C:ON TR:AI DUY NHẤT M:ẤT, BÀ CỤ 68 TUỔI SỐNG MỘT MÌNH BỊ HỌ HÀNG ÉP K:Ý B:ÁN MẢNH ĐẤT SAU NHÀ, C:ẮT LUÔN ĐƯỜNG NƯỚC. NGÀY HỌ KÉO ĐẾN LẦN NỮA, BÀ G:ẰN GIỌNG: “GIÀ RỒI THÌ SAO? ĐẤT NÀY KHÔNG PHẢI CỦA CÁC NGƯỜI!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Chú Bảy cúi xuống tờ giấy rất lâu. Tôi thấy yết hầu chú chuyển động, nhưng không có tiếng nào thoát ra.
“Chú đọc đi,” bà Sáu nhắc lại, giọng nhẹ như đang bảo trẻ con đánh vần. “Hay để bà đọc?”
Chú Bảy vẫn im. Ông anh họ cầm cặp tài liệu nhoài người sang, giật lấy tờ giấy. Ông đọc nhẩm, mặt từ từ cứng lại.
“Hợp đồng tặng cho,” ông nói chậm rãi. “Bên tặng cho: ông Trần Văn Lộc. Bên nhận tặng cho: bà Nguyễn Thị Sáu. Tặng cho toàn bộ thửa đất phía sau, hai trăm mét vuông, cho bà Sáu đứng tên riêng. Có công chứng. Ngày…” Ông ngừng. “Hai mươi bảy năm trước.”
“Ông Lộc nào?” Thím Bảy gắt lên, giọng the thé. “Họ nhà này làm gì có ông Lộc nào!”
“Có chứ,” bà Sáu nói. “Chú Bảy biết rõ nhất.”
Chú Bảy ngồi phịch xuống ghế. Tôi chưa từng thấy một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi sụp xuống nhanh đến thế.
“Ông Lộc là bạn thân của chồng tôi,” bà Sáu kể, mắt nhìn vào khoảng không phía trước. “Hồi đó ông ấy làm ăn lớn, có mảnh đất bỏ không sau nhà tôi. Năm tôi ba mươi mốt tuổi, thằng Khải mới mười hai tuổi, chồng tôi nằm viện vì ung thư. Ông Lộc đến bệnh viện, đặt tờ giấy này lên giường, bảo: Anh Hai yên tâm đi, mảnh đất tôi tặng chị Sáu, để mẹ con chị có chỗ nương thân.”
“Sao… sao không ai biết?” Ông anh họ hỏi.
“Vì ông Lộc dặn đừng nói,” bà đáp. “Ông bảo họ nội nhà này lòng dạ khó lường, đứa nào biết có đất là đứa đó tìm cách. Chồng tôi mất, tôi giữ tờ giấy dưới đáy tủ, chưa bao giờ nhắc nửa lời. Ba mươi năm.”
Tôi đứng nghe mà thấy sống lưng mình lạnh dần. Ba mươi năm bà ôm một tờ giấy, ngồi nhìn họ hàng bên nội nói chuyện đất đai ngay trước mặt mình mà không hé môi.
“Nhưng… đất này năm xưa đứng tên ai trên sổ?” Ông anh họ hỏi tiếp, giọng bắt đầu run. “Sổ đỏ đang đứng tên ông nội chú Bảy, tôi có bản photo ở đây…”
Ông rút từ cặp ra một bản sao sổ đỏ, trải lên bàn. Bà Sáu nhìn nó, không hề nao núng.
“Bản photo,” bà nhắc lại. “Anh có bản gốc không?”
Ông anh họ khựng lại.
“Mười lăm năm trước, chú Bảy mượn sổ đỏ mảnh đất đó của bà, bảo đi vay vốn làm ăn,” bà Sáu nói, quay sang chú Bảy. “Chú còn nhớ không? Chú nói chú trả sổ trong ba tháng. Mười lăm năm rồi chưa trả.”
Chú Bảy cúi gằm mặt.
Tôi chợt hiểu ra một điều. Trên bản photo ấy, mục chủ sử dụng đất ghi tên người khác, chính là cái tên chú Bảy đã sửa. Họ không bán đất của họ nội. Họ định bán đất của một người đàn bà góa, bằng một quyển sổ đã bị mượn từ mười lăm năm trước.
