C:ON RỂ Đ:UỔI CHA VỢ RA CHÒI CANH RUỘNG GIỮA ĐÊM GIÓ LÙA: “GIÀ RỒI LẨM CẨM, Ở TRONG NHÀ CHỈ CHẬT CHỖ!” NHƯNG KHI TÔI LẬT TẤM CHIẾU TRONG CHÒI LÊN, TÔI T:ÁI M:ẶT (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

C:ON RỂ Đ:UỔI CHA VỢ RA CHÒI CANH RUỘNG GIỮA ĐÊM GIÓ LÙA: “GIÀ RỒI LẨM CẨM, Ở TRONG NHÀ CHỈ CHẬT CHỖ!” NHƯNG KHI TÔI LẬT TẤM CHIẾU TRONG CHÒI LÊN, TÔI T:ÁI M:ẶT (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người

(Tiếp theo phần 1)

Mưa trút xuống sân như đổ nước. Người đàn ông áo trắng gập chiếc dù lại, giũ nhẹ, đảo mắt một vòng rồi dừng ở cha tôi đang run rẩy trong chiếc chăn mỏng.

“Ông cụ đây hả?” ông ta hỏi, giọng đã bớt niềm nở. “Tôi là Khải, người mua ba sào ruộng đầu xóm. Anh Tùng bảo ông cụ đồng ý rồi, tôi mới chuyển cọc.”

“Ba sào nào? Cọc nào?” tôi hỏi.

Anh Tùng bước vội tới, cười gượng, định kéo ông Khải vào hiên. “Anh Khải vào nhà uống nước đã, chuyện này mai mình nói…”

“Mai thì nói gì nữa,” ông Khải gạt tay anh. “Hôm nay là hạn thanh toán đợt hai. Tôi mang bốn trăm năm mươi tr:iệu đây. Hợp đồng có chữ ký, có dấu vân tay ông cụ, tôi chỉ cần nhận sổ.”

Ông đưa tập giấy cho tôi. Tôi cầm đèn pin soi dưới mái hiên, mưa hắt lạnh buốt lên mặt. Đó là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên chuyển nhượng: Phạm Văn Năm, bảy mươi hai tuổi. Cuối trang là một dấu vân tay đỏ, bên cạnh là chữ ký của anh Tùng ở mục người làm chứng. Ngày ký cách đây hai tuần. Kèm theo là giấy biên nhận ba trăm năm mươi tr:iệu đặt cọc, người nhận: Tùng.

Tôi đọc đi đọc lại cái tên ấy, tay lạnh dần. Rồi tôi quay sang cha.

“Cha, cha có ký giấy này không?”

“Cha biết viết tên mình,” cha nói, chậm mà rõ từng chữ. “Cha có bao giờ điểm chỉ đâu. Hai tuần trước cha sốt, ngủ li bì mấy hôm liền. Cha không nhớ gì hết.”

“Ổng lẩm cẩm, ổng quên thôi!” anh Tùng gắt lên.

Tôi không cãi. Tôi lấy điện thoại, bấm ghi âm, giơ lên cho cả sân thấy đèn đỏ nhấp nháy.

“Tôi ghi âm từ giờ,” tôi nói. “Ông Khải, ông là người mua, ông có quyền biết chuyện thật.”

Rồi tôi mở hộp sắt. Bên trong, bọc trong lớp nilon, là cuốn sổ đỏ ba sào ruộng, đứng tên Phạm Văn Năm, nguyên vẹn, không một nếp gấp.

“Sổ gốc nằm đây, tôi vừa cầm trên tay,” tôi nói. “Anh Tùng nói anh có sổ à?”

Ông Khải quay phắt sang anh Tùng. “Anh bảo sổ anh giữ, chỉ chờ ông cụ ký xong là giao. Giờ sổ nằm trong tay cô này?”

Anh Tùng há miệng mấy lần mới nói được: “Tôi… chưa kịp lấy ra…”

“Chưa kịp lấy ra,” ông Khải lặp lại, giọng lạnh dần. “Tức là anh nhận ba trăm năm mươi tr:iệu mà chưa có sổ trong tay, chưa có ông cụ đồng ý thật. Anh Tùng, tôi làm ăn đàng hoàng, tôi không chơi trò này.”

Ông đóng cặp lại. “Ba ngày. Hoàn lại t:iền cọc, không thì tôi nhờ công an giải quyết.” Rồi ông bước ra xe, đèn hậu đỏ lịm đi trong mưa.

Sân chỉ còn ba người và tiếng mưa. Anh Tùng quay sang tôi, mặt đỏ gay, vai căng như dây đàn.

“Cô giỏi lắm. Cô nghĩ cô là ai mà xen vào chuyện nhà tôi?”

“Tôi là con gái của người đang run lên ở kia,” tôi đáp. “Ruộng đứng tên cha tôi, không đứng tên anh.”

