CHA TÔI NẰM V:IỆN MƯỜI BẢY NGÀY, BA ANH CHỊ CẢ KHÔNG AI THAY TÔI TRỰC ĐÊM. ĐẾN NGÀY ÔNG M:ẤT, ANH CẢ ĐỨNG RA LO Đ:ÁM TANG RỒI Đ:ÒI MỖI NHÀ GÓP BA MƯƠI TR:IỆU CHO “Đ:ÁM TANG NỞ MÀY NỞ M:ẶT”. TÔI LÀM CÔNG NHÂN, CHỈ GỬI ĐƯỢC NĂM TR:IỆU, ANH LIỀN CHỈ VÀO M:ẶT TÔI TRƯỚC BÀ CON: “BỐ NUÔI MÀY BẰNG NGẦN ẤY NĂM, GIỜ ĐẾN LÚC LO CHO ÔNG THÌ MÀY TÍNH TOÁN TỪNG ĐỒNG!” TÔI KHÔNG C:ÃI, CHỈ LẶNG LẼ Đ:ẶT TÚI TH:UỐC VÀ GIẤY V:IỆN PHÍ MƯỜI BẢY NGÀY LÊN BÀN… (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Anh Hải không đọc thành tiếng. Môi anh mấp máy, mắt trượt đi trượt lại trên một dòng chữ in nhỏ ở cuối trang. Rồi anh chộp lấy tờ giấy trên cùng, vo tròn trong lòng bàn tay.
“Giấy má gì đây? B:ệnh v:iện nó ghi bậy ghi bạ, mày đem ra dọa ai!”
Tôi không giằng lại. Tôi chỉ nói, giọng không to nhưng cả sân nghe rõ:
“Anh vo đi. Em photo hai bản rồi. Một bản em gửi chị Mai ở phòng tài chính giữ.”
Tay anh khựng lại giữa không trung.
Tôi nhìn một vòng quanh sân. Mấy chục cặp m:ắt đang dán vào tôi, nửa nghi ngờ, nửa tò mò. Tôi biết hôm nay mình chỉ có một cơ hội để nói, nên tôi nói thật chậm.
“Đêm đầu tiên cha nhập v:iện, chị thu ngân hỏi ai đứng tên chịu trách nhiệm v:iện phí. Em nói anh cả. Họ gọi đ:iện cho anh. Anh nghe máy, anh nói: ‘Tôi là con trai cả, cứ để em tôi lo trước, cuối tháng tôi thanh toán’. Họ ghi đúng như thế. Dòng người thanh toán là tên anh, anh Hai.”
Dì Tư, em gái ruột của cha, bước lên cầm xấp giấy còn lại trên bàn. Dì đeo kính lão, đọc từng dòng, môi mím ch:ặt. Rồi dì đọc to:
“Người thanh toán: Trần Văn Hải. Xác nhận qua đ:iện thoại, cam kết thanh toán cuối tháng. Ghi chú phòng tài chính: đã nhắc bốn lần, chưa nhận được t:iền. Người nộp thay: Trần Thị Thu.”
Cái sân im đến mức nghe rõ tiếng nhang cháy lách tách.
Chị Lan lên tiếng trước, giọng cao hơn bình thường:
“Hóa đơn thì ai chẳng in được. Út, em đem mấy tờ giấy ra làm màu giữa đ:ám tang cha là sao?”
Anh Tuấn không nói gì. Anh cầm một tờ phiếu tạm ứng lên, nhìn rất lâu. Ngón tay cái của anh run run trên con số cuối cùng.
Tôi nói tiếp, không nhìn ai cả:
“Tổng cộng năm mươi tám tr:iệu ba trăm nghìn. Bảo hiểm trả phần của bảo hiểm rồi, đây là phần mình phải đóng cộng th:uốc ngoài. Em n:ợ đồng nghiệp bốn mươi tr:iệu. Hôm nay em không đòi gì hết, em chỉ muốn anh chị biết vì sao em chỉ có năm tr:iệu.”