“Bà Sáu,” thím Bảy bỗng đổi giọng, mềm như nước, “em dâu với nhau cả… à không, chị em dâu với nhau. Chuyện hiểu lầm thôi. Chú nhà em mượn sổ thật, nhưng là để lo cho thằng Khải hồi nó mới đi làm. Chị không nhớ sao?”
“Thằng Khải?” Bà Sáu hỏi, rất khẽ.
“Dạ, hồi đó nó cần vốn mở xưởng, chú nó mượn sổ đứng ra bảo lãnh…”
“Khải mở xưởng ở đâu?”
Thím Bảy nghẹn lại.
“Con tôi đi làm công nhân xây dựng cả đời,” bà Sáu nói. “Nó chưa bao giờ mở xưởng. Thím nói dối giỏi lắm, nhưng thím quên mất một điều: mẹ thì không bao giờ quên chuyện của con mình.”
Tôi nghe tiếng khóc nghẹn ở đâu đó, và nhận ra đó là tiếng của chính tôi. Tôi quay mặt đi, lau vội.
Chú Bảy ngẩng lên, đôi mắt đỏ ngầu, giọng gằn xuống.
“Chị Sáu, chị đừng làm to chuyện. Tờ giấy chị có cũng chỉ là tờ giấy. Hai mươi bảy năm rồi, ông Lộc kia còn sống hay không còn biết đâu. Họ nội nhà này không công nhận, ra tòa chị cũng thua.”
“Ai bảo ra tòa?” Tôi lên tiếng.
Tất cả quay sang nhìn tôi. Tôi bước tới bàn, đặt điện thoại lên giữa hai tờ giấy, màn hình sáng, con số ghi âm nhảy từng giây.
“Cháu ghi âm từ lúc bước vào sân,” tôi nói, giọng run nhưng không lùi. “Câu chú nói cho người khóa van tổng, câu chú bảo xe chở thuốc không vào được ngõ, câu thím nói ngõ này chặn rồi, cả câu chú bảo bà ký thì chú đưa hai trăm triệu. Cháu nghe hết.”
“Mày…” Chú Bảy chồm lên.
“Chú ngồi xuống.” Tôi giơ tay. “Cháu làm việc ở phòng pháp chế của một công ty, cháu biết chặn lối đi chung của cả làng, cắt nước người già mà không có quyết định của chính quyền, người ta gọi là gì. Hai chú thím muốn cháu gọi công an xã ngay bây giờ, hay đợi bà Sáu nói tiếp?”
Câu nói của tôi làm cả sân lặng đi. Hai người anh họ lùi lại nửa bước. Người cầm máy ghi hình vội vàng cúi xuống tắt đèn đỏ.
Chú Bảy ngồi xuống. Thím Bảy ngồi cạnh, nắm tay chồng, mặt tái nhợt.
“Cháu Vân,” bà Sáu quay sang tôi, giọng ấm lại, “bà còn một thứ nữa.”
Bà quay vào góc giường, mở chiếc hộp nhỏ bằng gỗ, lấy ra một phong bì thư màu nâu. Bà đưa cho tôi, tay run run.
“Cháu mở ra, đọc cho họ nghe. Mắt bà kém, bà sợ đọc sai.”
Tôi xé mép phong bì. Bên trong là một tờ giấy viết tay, nét chữ ngay ngắn, nghiêng nghiêng, và một tờ giấy nhỏ hơn đã nhàu. Tôi đọc tờ viết tay trước.
“Mẹ, nếu mẹ đọc thư này thì con không còn nữa. Con xin lỗi mẹ vì con đi trước mẹ. Mẹ đừng khóc. Con viết thư này từ ba tháng trước, sau lần con thấy chú Bảy đến nhà hỏi chuyện mảnh đất. Con linh cảm chú sẽ làm gì đó khi con không còn. Mảnh đất sau nhà là của mẹ, con đã nhờ người làm lại hợp đồng tặng cho, bản gốc năm xưa ông Lộc cho mẹ, bản mới con công chứng lại tên mẹ vào trong sổ đỏ riêng. Mẹ đừng ký giấy nào của ai. Mẹ cứ hỏi chú Bảy sổ đỏ cũ đâu. Con yêu mẹ nhiều. Khải.”
Tay tôi run đến mức tờ giấy rung bần bật. Giọng tôi tắc lại ở câu cuối.