“Ruộng ai gánh mấy năm nay? Tôi! T:iền phân, t:iền thuê máy cày, tôi lo hết! Ổng cứ ôm khư khư cái sổ, năn nỉ cỡ nào cũng không chịu đưa, tôi còn cách nào khác…”

Anh chợt khựng lại. Ánh mắt anh dừng ở chiếc điện thoại còn sáng đèn đỏ trong tay tôi.

“Anh nói tiếp đi,” tôi bảo. “Anh không còn cách nào khác nên đuổi cha tôi ra chòi, phải không?”

“Tôi không có nói vậy!”

Nhưng tai tôi và chiếc điện thoại này đều nghe rồi.

Tôi quay sang cha. “Cha, con hỏi cha vài câu nhé. Hôm nay thứ mấy?”

“Thứ Sáu,” cha đáp ngay. “Con sinh ngày mười tám tháng Ba, nặng ba cân bốn. Mẹ con m:ất bảy năm rồi, vào mùa lúa trổ. Ba sào đầu xóm là ruộng mẹ con bồi, hai sào sau cha khai hoang. Cha lú lẫn chỗ nào?”

Cổ họng tôi nghẹn lại. Người “lẩm cẩm” trước mặt tôi nhớ rõ hơn cả tôi.

“Ban ngày thì tỉnh, ban đêm lú!” anh Tùng cãi.

“Vậy thì ai cho một ông cụ lú lẫn ngủ một mình ngoài chòi giữa ban đêm?” tôi hỏi lại.

Anh Tùng không đáp. Cha khẽ nói, như tự nói với chính mình: “Mấy đêm nay đầu cha nặng lắm. Nằm xuống là mê đi, sáng ra không biết mình đã làm gì.”

Tôi nắm bàn tay cha, lạnh ngắt, nổi đầy gân xanh. “Từ đêm nay cha không ở chòi nữa.”

“Cô lo thì cô lo,” anh Tùng buông một câu rồi quay vào nhà, đóng sầm cửa buồng. “Từ mai tôi không lo gì cho ổng nữa!”

Tôi dìu cha vào nhà. Chị Thu đứng trong bếp từ nãy, hai tay vẫn siết chiếc khăn lau chén, mặt trắng bệch. Chị không dám nhìn tôi, chỉ lặng lẽ đưa khăn khô và bộ đồ ấm. Bé Bơ, đứa cháu năm tuổi, thập thò sau cửa buồng, ôm chiếc gối nhỏ chạy ra nhét vào lòng ông ngoại.

“Ông ngoại hết lạnh chưa ạ? Ba bảo ông ở chòi cho mạnh người.”

Cha xoa đầu cháu, cười hiền, nhưng mắt ông nhìn xuống đất.

Gần một giờ sáng, mưa tạnh dần. Tôi trải chăn cho cha nằm trong phòng cũ, tưởng ông đã ngủ thì nghe tiếng thì thào:

“Hạnh, con ra chòi lấy giùm cha cái áo len. Nằm dưới chiếu.”

Tôi cầm đèn pin ra ruộng. Đêm sau cơn mưa tĩnh lặng đến lạ, chỉ có tiếng ếch nhái và mùi bùn ngai ngái. Trong chòi, tôi lật tấm chiếu rách trên chõng tre lên.

Chiếc áo len bạc màu nằm đó. Nhưng bên dưới còn một túi nilon buộc kỹ. Tôi tháo ra: một cuốn sổ học trò bìa đã cong, và một gói giấy báo nhỏ.

Tôi mở sổ. Nét chữ nguệch ngoạc của cha, viết bằng bút chì:

Trước hôm ra chòi một tuần. Thằng Tùng đưa ly nước, cha ngủ gục trong bếp. Tỉnh dậy nồi cháy đen. Cha nhớ cha chưa bật bếp. Có hôm cha mở mắt đã thấy mình đứng ngoài ngõ, chân trần.

Đêm thứ hai ở chòi. Thằng Tùng bảo ra canh ruộng vài bữa, mùa này có kẻ trộm lúa. Cha đi.

Đêm thứ năm. Tủ trong phòng cha bị xê dịch, giấy tờ bị lục. Cha đem hộp sắt ra giấu dưới chõng.

Đêm thứ chín. Thu mang cơm tối và gói thuốc, bảo uống cho dễ ngủ. Cha uống, ngủ li bì.

Đêm thứ mười một. Sáng dậy, ngón cái dính mực đỏ. Cha không biết mình đã làm gì.

Đêm thứ mười bốn. Cha ngậm thuốc rồi nhổ bỏ, giả bộ ngủ. Nửa đêm thằng Tùng vào chòi, nói trong điện thoại: còn thiếu cái sổ, ổng giấu đâu tôi chưa tìm ra, cứ để ổng ngoài chòi, lạnh quá thì tự khắc phải đưa.

Tay tôi bắt đầu run. Dòng cuối cùng bị gạch đi gạch lại: Cha không lẩm cẩm. Cha biết hết. Nhưng cha không muốn tin.

