúc này, cho phần tài sản còn lại: sổ tiết kiệm, đôi bông cưới, và các khoản cho vay chưa đòi. Trong đó bà ghi rõ: khoản bốn trăm triệu của con trai, bà không xoá. Bà để lại cho con Thảo, ‘muốn đòi hay muốn bỏ, tuỳ nó.’”

Rồi chú cầm lá thư.

“Còn đây là thư bà dặn đọc cho đủ mặt con cháu. Ngắn thôi.”

Chú đọc. Giọng người già đọc thư người già, chậm, không diễn:

“Mẹ không giận đứa nào hết. Đứa nào mẹ cũng thương, thương từ hồi tụi bây chưa biết đi.

Mẹ sang nhà cho con Thảo không phải vì nó chăm mẹ mà mẹ trả công. Công đó không nhà nào trả nổi.

Mẹ sang nhà cho nó, vì mẹ nằm đây tám năm, mẹ thấy: đứa nào cũng nói nhà này là nhà thờ ba thờ mẹ, nhưng chỉ có mình nó là ở lại thắp nhang.

Mẹ không sợ các con nghèo. Ba mẹ hồi xưa nghèo hơn nhiều.

Mẹ chỉ sợ các con bán mất chỗ để quay về.

À, còn đôi bông cưới của mẹ. Con Nga mượn đeo đám cưới thằng cháu năm 2019, nói đeo xong trả. Mẹ không nhắc, để coi chừng nào con nhớ. Giờ mẹ đi rồi, thôi, mẹ cho con luôn đó. Đeo vô thì nhớ ăn ở cho phải.”

Chú Sáu gấp lá thư lại.

Không ai trong sáu mâm cỗ dám nhìn thẳng vào ai.

Riêng mấy chục con mắt thì từ từ, không hẹn mà cùng, quay về một phía—

—đôi bông tai đang lấp lánh trên tai chị Nga.

Chị Nga đưa tay lên che tai. Theo phản xạ.

Cái che tai đó, tôi nghĩ, cả họ sẽ còn kể lại nhiều năm.

Chương 9 — Từng người phải trả giá

“Phúc.”

Chú Chín trưởng họ lên tiếng. Giọng chú không to, mà cả nhà nghe rõ từng chữ.

“Hồi nãy con hứa cái gì trước bàn thờ má con, con còn nhớ không?”

Anh Phúc đứng giữa nhà, trong bộ vest xám thẳng thớm, và lần đầu tiên trong đời tôi thấy anh không biết để hai tay vào đâu.

“Chú Chín… cái đó là con nói trong lúc…”

“Trong lúc gì?”

“Trong lúc… nóng.”

“Lúc con đuổi em con, con có nóng không? Hay lúc đó con nguội?”

Anh không trả lời được.

Quỳ, thì làm giám đốc gì nữa với cả họ.

Không quỳ, thì lời thề “trời đất quỷ thần chứng giám” còn nguyên đó, trước di ảnh mẹ.

Anh chọn cách đứng cúi đầu. Cái đầu mà tám năm nay chưa từng cúi trước ai trong căn nhà này.

Chú Chín gật gù, quay đi, nói bâng quơ mà như đóng đinh:

“Khỏi quỳ. Đứng vậy, cả họ nhớ lâu hơn.”

Mâm ngoài không ai dám cười. Chỉ có tiếng lầm bầm:

“Đáng đời… mà nghĩ cũng tội.”

Dì Bảy — người “không phận sự” — bước tới trước mặt chị Hằng.

“Hằng. Hồi nãy con nói ‘trời phạt đứa đặt điều’ đó con. Dì già rồi, dì lãng tai, dì hỏi lại: rốt cuộc đứa nào đặt điều?”

“Dì…”

“Ừ. Dì nghe nè.”

Chị mở miệng. Không ra chữ nào. Chị đang nhìn cái biên nhận một trăm triệu trên bàn, như nhìn con rắn.

“Thôi. Khỏi nói. Rửa mặt đi con. Rồi ra thắp cho má con cây nhang.”