Bà Sáu ngồi lặng, hai bàn tay đan chặt vào nhau. Không ai trong sân nói câu nào.
Tôi mở tờ giấy nhỏ hơn. Đó là một giấy biên nhận, in tên văn phòng công chứng, ghi ngày cách đây ba tháng. Người yêu cầu: Lê Văn Khải. Nội dung: công chứng lại di nguyện và xác nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Sáu. Cuối biên nhận có một dòng chữ viết tay: “Tập hồ sơ gốc đang lưu tại văn phòng. Có thể xuất trình bất kỳ lúc nào.”
Ông anh họ giật lấy biên nhận, đọc lại, rồi lặng lẽ đặt xuống.
“Chú Bảy,” tôi nói, “còn gì để nói nữa không?”
Chú Bảy gục đầu xuống bàn. Tiếng thở của chú nặng nề, khàn đặc. Thím Bảy bỗng bật lên, giọng chói tai:
“Tất cả là tại thằng Khải! Nó biết hết, nó cố tình giấu! Nếu nó nói sớm thì…”
“Thím!” Tôi quát lên, và chính tôi cũng giật mình vì giọng mình. “Anh Khải đã m:ất. Thím nhắc tên anh ấy mà còn dám đổ lỗi à?”
Thím Bảy im bặt.
Ngoài ngõ, tiếng người nhốn nháo vọng vào. Tôi nghe tiếng ông trưởng thôn gọi: “Ai cắt nước nhà bà Sáu? Cây đa ai đốn chặn ngõ?” Có lẽ tiếng ồn đã kéo cả xóm ra xem. Ông anh họ cầm máy ghi hình vội lùi ra khỏi sân. Người còn lại cúi đầu lấy cặp, nối bước.
Chỉ còn chú Bảy và thím Bảy.
Bà Sáu đứng dậy, chậm rãi, vịn vào thành tủ. Bà nhìn đứa em chồng mà bà đã gọi bằng chú suốt ba mươi năm.
“Chú Bảy,” bà nói, “tôi không kiện chú.”
Chú Bảy ngẩng lên, ngỡ ngàng.
“Tôi chỉ có hai điều kiện. Một, ngày mai chú mở van nước, dựng lại cây đa, dọn cái ngõ cho xe vào. Hai, chú mang quyển sổ đỏ cũ chú mượn mười lăm năm trước về trả đây. Trong ba ngày.”
Chú Bảy gật, rất chậm. Lần đầu tiên tôi thấy mắt chú ngấn nước.
“Chị… chị cho em ba ngày.”
“Ba ngày.”
Họ dắt nhau ra cổng. Thím Bảy không dám ngoái lại, còn chú Bảy bước đi như người say. Tôi nhìn theo, lòng không hề nhẹ đi chút nào.
Tôi quay lại bên bà Sáu. Bà vẫn đứng đó, nhìn ra khoảng sân trống, hai mắt đỏ hoe nhưng không một giọt nước mắt rơi.
“Bà ơi,” tôi nói, “con gọi người sửa nước giúp bà trước nhé.”
“Ừ.” Bà gật. “Cảm ơn con.”
Chiều hôm ấy, ông trưởng thôn cho người đến khai thông lại van nước, hai thanh niên cưa cây đa chặn ngõ kéo sang bên. Nước chảy vào chum đầu tiên, bà Sáu múc một gáo, uống ừng ực, rồi khẽ nấc.
“Hai ngày nay bà thèm một ngụm nước,” bà nói. “Hóa ra thèm đến thế.”
Tôi ngồi xuống, giúp bà đun nước pha thuốc. Bà không nhắc gì đến chuyện hồi sáng nữa. Chỉ có điều, mỗi lần bà nhìn di ảnh anh Khải trên bàn thờ, bà lại đưa tay chạm nhẹ vào khung ảnh, rất khẽ, như sợ làm anh đau.
Ba ngày sau, chú Bảy đến thật. Chú đứng trước cổng nhà bà, tay cầm quyển sổ đỏ cũ bọc trong túi ni lông, hai vai rũ xuống như người vừa ốm dậy.
Tôi mở cổng. Chú không nhìn tôi, chỉ đưa quyển sổ qua khe cửa.
“Trả chị Sáu,” chú nói khàn khàn. “Chị cầm đi. Chú… chú xin lỗi.”