Tôi mở gói giấy báo. Bên trong là mười mấy viên th:uốc trắng nhỏ, cha đã nhổ ra rồi cất lại từng viên. Tờ giấy gói còn nguyên, trên đó có một dòng bút bi: Ba uống sau ăn tối.

Tôi nhìn dòng chữ ấy rất lâu. Nét chữ tròn trịa, chữ “g” kéo đuôi dài, chữ “b” cong lên. Tôi đã nhìn nét chữ này từ hồi nhỏ, hồi chị kèm tôi làm bài tập về nhà. Máu trong người tôi như đông lại.

Đó là chữ của chị Thu.

Tôi quay về nhà, đặt chiếc áo len lên giường cha, dỗ ông ngủ, rồi bước ra bếp. Đèn mờ vẫn sáng. Chị Thu ngồi một mình ở bàn, trước mặt là ly nước nguội, như người chưa từng đi ngủ.

Tôi không nói gì. Tôi đặt gói giấy báo xuống mặt bàn, lật dòng chữ lên.

Chị Thu nhìn nó. Tôi thấy mặt chị mất hết máu, từng chút một.

“Em lấy ở đâu?” chị hỏi, giọng gần như không ra tiếng.

“Dưới chiếu của cha. Cha cất từng viên, nhổ ra không uống. Chị viết dòng này?”

Rất lâu chị không đáp. Rồi chị gật đầu. “Chị viết.”

“Th:uốc gì?”

“Chị không biết. Anh Tùng đưa về, bảo là th:uốc giúp ba ngủ, bác sĩ cho. Anh ấy dặn chị ghi ra cho khỏi nhầm, rồi bưng ra chòi cùng cơm tối…”

“Bác sĩ nào? Phòng khám nào? Chị có gặp bác sĩ đó chưa?”

Chị Thu mím chặt môi. Chị không trả lời được, và cả hai chúng tôi đều biết vì sao.

“Ba ở ngoài chòi ba tuần,” tôi nói, giọng không lớn nhưng từng chữ như đá. “Mái dột, gió lùa. Chị bưng cơm ra mỗi tối, chị thấy ba ho, thấy ba run. Chị im. Chị ngủ được sao?”

“Chị không ngủ được đêm nào,” chị Thu bật khóc, hai tay bịt miệng để không thành tiếng. “Chị tưởng chỉ là th:uốc ngủ nhẹ. Cho tới hôm ba nói đầu ba nặng, hỏi chị ba có làm gì sai không… Chị mới sợ. Chị sợ lắm.”

“Sợ cái gì?”

Chị lắc đầu, nước mắt rơi xuống mặt bàn. Chị cứ lắc đầu mãi.

“Tối thứ Năm, ai nhắn em về?” tôi hỏi, dịu hơn. “Tin nhắn từ số của chị. Chỉ có một dòng, về sớm cuối tuần này. Không giải thích gì.”

Chị Thu khép mắt lại. “Chị muốn em về. Chị không dám nói thêm.”

Tôi nhìn chị, người chị từng là cả bầu trời hồi tôi còn nhỏ, giờ gầy rộc, hai vai run lên dưới ánh đèn vàng. Tôi giận chị, đúng là tôi đang giận. Nhưng một phần trong tôi hiểu: người đã nhắn một câu như thế không phải kẻ đồng lõa hoàn toàn.

“Sáng mai em đưa ba đi bệnh viện, xét nghiệm đàng hoàng,” tôi nói. “Em giữ lại hết: cuốn sổ của ba, đống th:uốc này, bản ghi âm anh Tùng. Chị muốn đứng bên nào thì chọn trước khi trời sáng.”

Tôi đứng dậy. Sau lưng tôi, chị Thu úp mặt xuống bàn, không nói thêm lời nào.

Tám giờ sáng, sân nhà tôi đông hơn ngày thường.

Tôi đã gọi ông Bảy, trưởng xóm, người từng đứng ra đo đạc cho ruộng nhà tôi từ ngày mẹ còn sống. Tôi gọi cả ông Khải, nhờ ông đến lại để nghe cho rõ. Cha ngồi trên chiếc ghế mây, quấn chăn dày, tóc đã được chải gọn. Chị Thu đứng cạnh bàn, bế bé Bơ, mắt sưng húp. Anh Tùng bước ra từ buồng, thấy cảnh đó thì sững lại.

“Cô định làm trò gì đây?”

“Làm cho rõ,” tôi đáp.

Tôi đặt lên bàn từng thứ một: hộp sắt cùng cuốn sổ đỏ, bản hợp đồng của ông Khải, cuốn sổ học trò của cha, gói th:uốc cha cất. Rồi tôi bấm nút phát.

Giọng anh Tùng vang lên rõ từng chữ: “Ổng cứ ôm khư khư cái sổ, năn nỉ cỡ nào cũng không chịu đưa, tôi còn cách nào khác…” Tiếng mưa rào rào phía sau.