Anh Hải bật c:ười, một tiếng c:ười khô khốc. Anh quay sang bà con, xòe hai tay ra như người bị oan.
“Bà con nghe chưa! Nó dựng chuyện đấy! Ba tôi có lương hưu, có sổ có sách. Nó ở sát bên ông cụ mười bảy ngày, muốn làm gì mà chẳng được? Nó xin nghỉ không lương chầu chực bên giường b:ệnh để làm gì? Giờ ông cụ m:ất rồi, nó đẻ ra một đống hóa đơn để che đi chỗ t:iền nó đã vơ!”
Phía sau có người đàn bà thì thào:
“Ừ… nghe cũng có lý đấy.”
Câu ấy chui vào tai tôi như một cây kim. Mười bảy đêm nằm chiếu ngoài hành lang, bốn mươi tr:iệu đi vay từng người, giờ thành kẻ vơ vét. Tay tôi lạnh ngắt. Nhưng trong đầu tôi lại vang lên giọng cha, yếu ớt mà rõ ràng:
“Đừng đưa cho ai, trừ khi người ta nói oan cho con.”
Tôi mở ba lô, lấy ra cái túi vải nâu.
Nó cũ sờn, miệng túi buộc dây gút ba nút. Suốt mười bảy ngày tôi chưa một lần mở nó, có hôm đêm khuya ngồi một mình tôi nhìn nó rất lâu rồi lại thôi, vì cha dặn giữ kỹ. Tôi đ:ặt nó lên bàn thờ phụ, ngay dưới di ảnh của cha.
Và tôi thấy một điều lạ. Anh Hải nhìn cái túi không phải như nhìn một món đồ cũ. Anh nhìn nó như nhìn thứ anh đã tìm rất lâu rồi. Nụ c:ười trên m:ặt anh biến mất, anh bước tới một bước.
“Đưa đây. Đồ của cha thì để anh giữ.”
“Cha dặn đừng đưa cho ai,” tôi đáp, tay giữ ch:ặt miệng túi. “Em mở ngay trước m:ặt bà con. Dì Tư, ông Sáu, hai người xem giúp con dây này còn nguyên không.”
Ông Sáu, bạn thân của cha hơn bốn mươi năm, chống gậy bước lên. Ông cúi xem ba cái nút, rồi gật đầu.
“Nút này ông Bảo tự buộc, tôi nhận ra. Còn nguyên. Cháu mở đi.”
Tôi cởi từng nút. Tiếng dây sột soạt nghe rõ mồn một giữa sân.
Thứ đầu tiên là một phong bì trắng đã ngả vàng, nét chữ cha nguệch ngoạc ngoài bìa: “Gửi các con”. Tôi mở ra. Tay tôi run, nhưng tôi đọc, vì cha đã viết nó cho giây phút này.
“Gửi ba đứa lớn và đứa út. Nếu thư này được mở ra giữa sân, nghĩa là đang có đứa nói oan cho Thu. Cha viết thư này trong b:ệnh v:iện. Cha già chứ không lú. Cha đếm đứa nào vào, đứa nào không. Đứa út không bao giờ phải gọi.”
Tôi dừng lại. Cổ họng tôi nghẹn cứng. Dì Tư đưa tay lau m:ắt. Tôi hít một hơi, đọc tiếp:
“Ba đứa lớn đã nhận phần của mình từ ba năm trước, giấy tờ cha để trong túi này. Sổ t:iết kiệm hai trăm tr:iệu là của út, vì út không có phần nào khác. Cha xin lỗi con, Thu. Cha thử các con, và cha thua.”
Tôi không đọc nổi nữa. Tôi gấp thư lại, đặt xuống bàn.
Cả sân không ai nói gì. Chị Lan đứng cứng như tượng.