Còn chị Nga… không ai nói với chị câu nào. Đó mới là chỗ đau. Từ nay đi đâu trong họ, người ta cũng nhìn tai chị trước, nhìn mặt chị sau.

Anh Phúc cuối cùng cũng mở miệng. Giọng khàn đặc:

“Thảo… chuyện công ty anh…”

“Em biết.”

“Em… biết gì?”

“Ba tỷ. Cuối tháng. Anh Tài nào đó. Em nghe từ tối qua, ngoài sân.”

Anh giật mình nhìn tôi. Cái nhìn của người bị lột hết lớp áo cuối cùng.

“Sao em không nói gì?”

“Nói gì hả anh? Nói cho cả họ biết anh sắp vỡ nợ, để anh hết đường về à?”

Anh im.

“Em… em còn giữ miệng cho anh?”

“Anh là anh Hai của em. Trước khi là người đuổi em.”

“Anh… anh đâu có định…”

“Anh định. Sáng nay anh nói rõ lắm.”

Anh cúi mặt.

“Thảo… giờ em tính sao, em nói anh nghe.”

“Anh muốn nghe thiệt?”

“Ừ.”

“Em nói cho anh rõ ba điều, trước cả họ luôn, khỏi phải nói lại lần hai.”

Tôi giơ một ngón tay.

“Một. Khoản bốn trăm triệu — mẹ giao cho em muốn đòi thì đòi. Em không đòi. Em xoá. Không phải vì em dư dả. Vì em không muốn ngày giỗ mẹ hằng năm biến thành ngày xử nợ.”

Mâm ngoài có tiếng thở dài.

“Bốn trăm triệu… nói xoá là xoá.”

“Thứ đó mới là con nhà có phước đó bây.”

Anh Phúc mở miệng định nói.

“Anh nghe hết đã.”

Ngón thứ hai.

“Hai. Căn nhà này không bán. Không phải vì nó là của em. Vì nó là chỗ mẹ dặn để tụi mình quay về. Tết, giỗ, cửa vẫn mở cho anh, cho chị, cho các cháu. Mẹ cho em cái nhà, không cho em cái quyền đuổi ai hết — em cũng không thèm cái quyền đó.”

Tôi nhìn thẳng vào mắt anh, hạ ngón tay thứ ba.

“Ba. Còn chuyện ba tỷ của anh… em không cứu được, và nói thật, có được em cũng không cứu. Không phải em hận anh. Mà vì đó là cái hố anh tự đào bằng chữ ký của anh, ở chỗ khác, với người khác. Em chỉ chắc chắn được một chuyện: anh không lấp nó bằng bàn thờ của mẹ được nữa. Vậy thôi.”

Anh Phúc đứng đó rất lâu.

Rồi anh làm một việc mà tôi không ngờ.

Anh quay lại bàn thờ, rút ba cây nhang, đốt, và lạy mẹ ba lạy.

Lạy thật. Lưng cong xuống thật.

Tám năm mẹ nằm đó, tôi chưa từng thấy anh lạy mẹ kiểu đó khi mẹ còn sống.

Nhang khói bay lên, quấn quanh di ảnh.

Mẹ trong ảnh vẫn cười hiền queo.

Chương 10 — Tôi bước đi

Khách về dần lúc ba giờ chiều.

Không ai nhắc chuyện bán nhà nữa. Ra tới cổng, mấy bà trong họ nắm tay tôi, bóp bóp.

“Thôi… con ha.”

“Dạ. Con cảm ơn cô.”

“Bữa nào cô qua… ăn với con bữa cơm.”

“Dạ. Cửa nhà con mở mà cô.”

Kiểu nắm tay đó, người quê tôi để dành cho hai dịp: đám tang, và khi người ta thấy có lỗi.

Chị Hằng về gần cuối. Tới cửa, chị đứng lại, lưng vẫn quay về phía tôi:

“Cái biên nhận một trăm triệu đó…”

“Em đưa chú Sáu giữ rồi.”