Tôi đọc to đoạn cha ghi vào đêm thứ mười bốn. Ông Bảy nghe, mặt sầm xuống. Ông Khải đứng khoanh tay, không nói một lời.

“Đây chỉ là chuyện trong nhà…” anh Tùng lên tiếng.

“Không phải chuyện trong nhà nữa, anh Tùng,” ông Bảy cắt ngang, giọng trầm. “Dấu vân tay của ông cụ không tự mọc ra trên tờ giấy. Hôm kia tôi còn thấy ông cụ nói chuyện minh mẫn ngoài ngõ.”

“Anh Tùng,” ông Khải chen vào, “tôi hỏi một câu thôi. Ba trăm năm mươi tr:iệu tôi đưa, anh dùng vào việc gì?”

Anh Tùng im lặng. Ông Bảy nhắc: “Anh nói đi.”

“Tôi trả n:ợ,” anh lí nhí. “Làm ăn thua lỗ, tôi v:ay ngoài.”

Chị Thu ngẩng phắt lên. “V:ay bao nhiêu?”

“Đủ rồi, không phải chuyện của cô!”

Cha chống tay đứng dậy, loạng choạng, nhưng giọng rất rõ: “Cha không b:án. Ruộng này mẹ các con từng gánh bùn bồi từng mảnh, cha để lại cho hai đứa con gái. Ai muốn lấy phải bước qua cha.”

Anh Tùng nhìn quanh, thấy mọi ánh mắt đều dồn về mình. Mặt anh từ đỏ sang tái, rồi bỗng chỉ tay vào chị Thu:

“Th:uốc là Thu đưa! Chữ trên gói cũng là chữ của Thu! Ba tuần nay ai bưng cơm cho ổng, ai thức đêm trông? Chuyện gì thì cô ấy chịu, tôi chỉ làm theo lời vợ!”

Cả sân lặng đi. Bé Bơ sợ hãi rúc đầu vào cổ mẹ. Tôi nhìn chị Thu, chờ chị khóc, chờ chị quỳ xuống như mọi lần. Nhưng chị không làm vậy. Chị đặt bé Bơ xuống, nhẹ nhàng đẩy con về phía tôi, rồi đứng thẳng lưng, lần đầu tiên nhìn thẳng vào chồng.

“Anh nói đúng,” chị nói, giọng khàn nhưng không run. “Chữ trên gói th:uốc là chữ em. Em không chối. Em sẽ nói hết trước mặt bác Bảy, trước mặt ba.”

Chị quay sang cha, hai đầu gối khuỵu xuống nền sân. “Con xin lỗi ba.”

Cha nhìn chị, môi run run, không nói được. Tôi thấy một giọt nước mắt lăn xuống theo nếp nhăn trên má ông.

“Nhưng anh Tùng, anh quên một chuyện,” chị Thu nói tiếp, bình thản đến lạ. “Nếu em phải chịu, thì anh cũng phải chịu. Vì những thứ anh bắt em ký, không chỉ có gói th:uốc.”

Mặt anh Tùng trắng bệch. “Thu… em nói bậy gì đó…”

Ông Bảy lập biên bản ngay tại bàn, yêu cầu anh Tùng ký nhận đã lấy ba trăm năm mươi tr:iệu của ông Khải, cam kết hoàn trả trong ba ngày. Ông Khải đồng ý dừng giao dịch, nhưng nói rõ nếu quá hạn sẽ báo công an. Anh Tùng ký, tay run đến mức mũi bút rạch rách cả tờ giấy.

Tôi đưa cha đến bệnh viện huyện ngay trong buổi sáng. Bác sĩ hỏi kỹ, cho xét nghiệm, rồi nói có dấu hiệu từng dùng th:uốc an thần kéo dài, dặn tôi giữ nguyên gói th:uốc làm bằng chứng và cho ông nghỉ ngơi đầy đủ. Tôi nắm chặt tờ kết quả, thấy từng chữ nhảy múa trước mắt. Trên đường về, tôi gọi điện xin công ty nghỉ phép một tuần. Tôi biết chuyện này chưa thể kết thúc.

Chiều hôm ấy, anh Tùng thu dọn đồ đạc. Anh xách túi ra cổng, quay lại nhìn chị Thu một lần cuối.

“Cô cứ ở lại với ông già và con em cô đi. Đừng hòng tôi quay về.”

“Anh đi đi,” chị Thu đáp. Chị không khóc.

Tiếng xe máy nổ rồi mất hút ở đầu xóm. Bé Bơ ôm chân mẹ, hỏi: “Ba đi đâu hả mẹ?” Chị Thu cúi xuống hôn lên tóc con, không trả lời.

Tối đó, tôi ngồi bên giường cha, kể ông nghe ông Khải sẽ không mua đất nữa, ruộng vẫn là của ông. Ông gật đầu, nắm tay tôi, rồi thiếp đi. Lần này là một giấc ngủ thật.