Dì Tư lấy từ trong túi ra ba tờ giấy kẹp ghim, mỗi tờ có một dấu tay đỏ ở góc. Dì đọc tờ đầu tiên, chậm rãi, từng chữ rõ ràng:
“Tôi, Trần Văn Hải, nhận của cha tôi là ông Trần Văn Bảo sáu trăm tr:iệu từ t:iền b:án mảnh vườn, làm vốn làm ăn, và có trách nhiệm cùng các em lo th:uốc men, hậu sự cho cha. Người làm chứng: Lê Văn Sáu.”
Dì đọc tờ thứ hai, của chị Lan, ba trăm tr:iệu. Tờ thứ ba, của anh Tuấn, hai trăm tr:iệu. Cả ba đều có đúng một câu về trách nhiệm lo th:uốc men, hậu sự cho cha.
“Một t:ỷ một,” dì Tư nói, giọng run lên. “Còn con Thu thì không có lấy một đồng.”
Ông Sáu thở dài, chống gậy xuống nền gạch.
“Tôi làm chứng. Hôm đó ngồi ở bàn trà nhà ông Bảo. Ông bảo, con út nó đi làm có lương, cho thì nó cũng không nhận. Ba đứa kia cần vốn thì ông cho. Ông còn nói thêm một câu: nhận t:iền thì phải lo cho ông lúc ông già.”
Không khí trong sân đổi hẳn. Những ánh m:ắt vừa nãy còn nhìn tôi nghi ngờ giờ quay hết sang phía anh Hải. Bà đàn bà vừa bảo “nghe cũng có lý” cúi gằm xuống. Chị Lan nhìn đi chỗ khác. Anh Tuấn cắn môi, hai tai đỏ bừng.
Anh Hải vẫn chưa chịu thua. Anh gân cổ lên:
“Đấy là chuyện trong nhà! Cha cho t:iền thì cho, còn đ:ám tang thì tôi lo bằng t:iền của tôi, ai m:ượn bà con xen vào!”
“T:iền của anh?” Tôi nhìn thẳng vào anh. “Anh đã nhận sáu trăm tr:iệu để lo cho cha. Vậy sao anh còn thu ba mươi tr:iệu của mỗi nhà, còn bảo em ‘tính toán từng đồng’? Mười bảy ngày anh lo được đồng nào?”
Anh nghẹn lại, quai hàm bạnh ra.
Tôi lấy tiếp trong túi: một cuốn sổ t:iết kiệm, hai trăm tr:iệu, đứng tên cha, mở từ hai năm trước. Anh Hải liếc qua, giọng chua chát:
“Thấy chưa! Con út khôn lắm, giấu cả cái sổ!”
“Em chưa mở túi này một lần nào,” tôi nói. “Dì Tư với ông Sáu vừa kiểm dây rồi. Nếu em muốn dùng cái sổ này, em đâu phải đi vay đồng nghiệp bốn mươi tr:iệu?”
Có người trong đám đông gật đầu. Một bác lớn tuổi nói to:
“Đúng rồi. Có sổ trong tay mà đi vay, ai dại thế!”
Thứ tiếp theo là một bản hợp đồng in màu, logo Dịch vụ tang lễ Phúc An. Tôi đọc lướt, rồi đọc lại. Đây là gói tang lễ trọn gói: áo quan, xe tang, rạp, hoa, nhóm nhạc, mâm cúng, đã thanh toán đủ tám mươi lăm tr:iệu từ hai tháng trước. Mục “Người đại diện làm thủ tục khi cần” ghi rõ: Trần Thị Thu.
Tôi nghe tim mình đập thình thịch. Cha đã chuẩn bị đ:ám tang của chính mình từ lâu, và ông chọn tôi.
Tôi lấy đ:iện thoại, bấm số hotline in trên hợp đồng, bật loa ngoài. Chuông đổ hai hồi thì có người bắt máy. Tôi nói tên cha, nói số hợp đồng. Đầu dây bên kia lật giấy sột soạt, rồi giọng một cô nhân viên vang lên cả sân:
“Dạ chị, hợp đồng của bác Bảo bên em đã thanh toán đủ. Sáu giờ sáng mai đội bên em sẽ có mặt tại nhà, đầy đủ rạp, nhạc, áo quan, xe tang. Chị chỉ cần ký nhận thôi ạ. Em xin chia buồn cùng gia đình.”