Tôi cầm quyển sổ. Vừa chạm vào bìa, tôi thấy nó nặng hơn mức một quyển sổ thông thường, như có thứ gì kẹp bên trong. Tôi lật bìa ra.
Giữa hai trang giấy, có một tấm ảnh nhỏ cũ kỹ kẹp sát gáy. Ảnh chụp một người đàn ông lạ, đứng cạnh một cậu bé mười hai tuổi, đúng là anh Khải thời nhỏ, mặc áo trắng cổ đỏ. Sau ảnh có dòng chữ bút bi xanh, nét chữ hoàn toàn khác với của chú Bảy:
“Nếu chị Sáu tìm thấy tấm ảnh này, xin chị đừng cho thằng Khải biết tôi là ai.”
Tôi ngẩng lên. Chú Bảy đã quay lưng, bước đi trong ngõ. Giọng chú vọng lại, nhỏ như nói với chính mình:
“Ông Lộc không phải bạn của anh Hai. Ông ấy là cha ruột thằng Khải.”
Tôi đứng chôn chân trước cổng, quyển sổ đỏ cũ nặng trĩu trong tay, tấm ảnh kẹp giữa hai trang giấy như một mảnh than còn đỏ.
“Chú Bảy!” Tôi gọi với theo. “Chú nói gì? Chú đứng lại!”
Bóng chú khựng lại giữa ngõ. Chú không quay đầu. Vai chú rũ xuống, như người vừa đặt xuống một gánh đã mang suốt hơn ba mươi năm.
“Chú nói rồi đó,” chú đáp, giọng khản đặc. “Chuyện này, cháu hỏi bà Sáu. Chú không đủ tư cách kể.”
Tôi quay vào nhà. Bà Sáu ngồi bên bàn, tay cầm bát nước nguội, mắt nhìn ra cổng. Bà đã nghe hết. Tôi biết vì cái bát trong tay bà đang rung, nước sóng sánh đổ ra mu bàn tay mà bà không hay.
“Bà ơi.” Tôi đặt quyển sổ và tấm ảnh lên bàn, ngồi xuống cạnh bà. “Bà kể cho con nghe đi. Con không gạn hỏi, nhưng con muốn hiểu.”
Bà im rất lâu. Rồi bà đặt bát xuống, cầm tấm ảnh lên, lấy ngón tay cái miết nhẹ lên gương mặt người đàn ông lạ.
“Ông Lộc,” bà nói, “là người bà thương trước khi bà lấy chồng.”
Tôi nín thở.
“Bà hai mươi hai tuổi, ông ấy hai mươi sáu. Nhà ông ấy khá giả, nhà bà nghèo. Mẹ ông ấy chê bà là con gái nhà ruộng, không cho cưới. Ông ấy đi làm xa, hẹn ba năm sẽ về đón. Bà chờ.” Bà cười, nụ cười hiền mà đau. “Năm thứ hai, nhà bà gặp hạn, bố bà ốm. Có người mai mối cho bà lấy anh Hai, tức chồng bà sau này. Anh ấy hiền lắm, đứng ra lo thuốc thang cho bố bà. Bố bà mất, bà gả cho anh ấy để trả ơn.”
“Rồi sao hả bà?”
“Bà có bầu thằng Khải ba tháng thì ông Lộc quay về.” Giọng bà thấp xuống gần như thì thầm. “Ông ấy về đón bà, mà bà đã là vợ người ta. Bà khóc, ông ấy khóc. Rồi ông ấy hỏi một câu mà bà nhớ cả đời: Đứa bé trong bụng em, là con ai?”
Tôi thấy cổ họng mình khô khốc.
“Bà không biết,” bà nói. “Bà thật sự không biết. Chồng bà có lần, ông Lộc cũng có một lần, trước ngày bà lấy chồng, cái lần chia tay mà cả hai đều biết là cuối cùng. Bà giấu cả hai người đàn ông.”
Bà ngừng lại. Trong sân, gió thổi làm lá khô xào xạc lăn qua nền xi măng.
“Anh Hai là người đàn ông tử tế,” bà tiếp, “anh ấy yêu thằng Khải như con ruột từ lúc nó chưa ra đời. Ông Lộc thì không bao giờ nhắc lại nữa, đi làm ăn xa, giàu lên. Nhưng khi thằng Khải mười hai tuổi, ông ấy nghe tin anh Hai bị ung thư, ông ấy về. Ông ấy đưa bà tờ giấy tặng đất. Ông bảo: Tôi không dám nhận nó, nhưng tôi không để mẹ con chị vất vả.”