Tôi vừa khép cửa phòng thì thấy chị Thu đứng ở hành lang, trên tay là một phong bì nâu, mép giấy đã nhàu. Chị đứng đó rất lâu, như đang đấu tranh với chính mình, rồi chìa nó ra.

“Hạnh, em đừng báo công an vội. Em xem cái này trước đã.”

Tôi rút tờ giấy bên trong ra. Dưới ánh đèn hành lang, dòng chữ in đậm ở đầu trang làm tôi lạnh gáy: HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG NHÀ VÀ ĐẤT Ở. Địa chỉ ghi trên đó chính là ngôi nhà chúng tôi đang đứng. Bên dưới có hai chữ ký. Một là của anh Tùng. Chữ còn lại là của chị Thu.

“Anh ấy bắt chị ký từ tháng Sáu, bảo là giấy v:ay ngân hàng để sửa nhà,” chị Thu thì thào, mắt đỏ hoe. “Ba ra chòi không phải chỉ vì cái sổ ruộng. Anh ấy cần căn nhà này trống trước sáng thứ Hai, mà chữ ký b:án nhà… là chữ của chị.”

Tôi đọc tờ hợp đồng dưới ánh đèn hành lang, từng dòng một. Bên nhận chuyển nhượng: Nguyễn Văn Cường. Giá trị ghi trên giấy: bốn trăm tr:iệu. Ngày ký: giữa tháng Sáu. Cuối trang không có dấu xác nhận của văn phòng công chứng, chỉ có hai chữ ký bằng bút bi.

“Ông Cường là ai?” tôi hỏi.

“Chủ tiệm cầm đồ ở thị trấn. Ổng cho anh Tùng v:ay.” Chị Thu ngồi xuống chiếc ghế dài ngoài hành lang, hai tay ôm lấy đầu gối. “Không phải v:ay để làm ăn đâu Hạnh. Anh ấy c:ờ b:ạc qua điện thoại hơn hai năm nay. Chị biết từ tháng Năm, hôm thấy tin nhắn đòi n:ợ trong máy anh.”

“Nhà này đứng tên ai?”

“Tên chị. Hồi mẹ m:ất, ba sang tên cho chị để có người ở lại lo ba. Em cũng đồng ý, nhớ không?”

Tôi nhớ. Hồi đó tôi vừa lên thành phố đi làm, gật đầu ngay, chỉ mong cha có người bên cạnh. Chưa bao giờ tôi nghĩ tờ giấy ấy lại thành cái bẫy.

“Anh ấy n:ợ bao nhiêu?”

“Gần tám trăm tr:iệu. Ba sào ruộng là đường thứ nhất. Cái nhà này là đường thứ hai. Ông Cường đồng ý nhận nhà cấn n:ợ, nếu sáng thứ Hai anh Tùng giao nhà trống.”

“Sao chị không nói với em?”

Chị ngẩng lên. Mắt chị trũng sâu, quầng thâm như người đã thức nhiều đêm liền.

“Từ hôm ba nói đầu ba nặng, chị định nói. Anh ấy biết. Anh ấy bảo: em mà hé răng, anh nói với cả xóm, với công an rằng em là người cho ba uống th:uốc ngủ. Chữ em trên gói th:uốc còn đó. Rồi anh dắt con đi, em ở lại mà chịu.”

“Chị tin?”

“Lúc đó chị tin. Chị sợ mất con.” Chị cười méo mó, nước mắt lăn xuống. “Nhưng chị vẫn nhắn em về. Chị chỉ dám nhắn có một dòng thôi.”

Tôi ngồi xuống cạnh chị. Tôi giận chị, giận đến mức tay còn run. Nhưng tôi biết lúc này người chị cần không phải một lời trách.

“Chị sai ở chỗ im lặng,” tôi nói. “Nhưng chị gọi em về, nghĩa là chị chưa bỏ cuộc. Giờ chị chọn đi. Làm chứng cho em, hay để anh Tùng dắt cả chị lẫn Bơ đi tiếp con đường của anh ấy?”

Chị Thu lau mặt, đứng thẳng dậy.

“Chị làm chứng. Chị khai hết.” Chị lôi điện thoại từ túi áo, mở một album ảnh ẩn. “Hồi tháng Sáu, lúc anh ấy đi tắm, chị chụp lại tin nhắn trong máy anh. Chị giữ từ đó tới giờ, chưa biết để làm gì.”

Tôi lướt từng tấm ảnh. Tin nhắn giữa anh Tùng và một số lưu tên “Cường cầm đồ”. Tôi đọc mà lạnh sống lưng.

Chủ nhật, tôi không nghỉ phút nào.

Sáng sớm tôi gọi ông Bảy, rồi gọi ông Khải. Ông Khải im lặng nghe tôi nói hết, rồi chỉ hỏi một câu: “Cô có chứng cứ chứ?” Tôi đọc cho ông nghe vài dòng tin nhắn. Ông bảo: “Tôi qua ngay.”