Tôi cúp máy. Anh Hải đứng im, hai tay buông thõng. Những cái rạp, dàn kèn, mâm cỗ anh dựng suốt buổi sáng nay, chẳng còn là bằng chứng của lòng hiếu thảo. Chúng giống như một vở diễn đã bị lộ hậu trường.
Cuối cùng, ở đáy túi, tôi lôi ra một cuốn bìa đỏ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đứng tên ông Trần Văn Bảo. Chính mảnh đất nhà cũ chúng tôi đang đứng.
Tôi không để ý tới nó lâu. Nhưng tôi để ý anh Hải. Anh nhìn cuốn bìa đỏ lâu hơn nhìn mọi thứ khác, kể cả cuốn sổ hai trăm tr:iệu. Mắt anh đảo qua đảo lại như người sắp mất thăng bằng.
Rồi anh nổ tung.
“Tao nuôi ba bao nhiêu năm! Tụi mày biết cái gì mà nói! Sáu trăm tr:iệu đó tao đổ hết vào công trình, công trình đứng, tao n:ợ người ta cả đống! Tao đâu còn đồng nào mà lo!”
Hồi đó anh vẫn gọi tôi là “con bé”, giờ anh gọi “mày”, giờ lại hét lên như thể tôi là người có lỗi. Chị Lan quay phắt sang anh, giọng chói lên:
“Vậy anh thu ba mươi tr:iệu của mỗi nhà làm gì? Anh định lấy t:iền chúng tôi trả n:ợ cho anh à?”
“Chị im đi!” anh Hải gầm lên. “Chị cũng nhận ba trăm tr:iệu, chị lo cho cha đồng nào?”
Hai người cãi nhau ngay trước bàn thờ cha, trước mặt cả họ hàng. Tôi đứng giữa, không thấy hả hê. Tôi chỉ thấy mệt, mệt đến tận xương.
Dì Tư đập cây quạt giấy xuống bàn:
“Đủ rồi! Cha chúng mày chưa lạnh mà chúng mày cãi nhau thế này à!”
Cả sân lại im.
Tôi hít một hơi thật sâu. Đây là lúc tôi phải nói. Tôi không khóc, không gào. Tôi chỉ nói những gì mình đã nghĩ suốt mười bảy đêm trên chiếc chiếu ngoài hành lang.
“Em có ba điều. Thứ nhất, đ:ám tang cha làm theo hợp đồng Phúc An, cha đã trả rồi, không ai phải góp ba mươi tr:iệu. Rạp, kèn anh Hai đã thuê, em xin trả lại hết, ai thuê thì người đó chịu.”
Anh Hải mở miệng định nói, nhưng tôi nói tiếp:
“Thứ hai, hộp phúng viếng của bà con để ở cổng. Em nhờ ông Sáu với dì Tư giữ, ghi sổ công khai từng người từng khoản, sau lễ đưa tiễn mở ra trước mặt cả họ.”
Ông Sáu gật đầu ngay:
“Được. Tôi với dì Tư giữ.”
Tôi nhìn anh Hải thật lâu khi nói điều cuối cùng:
“Thứ ba, v:iện phí và th:uốc là trách nhiệm của ba anh chị theo đúng giấy cha để lại. Năm mươi tám tr:iệu ba trăm nghìn chia ba, mỗi người mười chín tr:iệu bốn trăm nghìn. Em không đòi lãi, không đòi thêm. Em chỉ đòi lại đúng số em đã n:ợ người khác.”
Anh Tuấn là người đầu tiên động đậy. Anh móc đ:iện thoại ra, mở ứng dụng ngân hàng, ngón tay lướt nhanh trên màn hình.