“Còn bà Sáu… bà có nói với chồng không?”
“Anh Hai biết.” Bà nhắm mắt. “Anh ấy biết từ đầu. Hôm anh ấy nằm viện, anh ấy nắm tay bà, bảo: Em đừng áy náy, thằng Khải là con anh, anh nuôi nó mười hai năm. Ông Lộc có đưa gì cho mẹ con em thì cứ nhận, nhưng đừng bao giờ cho thằng bé biết, để nó chỉ có một người cha.”
Tôi cúi xuống, nước mắt rơi lã chã lên mặt bàn. Một người đàn ông biết rõ sự thật, vẫn nuôi đứa trẻ bằng cả tấm lòng, và ra đi mà không một lời oán trách.
“Thế sao chú Bảy biết?” Tôi hỏi, giọng nghẹn.
“Chú Bảy,” bà Sáu nói, “là người duy nhất trong họ nội được anh Hai tin tưởng nói thật. Anh ấy nhờ chú trông chừng mẹ con bà khi anh mất. Chú hứa. Rồi chú làm ngược lại hết.”
Bà mở mắt, nhìn thẳng vào tôi.
“Con có biết vì sao bà không kiện chú ấy không?”
Tôi lắc đầu.
“Vì chú ấy nợ anh Hai, nhưng anh Hai cũng nợ chú ấy. Thuở nhỏ, bố mẹ mất sớm, anh Hai đi làm thuê nuôi chú ăn học. Chú Bảy lớn lên với lòng biết ơn lẫn lòng ghen tị với anh trai mình, người được cả làng quý, được vợ thương, được con kính. Khi anh Hai mất, lòng ghen tị đó nở ra thành cái đứng trước mặt con hôm nay.”
Tôi không nói gì được nữa.
Chiều hôm ấy, chúng tôi đi ra văn phòng công chứng.
Cô công chứng viên đón chúng tôi bằng ánh mắt quen thuộc, như thể đã chờ sẵn. Cô lấy từ tủ ra một tập hồ sơ dày, bìa kẹp xanh, ghi tên Lê Văn Khải.
“Anh Khải đến đây ba lần,” cô nói. “Lần đầu cách đây ba tháng. Anh ấy hỏi: Nếu mẹ tôi giữ một hợp đồng cũ của người tặng đất đã mất, có làm lại được không? Tôi bảo được, nếu có bản gốc. Anh ấy mang bản gốc đến, chụp lại, rồi công chứng bản xác nhận.”
Cô mở tập hồ sơ, rút một tờ giấy kẹp riêng ở trang cuối.
“Lần thứ ba, anh ấy đến một mình, ngồi rất lâu. Anh ấy bảo muốn gửi lại một lá thư cho mẹ, nhưng không phải thư cho hôm nay, mà là thư đọc khi mẹ cần nhất. Tôi hứa giữ giúp.”
Bà Sáu run rẩy đón lấy phong thư. Tờ giấy mỏng, nét chữ nghiêng nghiêng quen thuộc. Bà không đọc ngay. Bà ôm nó vào ngực, như ôm một đứa trẻ vừa ngủ.
“Bà đọc đi,” tôi khẽ nói, “con ở đây.”
Bà gật. Bà mở thư, đưa sát vào mắt. Tôi thấy môi bà mấp máy theo từng dòng, rồi bà dừng lại, ngẩng lên, đưa thư cho tôi.
“Con đọc to giùm bà. Bà muốn nghe bằng tai.”
Tôi cầm thư. Giọng tôi run, nhưng tôi đọc đủ từng chữ.
“Mẹ, nếu hôm nay mẹ đọc thư này thì chú Bảy đã làm điều con lo. Mẹ đừng giận chú. Con biết chú không xấu hẳn, chú chỉ nghèo lòng. Con cũng biết một chuyện mà mẹ giấu con suốt ba mươi chín năm: ông Lộc là cha ruột của con. Con biết từ năm hai mươi tuổi, khi ông ấy đến thăm lúc mẹ đi vắng và nói thật với con. Con không giận mẹ. Con chỉ thương mẹ phải ôm bí mật một mình.”
Tôi nghe tiếng bà Sáu nấc lên. Bà bịt miệng, vai run từng đợt.