Chín giờ, tôi cùng ông Bảy ngồi ở trụ sở công an xã. Anh Lực, trưởng công an xã, nghe tôi trình bày, xem bản ghi âm, đọc cuốn sổ học trò của cha, xem kết quả xét nghiệm và gói th:uốc. Anh gọi thêm một cán bộ tư pháp xã đến ngồi cùng.

“Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực,” cán bộ tư pháp nói. “Tờ giấy tay này chưa có giá trị chuyển quyền. Chưa kể chị Thu ký trong lúc bị lừa dối là hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu.”

“Còn dấu vân tay của cha em trong hợp đồng ruộng?”

“Nếu đúng là lấy lúc ông cụ bị cho dùng th:uốc an thần thì đây là hành vi nghiêm trọng, phải điều tra,” anh Lực nói, giọng chậm rãi. “Cô cứ làm đơn tố giác. Chị Thu cũng viết bản tường trình. Sáng thứ Hai, anh em chúng tôi sẽ có mặt ở nhà cô trước bảy giờ rưỡi.”

“Sao anh biết sáng thứ Hai?”

“Chính cô nói với tôi,” anh nhìn tôi, cười nhẹ. “Chị Thu nói anh Tùng đòi giao nhà trống trước sáng thứ Hai. Họ sẽ đến. Mình chờ họ.”

Chiều hôm đó, ông Khải đến nhà, tự mình đối chiếu hợp đồng với bản sao ông giữ. Ông đưa tôi sao kê ngân hàng, chỉ vào dòng chuyển khoản ba trăm năm mươi tr:iệu đến tài khoản anh Tùng.

“Tiền này anh ta chuyển tiếp đi đâu, công an sẽ biết,” ông nói. “Tôi mua ruộng đàng hoàng, tôi không muốn dính vào chuyện giấy tờ giả.”

Tối, tôi ngồi với cha dưới ánh đèn vàng trong phòng cũ. Cha đã khỏe hơn, ăn hết bát cháo, tay không còn run. Tôi kể ông nghe từng việc. Ông ngồi nghe, mặt không đổi, chỉ có đôi bàn tay đặt trên đầu gối là siết lại.

“Thằng Tùng nó bỏ th:uốc cho cha thật à?”

“Dạ. Chị Thu viết dòng chữ trên gói, nhưng th:uốc là anh Tùng mua.”

Cha im lặng rất lâu. Rồi ông nói, chậm rãi:

“Cha già rồi, không còn sức gì. Nhưng ngày mai, cha ra sân đứng cùng con. Chuyện của cha thì để cha tự nói.”

Sáu giờ rưỡi sáng thứ Hai, trời quang, nắng nhạt trải dài trên mặt ruộng. Chị Thu đã nấu xong nồi cháo từ lúc năm giờ, dọn cho cả nhà ăn. Chị mặc áo sạch, tóc buộc gọn, bé Bơ ngồi trong lòng ông ngoại.

Bảy giờ kém năm, một chiếc ô tô cũ dừng ngoài cổng. Anh Tùng bước xuống đầu tiên, tóc tai bóp nặn gọn gàng như người không phải vừa bị đuổi khỏi nhà. Theo sau là một người đàn ông trung niên, đầu hói, đeo sợi dây chuyền vàng to, và hai thanh niên mặt hầm hầm, cánh tay xăm kín.

“Nhà này của vợ tôi, vợ tôi đã ký giao cho ông Cường rồi,” anh Tùng nói to, giọng sang sảng. “Hai người dọn đồ ra, trước tám giờ.”

Tôi bước ra giữa sân, đứng chắn ngay lối vào, hai tay buông thõng. Phía sau tôi là cha, ông Bảy, ông Khải. Chị Thu đứng cạnh cha, tay ôm bé Bơ.

“Chào ông Cường,” tôi nói. “Tôi là em vợ anh Tùng. Ông cho tôi xem hợp đồng ông đang cầm.”

Ông Cường nhìn tôi từ đầu đến chân, rút từ cặp ra một tờ giấy, giơ lên. “Giấy đây, có chữ ký chủ nhà. Cô muốn xem thì xem từ xa.”

“Ông có công chứng chưa?”

“Giấy tay thì cũng là chữ ký chủ nhà!”

“Chữ ký của chị tôi bị lừa mà có,” tôi đáp. “Chị ấy được bảo đó là giấy v:ay sửa nhà. Còn đây là tin nhắn giữa ông và anh Tùng.”

Tôi giơ điện thoại lên, đọc to, không nhanh không chậm:

“Anh Tùng gửi ông ngày mười chín tháng Sáu: Vợ em ký rồi, nó tưởng giấy sửa nhà, anh yên tâm. Ông Cường trả lời: Giữ chắc thế nhé, hạn sáng thứ Hai là giao nhà trống. Anh Tùng gửi ông ngày mùng ba tháng này: Cứ để lão già ngoài chòi vài hôm, lạnh quá thì tự khắc đưa sổ. Ông trả lời: Lẹ lên, thiếu đường nào tôi cũng không bỏ.”