“Em đưa số tài khoản anh chuyển liền,” anh nói, giọng khàn đặc. “Anh xin lỗi út. Anh… anh xấu hổ quá.”
Tôi đọc số tài khoản. Chừng một phút sau, đ:iện thoại tôi rung lên: mười chín tr:iệu bốn trăm nghìn. Tôi nhìn con số mà thấy mắt cay xè, không phải vì t:iền, mà vì người anh ba của tôi đến giờ này mới dám nhìn thẳng vào mắt tôi.
Chị Lan cắn môi rất lâu. Chị chép miệng, giọng vẫn còn cứng:
“Chị chuyển. Nhưng chị nói thật, giờ ngồi đây chị cũng không còn cái gì là của mình.”
Chị chuyển mười chín tr:iệu bốn trăm nghìn xong thì đi thẳng vào nhà, không nhìn tôi.
Còn anh Hải, anh đứng đó, m:ặt xám ngoét như tro. Anh nhìn bà con, nhìn dì Tư, nhìn tấm di ảnh của cha. Cuối cùng anh nhổ ra một câu:
“Mai. Mai tao đưa.”
Rồi anh quay lưng bỏ đi ra đầu ngõ.
Đêm đó, tôi ngồi một mình cạnh bàn thờ, thắp thêm nén nhang. Khách khứa đã vãn dần. Dì Tư đắp cho tôi tấm chăn mỏng, vỗ nhẹ vai tôi.
“Con làm đúng rồi, Thu. Cha con ở trên kia thấy hết.”
Tôi gật đầu, mắt vẫn nhìn tấm di ảnh. Tôi nhớ bàn tay cha nắm ch:ặt tay tôi trong b:ệnh v:iện, nhớ câu “Mấy anh chị con đâu?”. Lần đầu tiên sau mười bảy ngày, tôi để nước mắt rơi xuống. Không phải vì tủi. Mà vì cha đã biết hết, và ông không hề hỏi thêm một lần nào nữa.
Khoảng mười một giờ đêm, ánh đèn pha quét ngang cổng nhà. Một chiếc xe đen dừng lại. Một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi, mặc sơ mi trắng, cầm cặp tài liệu bước vào sân. Anh ta không chào ai, mắt quét một vòng quanh rạp rồi dừng lại ở tôi.
“Cho hỏi anh Hải đâu? Tôi là Phát. Hẹn mai anh ấy giao cuốn bìa đỏ gốc, tôi chốt nhận nhà.”
Tim tôi thắt lại.
“Nhận nhà nào?”
Anh ta rút từ trong cặp ra một tập giấy, chìa về phía tôi, giọng đều đều như đang nói chuyện làm ăn:
“Căn nhà này. Anh Hải ký thỏa thuận chuyển nhượng với tôi tuần trước, tôi đã đ:ặt cọc bốn trăm tr:iệu. Có điểm chỉ của ông Trần Văn Bảo, ngày thứ chín ông nằm v:iện, có người làm chứng ký bên dưới. Cô xem đi, tên người làm chứng là Trần Văn Tuấn.”
Tôi cúi xuống. Dưới dấu tay đỏ của cha là một chữ ký tôi đã nhìn thấy cả ngàn lần trong đời, nét sổ ngược quen thuộc của người anh thứ ba.
Tôi chợt nhớ ngày thứ chín. Tôi ra căn tin mua cháo cho cha, lúc quay lại, anh Tuấn đang đứng ở cửa phòng, tay cầm một tờ giấy, nhìn đồng hồ lần thứ ba, rồi vội vã chào ra về.
Tôi quay đầu lại. Anh Tuấn đứng sau cột nhà, mặt trắng bệch, cái đ:iện thoại tuột khỏi tay rơi xuống nền gạch.
Anh Tuấn không cúi xuống nhặt cái đ:iện thoại. Anh đứng đó, hai bàn tay buông thõng, môi mấp máy mà không ra tiếng. Màn hình nứt một đường dài từ góc này sang góc kia, vẫn còn sáng.