“Con đã gặp ông Lộc ba lần. Ông ấy mất cách đây năm năm, ung thư giống bố. Ông ấy để lại cho con một khoản tiền, con chưa bao giờ dùng, con gửi vào sổ tiết kiệm đứng tên mẹ, ở ngân hàng gần chợ huyện. Mẹ cứ lấy mà dùng, đừng tiếc. Bố Hai là bố con. Ông Lộc là người cho con một nửa dòng máu. Nhưng người nuôi con thành người, là bố Hai và mẹ. Mẹ đừng bao giờ nghĩ con không biết ơn. Con yêu mẹ.”
Tôi đọc xong, không ai trong phòng nói câu nào. Cô công chứng viên quay mặt đi, lau khóe mắt. Bà Sáu cúi đầu xuống bàn, hai bàn tay già nua áp chặt vào ngực, bờ vai gầy run lên lẩy bẩy. Bà khóc, khóc như chưa từng được khóc suốt hai tháng nay.
Tôi ôm lấy bà. Tôi không biết nói gì, chỉ ôm.
“Thằng bé biết,” bà thì thào trong nước mắt. “Nó biết hết mà nó vẫn không nói. Nó để mẹ ôm cái bí mật đó, để mẹ khỏi xấu hổ với nó.”
“Anh Khải thương bà lắm,” tôi nói.
“Ừ.” Bà gật đầu. “Nó giống bố Hai. Hiền, và lặng.”
Hôm sau, chú Bảy và thím Bảy đến, lần này không kèm ông anh họ nào, không máy ghi hình, không cặp tài liệu. Hai người đứng trước cổng nhà bà Sáu, thím Bảy xách một giỏ trái cây, chú Bảy tay không.
Bà Sáu mở cổng. Hai bên đứng nhìn nhau rất lâu.
“Chị Sáu,” chú Bảy mở lời, giọng nhỏ như hơi thở, “chú muốn nói với chị một chuyện.”
“Vào nhà.”
Chú ngồi xuống chiếc ghế gỗ cũ. Thím Bảy ngồi cạnh, hai tay xoắn vào nhau.
“Mười lăm năm trước, chú mượn sổ của chị, chú nói chú đi vay vốn làm ăn,” chú nói. “Chú không làm ăn. Chú đem cầm sổ cho một người, vay ba trăm triệu để trả nợ cá độ của thằng con chú. Rồi chú chuộc lại bằng tiền chị Sáu ngày nào cũng gửi qua nhà để nuôi cháu, chị không biết. Khoản tiền đó chú nợ chị mười lăm năm.”
Thím Bảy ngẩng lên, mặt tái nhợt. Bà không biết chuyện này. Tôi thấy rõ.
“Chú bảo tôi đi tìm hộ khẩu chị Sáu,” thím Bảy lên tiếng, giọng vỡ ra, “tôi tưởng chú muốn đón chị về ở chung. Tôi không biết gì về mấy chuyện mượn sổ.”
“Bà im đi,” chú Bảy nói, rất khẽ, không còn gắt như hôm trước. “Chuyện này lỗi tại tôi.”
Chú quay sang bà Sáu, hai tay đặt lên đầu gối, và tôi thấy một người đàn ông sáu mươi tuổi cúi gập người xuống, trán gần chạm nền nhà.
“Chị Sáu, em xin lỗi. Em xin lỗi cả anh Hai, xin lỗi cả thằng Khải. Hôm đám tang cháu, em đứng trước bàn thờ mà em đã nghĩ tới chuyện đất. Em là đồ không ra người.”
Bà Sáu nhìn chú rất lâu. Trong mắt bà không có giận, cũng không có thương, chỉ có một nỗi mệt rất sâu.
“Chú Bảy,” bà nói. “Chú nghe tôi nói.”
Chú ngẩng lên.
“Tôi không kiện chú, nhưng không có nghĩa tôi tha hết. Ba điều. Một, chú đến văn phòng công chứng, ký giấy xác nhận chưa từng có quyền gì với mảnh đất này, họ nội nhà chú cũng không. Hai, khoản ba trăm triệu chú nợ tôi mười lăm năm, chú viết giấy trả, mỗi tháng một ít, không lãi. Ba, mỗi năm đến ngày giỗ anh Khải, chú thím đến thắp nhang, đàng hoàng, không toan tính.”