Sân im bặt. Mặt ông Cường từ hồng chuyển sang xám.

“Ông biết rõ anh Tùng đang lừa cả vợ lẫn cha vợ,” tôi nói tiếp. “Còn ba trăm năm mươi tr:iệu ông Khải chuyển cọc, ngay sáng hôm đó anh Tùng chuyển lại cho ông trả n:ợ c:ờ b:ạc. Ông Khải có sao kê. Tiền ấy bắt nguồn từ giấy tờ gian dối, ông cầm trong tay thì ông cũng đứng trong vụ này.”

“Tôi… tôi chỉ cho v:ay!” ông Cường quay sang anh Tùng, giọng lạc đi. “Anh bảo giấy tờ đâu vào đấy hết!”

“Ông đừng tin con bé này!” anh Tùng gắt. “Nó dựng chuyện! Thu, em nói với ông Cường là em ký tự nguyện đi!”

Chị Thu bước lên một bước, đặt bé Bơ xuống đất, nắm tay con.

“Em không tự nguyện,” chị nói rất rõ. “Anh nói đó là giấy v:ay ngân hàng sửa nhà. Anh dọa em chữ em trên gói th:uốc sẽ đưa em đi tù. Em im lặng ba tuần vì em sợ. Hôm nay em hết sợ.”

“Thu! Vì con! Em nghĩ cho con đi!” Anh Tùng chồm tới, nắm lấy cánh tay chị.

Chị Thu gỡ tay anh ra, chậm, chắc.

“Vì con nên em không để anh dắt con đi theo con đường của anh.”

Cha chống tay đứng dậy từ chiếc ghế mây. Ông không to tiếng, nhưng cả sân đều im lặng nghe.

“Thằng Tùng,” cha nói. “Mày đuổi tao ra chòi, tao ở. Mày ép tao uống th:uốc, tao nhổ. Mày bắt tao điểm chỉ khi tao mê man, tao không nhớ nhưng tao không ngu. Tao là cha vợ mày, tao đã nhịn mày nhiều rồi. Hôm nay tao không nhịn nữa.”

Anh Tùng đứng chết trân. Hai thanh niên xăm trổ nhìn nhau, rồi lùi dần ra phía cổng.

Đúng bảy giờ rưỡi, chiếc xe máy của anh Lực dừng ngoài cổng, theo sau là một cán bộ công an huyện. Anh Lực bước vào sân, ra hiệu ngắn gọn:

“Anh Tùng, mời anh về trụ sở làm việc. Còn ông Cường, ông cũng đi cùng. Chúng tôi cần ghi lời khai.”

“Tôi không đi đâu hết!” anh Tùng rít lên, lùi lại.

Nhưng không còn đường lui. Ông Cường đã quay lưng bước ra xe, mặt cúi gằm. Hai thanh niên biến mất từ lúc nào. Anh Tùng bị hai cán bộ kẹp hai bên, lúc đi ngang qua tôi anh nghiến răng:

“Hạnh, cô giỏi lắm. Cô chờ đấy.”

“Tôi không chờ,” tôi đáp. “Tôi đã chờ ba tuần rồi, giờ đến lượt anh.”

Buổi chiều hôm ấy, anh Lực gọi tôi và chị Thu lên đồn, báo lại những gì Tùng đã khai.

Ban đầu anh Tùng chối bay. Nhưng khi nghe bản ghi âm, thấy tin nhắn, thấy cuốn sổ của cha và kết quả xét nghiệm, anh bắt đầu sụp. Anh khai rằng anh mua th:uốc an thần không đơn ở một tiệm th:uốc quen ngoài thị trấn, trộn vào ly nước và vào cơm tối của cha vợ từ đầu tháng Tám.

Rồi anh khai tiếp điều làm tôi sững người: chuyện cái nồi cháy hồi đầu tháng, chuyện cha đi lang thang giữa đêm chân trần, đều do anh dựng. Anh cho cha uống th:uốc rồi tự bật bếp đặt nồi lên, dắt cha ra ngõ lúc nửa đêm, để hôm sau có thể nói với cả nhà, cả xóm rằng ông cụ lẫn.

“Để sau này nếu ai hỏi vì sao có dấu tay ông cụ trên hợp đồng, anh ta sẽ bảo ổng lú, tự điểm chỉ rồi quên,” anh Lực nói. “Cô thấy không, ngay từ đầu anh ta đã tính đường lui.”

Tôi nghe mà thấy lạnh người. Người đàn ông ngồi ăn cơm cùng cha tôi bao nhiêu năm, gọi ông là ba, hóa ra lại tính toán tỉ mỉ đến như vậy.