“Cô định… định làm gì với nó?”

“Không làm gì hết.”

“Vậy giữ làm gì?”

“Để năm sau chị còn dám về giỗ mẹ.”

Chị quay lại nhìn tôi, không hiểu.

“Cô không hận tôi à?”

“Hận chứ.”

“Vậy sao…”

“Tại mẹ dặn đừng bán mất chỗ quay về. Em nghĩ… người cũng vậy, chị.”

Chị im.

“Người ta chỉ sợ về, khi cái sai còn nằm trong tay người khác. Nó nằm chỗ chú Sáu, coi như nằm với mẹ.”

Vai chị rung một cái.

Chị đi thẳng ra cổng, không quay lại. Nhưng tới chỗ cây mận, tôi thấy chị đưa tay lên mặt.

Anh Phúc về sau cùng. Chị Nga đi trước ra cổng, đôi bông tai đã tháo, cầm trong tay.

Ngang qua tôi, chị dừng một nhịp. Không nhìn.

“Đôi bông này… mai mốt tôi gửi lại trên bàn thờ.”

“Mẹ cho chị rồi. Chị giữ đi. Nhớ câu cuối của mẹ là được.”

Chị đi thẳng ra xe.

Anh đứng ở bậc cửa, quay lại.

“Thảo. Anh…”

Anh dừng ở đó. Nửa câu.

“Dạ.”

“…Không có gì.”

“Về đi anh Hai. Đường xa.”

“Ừ.”

“Tháng sau giỗ ông nội. Em nấu, anh về thắp nhang.”

“Thảo.”

“Dạ.”

“Giỗ ông nội… em nấu món gì?”

“Món mẹ hay nấu. Thịt kho hột vịt, canh khổ qua.”

“…Ừ. Món đó ba thích.”

“Dạ. Mẹ nhắc hoài.”

Anh nhìn tôi thêm một giây.

“…Anh về.”

Cái gật rất nhỏ.

Xe ra khỏi cổng, bụi đỏ cuốn lên rồi lắng xuống.

Trong nhà, dì Bảy đang rửa chén, vừa rửa vừa hát nho nhỏ một câu vọng cổ gì đó của thời của dì.

“Dì Bảy. Dì ở lại ăn cơm chiều với con nha.”

“Ừ. Để dì bắc nồi cơm.”

“Khỏi. Xôi cúng còn nguyên mâm kìa.”

“Cha… xôi gấc của con Thảo thì dì ăn hoài không ngán.”

“Dì ăn hai chén nghe.”

“Ba chén. Bữa nay dì vui.”

“Dì nè.”

“Ơi?”

“Bữa nay… chắc trên bàn thờ, chị Hai của dì cười dữ lắm ha.”

“Ừ. Bả cười. Dì biết mà.”

Tôi đứng hiên nghe dì hát tiếp, tự nhiên thấy mắt cay.

Tôi vào nhà, thắp ba cây nhang.

“Mẹ. Con làm đúng lời mẹ dặn rồi đó. Đủ mặt con mới mở.”

Khói nhang bay thẳng.

“Anh Hai lạy mẹ rồi đó. Mẹ thấy hông?”

Vẫn không ai trả lời.

“Mẹ coi… vậy có được không mẹ?”

Mẹ trong ảnh cười hiền queo, khăn rằn vắt vai, dĩ nhiên không trả lời.

Nhưng gió chiều thổi qua gian nhà ba gian, làm mấy tàu chuối sau hè khua lên một tràng, nghe y như hồi mẹ còn khoẻ, mẹ ngồi võng quạt mo mà cười.

Sáng nay, có người đứng trước sáu mâm cỗ, tuyên bố đuổi tôi ra khỏi căn nhà này.

Chiều nay nghĩ lại, hôm đó quả thật có một người bị đuổi khỏi căn nhà này thật — bị đuổi khỏi cái ghế cao nhất, cái ghế tự phong, ngồi lên đầu người khác mà phán.

Nhưng người đó, chưa bao giờ là tôi.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*