“Út…” Cuối cùng anh cũng thốt ra được. “Anh ký thật. Nhưng anh không biết đó là giấy bán nhà.”
Anh Phát đứng giữa sân, cặp tài liệu kẹp dưới nách, mặt không biến sắc.
“Anh chị nói cho rõ,” anh ta nói. “Tôi bỏ bốn trăm tr:iệu ra, không phải để đứng xem gia đình người ta cãi nhau.”
Dì Tư và ông Sáu đã đứng cạnh tôi từ lúc nào. Dì Tư nhìn anh Tuấn, giọng không to nhưng nặng như đá:
“Tuấn, mày nói. Nói hết. Trước bàn thờ cha mày.”
Anh Tuấn bước tới, quỳ sụp xuống ngay trước bàn thờ. Không ai ngờ. Anh chống tay xuống nền gạch, vai run lên từng đợt.
“Hôm ngày thứ chín, anh Hai gọi anh vào viện. Anh vào, thấy cha nằm thở oxy, mắt nhắm. Y tá vừa tiêm th:uốc an thần cho cha vì cha khó thở cả buổi sáng. Anh Hai bảo: ‘Giấy tờ bảo hiểm với giấy ủy quyền thanh toán, cha phải điểm chỉ. Chú ký làm chứng giùm anh.’ Anh không đọc kỹ. Anh Hai cầm tay cha, ấn ngón cái cha vào hộp mực, rồi ấn lên giấy.”
Tôi nghe tiếng mình thở ra. Cha tôi, người cả đời chưa từng ký thứ gì khi chưa đọc ba lần, đã bị người ta cầm tay ấn xuống một tờ giấy khi đang mê man.
“Rồi sao anh biết đó là giấy gì?” tôi hỏi.
“Anh biết ngay hôm đó.” Anh Tuấn ngẩng lên, mắt đỏ ngầu. “Anh Hai cầm tờ giấy đi ra hành lang, anh nhìn thấy dòng chữ đầu tiên, hai chữ ‘chuyển nhượng’. Anh hỏi, anh Hai bảo cha đã đồng ý từ lâu, chỉ chờ điểm chỉ cho đủ thủ tục. Anh Hai nói bán xong chia cho anh một trăm tr:iệu để trả n:ợ xe. Anh đang n:ợ ngân hàng gần hai trăm tr:iệu, út ơi.”
“Nên anh im lặng,” tôi nói.
“Anh im lặng.” Anh gật đầu, mặt úp xuống nền. “Anh là thằng hèn.”
Chị Lan từ trong nhà đã bước ra tự lúc nào. Chị đứng ở bậc cửa, tay bám khung cửa, không nói gì. Tôi nhìn chị, chị tránh ánh mắt tôi.
Anh Tuấn run run nhặt cái đ:iện thoại nứt màn hình lên, mở khóa.
“Nhưng anh sợ. Anh sợ anh Hai ký xong rồi đổ hết lên đầu anh. Chiều hôm đó, ở hành lang bệnh viện, anh đã bật ghi âm trước khi anh Hai nói chuyện với anh.”
Cả sân như nín thở.
Anh Tuấn đưa đ:iện thoại cho ông Sáu. Ông Sáu đeo kính, nheo mắt, bấm vào tệp ghi âm duy nhất trong máy, rồi đặt nó lên bàn, ngay cạnh di ảnh cha.
Tiếng quạt trần, tiếng loa gọi số, rồi giọng anh Hải vang lên, thấp, gấp, không lẫn vào đâu được:
“Ông già mê rồi, có tỉnh cũng chẳng nhớ gì. Anh cầm tay ông điểm chỉ, chú ký bên dưới là xong. Con Thu mà biết thì cả nhà này không bán được. Có tiền anh trả hết nợ vật liệu, dư ra chia chú một trăm.”
Đoạn ghi âm dừng ở đó.