Chị Thu ngồi cạnh tôi, mặt trắng bệch, tay siết lại. “Chị chưa từng nghĩ anh ấy làm đến mức này,” chị thì thào. “Chị nghĩ ba lẫn thật, chị nghĩ chị chỉ ký giấy v:ay. Chị dại, nhưng chị không biết anh ấy tàn nhẫn tới vậy.”

“Giờ chị biết rồi,” tôi nói. “Chị ở lại làm chứng, đó là việc chị nên làm.”

Hai tuần sau, chuyện lan khắp xóm. Anh Tùng bị khởi tố vì hành vi làm giả giấy tờ để chiếm đoạt tài sản, cùng với hành vi cho người cao tuổi dùng th:uốc trái phép. Nhiều tháng sau, tòa tuyên anh mức án tù giam. Ông Cường làm việc với cơ quan điều tra, phải hoàn lại phần lớn ba trăm năm mươi tr:iệu lấy từ đường dây này. Khoản tiền còn thiếu, chị Thu nhận trả dần cho ông Khải bằng tiền công may gia công tại nhà, dù ông Khải nhiều lần bảo chị không có nghĩa vụ.

“Chị không nợ ông,” ông Khải nói. “Tôi cũng không muốn người đàn bà một mình nuôi con phải gồng thêm.”

“Tôi nợ cha tôi, nợ em tôi, nợ ông,” chị Thu đáp. “Trả được đồng nào thì nhẹ lòng đồng ấy.”

Ông Khải im lặng một lát rồi gật đầu, bắt tay cha tôi xin lỗi vì suýt trở thành người mua đất bằng giấy tờ giả. Cha tôi cười, bảo ông không có lỗi gì.

Chị Thu nộp đơn ly hôn. Anh Tùng không ký, nhưng với bản án đang chờ, tòa vẫn giải quyết theo yêu cầu của chị. Bé Bơ ở lại với mẹ. Trước khi dắt con về nhà sau phiên tòa, chị quỳ xuống trước cha tôi lần nữa.

“Ba, con xin lỗi.”

Cha đỡ chị đứng dậy, vuốt tóc chị như vuốt tóc đứa trẻ.

“Cha giận con vì ba tuần con im lặng,” cha nói. “Nhưng cha thương con vì con đã gọi em con về, và hôm đó con đứng thẳng lưng trước mặt chồng. Lỗi thì con nhận rồi, từ nay đừng im lặng nữa. Có chuyện gì thì nói với cha, nói với em.”

“Dạ, con không im nữa,” chị nghẹn ngào.

Tôi xin công ty cho làm việc từ xa ba ngày một tuần, hai ngày còn lại tôi về nhà. Cả nhà thống nhất ra văn phòng công chứng lập văn bản, đàng hoàng, có ông Bảy chứng kiến: ba sào ruộng đầu xóm và hai sào khai hoang chia đều cho hai chị em, cha giữ quyền canh tác và quyết định mọi việc cho đến khi nhắm mắt. Căn nhà vẫn đứng tên chị Thu, nhưng trong văn bản có ghi rõ phòng của cha là phòng riêng của ông, không ai được thay đổi.

Chị Thu bỏ tiền sửa lại căn phòng cũ cho rộng rãi, thay mái, lắp thêm cửa sổ hướng ra ruộng, đặt thêm một chiếc giường nhỏ cạnh giường cha cho bé Bơ.

Một buổi chiều cuối thu, tôi về nhà sớm. Ngoài sân, cha ngồi trên chiếc ghế mây, bé Bơ ngồi bệt dưới chân ông, tay cầm quyển vở tập đánh vần. Cha chỉ từng chữ, kiên nhẫn đọc cho cháu nghe.

“Ông ngoại ơi, chữ này đọc là gì?”

“Là chữ nhà. N-h-à, nhà.”

“Nhà là chỗ ông ngoại ở với con ạ?”

“Ừ, nhà là chỗ ai cũng được ở.” Cha cười, vuốt tóc cháu. “Chỗ nào còn chỗ cho người thương nhau thì không bao giờ chật.”

Tôi đứng ở cổng nhìn hai ông cháu, thấy khóe mắt cay xè.

Cái chòi ngoài ruộng giờ không ai ngủ đêm trong đó nữa. Chị Thu thuê thợ lợp lại mái, đóng thêm chiếc ghế dài bên trong. Chiều chiều, cha ra đó ngồi một lúc, ngắm lúa chín vàng, nghe bé Bơ thả diều ngoài bờ ruộng cười khúc khích.

Từ ngày đó, không ai trong nhà còn nghe câu già rồi lẩm cẩm, ở trong nhà chỉ chật chỗ. Mà nếu có ai lỡ nhắc lại, thì tôi chỉ cần chỉ vào gian phòng nhỏ ấm áp có ánh nắng hắt qua cửa sổ, nơi cha tôi đang ngồi đọc sách cho cháu nghe, để họ biết nhà này chưa từng chật vì một người già.

-HẾT-