Chú Bảy gật, gật liên hồi, nước mắt chảy thẳng xuống mu bàn tay.
“Còn về hai ông anh họ kia,” bà Sáu tiếp, “tôi đã nhờ ông trưởng thôn nhắn lại. Chuyện họ cầm máy ghi hình đến ép một bà già ký giấy, tôi không truy cứu. Nhưng họ mà bén mảng đến cái ngõ này lần nữa, tôi gọi công an xã.”
“Dạ,” thím Bảy thì thào. “Dạ, chị.”
Họ ra về. Lần này chú Bảy ngoái lại ngay ở cổng, cúi đầu thật sâu, rồi mới bước đi. Tôi nhìn theo hai bóng lưng chậm chạp trong ngõ, không biết trong lòng nên thương hay nên giận.
Tuần sau, chú Bảy mang đủ giấy tờ đến văn phòng công chứng, ký xác nhận từ bỏ mọi quyền lợi. Tờ giấy nợ ba trăm triệu, chú viết tay, từng dòng ngay ngắn, từng chữ như run. Bà Sáu nhận, cất vào chiếc hộp gỗ cùng những lá thư của anh Khải.
Còn khoản tiết kiệm anh Khải để lại, bà đi cùng tôi ra ngân hàng gần chợ huyện. Số dư làm tôi sững người: gần một tỷ tám trăm triệu. Nhân viên ngân hàng mở hồ sơ, lặng lẽ đẩy ra trước mặt bà một lá thư thứ hai, nét chữ anh Khải: “Mẹ dùng hết cho mẹ. Đừng để dành cho ai.”
Bà đứng đó, tay run run, không nói được câu nào. Rồi bà quay sang tôi, mỉm cười, nụ cười đầu tiên tôi thấy từ hôm anh Khải mất.
“Con Vân,” bà nói, “bà muốn làm một việc.”
Tháng sau, bà Sáu cho dựng lại căn nhà cấp bốn thành một căn nhà nhỏ gọn, sáng sủa, có hiên rộng, giếng nước riêng, không còn phụ thuộc vào van tổng đầu ngõ. Mảnh đất phía sau, hai trăm mét vuông, bà chia làm hai: một nửa trồng rau, nuôi gà, nửa còn lại bà dựng một gian nhà nhỏ bằng gỗ, mái ngói đỏ.
“Cho ai ở hả bà?” Tôi hỏi.
“Cho bất kỳ đứa trẻ nào trong làng không có chỗ học bài buổi tối,” bà đáp. “Có điện, có bàn ghế, có sách. Bà già rồi, ngồi không cũng chán. Bà dạy chúng đánh vần.”
Gian nhà ấy bà đặt tên là Nhà Khải. Biển gỗ nhỏ treo trước cửa, nét chữ nắn nót của bà, lần đầu tiên sau nhiều năm bà cầm bút.
Mỗi buổi tối, tôi từ thành phố về thăm bà vào cuối tuần, thấy bảy tám đứa trẻ ngồi quanh chiếc bàn dài, bà ngồi đầu bàn, đeo kính lão, dò từng ngón tay theo dòng chữ. Chú Bảy thỉnh thoảng đến, đặt xuống hiên một bó rau, một túi gạo, không nói gì. Bà cũng không nói gì. Nhưng tôi thấy bà luôn để sẵn một chén trà nóng trên bàn, cạnh chiếc ghế mà chú vẫn thường đứng ngoài hiên, nhìn vào.
Ngày giỗ đầu anh Khải, cả họ nội kéo về. Chú Bảy thím Bảy đến sớm nhất, thím Bảy tự tay nấu mâm cỗ. Hai ông anh họ cũng đến, đứng lặng ở góc sân, không dám bước vào cho đến khi bà Sáu gọi: “Vào thắp nhang cho em đi.”
Tôi đứng cạnh bàn thờ, nhìn khói hương bay lên, nhìn ảnh anh Khải mỉm cười hiền, và nhớ lại mảnh giấy ngả vàng bà rút từ đáy tủ hôm ấy.
Ba mươi năm bà ôm một tờ giấy, một bí mật, một nỗi thương không ai biết. Bà không nói, không khoe, không trách. Đến lúc cần, bà chỉ đứng dậy, lục tận đáy tủ, và đặt xuống bàn đúng một thứ.
Một tờ giấy thôi. Mà đủ để cả một nhà im bặt.
-HẾT-