Anh Phát đứng chết trân. Anh ta không nhìn tôi, cũng không nhìn anh Tuấn. Anh ta nhìn cái điện thoại như nhìn một quả mìn vừa được gỡ ngòi.
“Tôi cần nghe lại đoạn đó,” anh ta nói khẽ. “Và tôi cần bản sao.”
“Anh sẽ có,” tôi đáp. “Nhưng trước tiên, anh Phát, anh chưa nhận được cuốn bìa đỏ gốc, đúng không?”
“Anh Hải hẹn mai giao. Anh ấy nói giấy tờ gốc cha anh ấy cất trong một cái túi, anh ấy đang tìm.”
Tôi cầm cuốn bìa đỏ lên, đặt vào lòng bàn tay anh ta cho anh ta thấy bìa, thấy tên cha tôi.
“Nó nằm trong túi này suốt mười bảy ngày. Anh Hai không có, và sẽ không bao giờ có.”
Tôi nghe giọng mình chắc nịch, chắc đến lạ. Mười bảy đêm trước, tôi không nghĩ mình nói được những câu như thế.
“Tôi không muốn đưa chuyện này ra tòa với một gia đình đang có tang,” anh Phát nói sau một lúc im lặng. “Nhưng tôi muốn lấy lại bốn trăm tr:iệu của tôi. Sáng mai, tôi quay lại.”
Anh ta quay đi. Chiếc xe đen lùi ra khỏi ngõ, ánh đèn pha quét qua hàng cau trước nhà rồi tắt.
**
Đêm đó tôi không ngủ. Dì Tư ngồi cùng tôi đến gần sáng. Anh Tuấn không về, anh ngồi ở bậc thềm ngoài sân, cái đ:iện thoại nứt màn hình đặt cạnh chân. Chị Lan cũng không về. Khoảng ba giờ, chị lặng lẽ bước ra, ngồi xuống bên cạnh tôi trước bàn thờ.
“Út.” Giọng chị khàn. “Chị có chuyện phải nói.”
Tôi quay sang nhìn chị, không đáp.
“Ba trăm tr:iệu cha cho, chị đưa hết cho anh Hai rồi. Hồi đầu năm anh ấy nói công trình sắp nghiệm thu, cho vay ngắn hạn, cuối năm trả cả gốc lẫn lãi. Chị tin. Chồng chị cũng không biết. Cho nên hôm nay nghe anh ấy đòi mỗi nhà ba mươi tr:iệu, chị gật đầu ngay, vì chị sợ nếu cãi anh ấy, anh ấy sẽ không trả lại tiền cho chị.”
“Chị còn nói em keo kiệt,” tôi đáp, không hẳn là trách.
“Chị xấu hổ,” chị Lan nói, rồi chị khóc, lần đầu tiên tôi thấy chị khóc kể từ ngày mẹ mất. “Chị cũng tưởng cha cho anh Hai nhiều nhất, cho nên cha thương anh Hai nhất. Hóa ra cha cho tụi chị tiền, còn cho em cái khác.”
Tôi không biết phải nói gì. Tôi chỉ đặt tay lên vai chị. Chị giật mình, rồi úp mặt vào lòng bàn tay.
**
Sáu giờ sáng, xe của dịch vụ tang lễ Phúc An vào ngõ. Hai chiếc xe tải, một xe sáu chỗ, mười mấy người mặc đồng phục xám. Người trưởng nhóm là một chị trạc năm mươi, đến chào dì Tư trước, rồi chào tôi:
“Chị Thu phải không ạ? Bác Bảo dặn kỹ là mọi thứ chị chỉ cần ký nhận, còn lại bên em lo hết.”
Tôi ký. Đội của chị làm việc nhanh gọn, tháo cái rạp cũ anh Hải dựng, dựng lại cái rạp mới. Ông Sáu và dì Tư trông coi hộp phúng viếng, mọi người dần dần đến đông. Bà con trong họ lần lượt kéo vào, ai cũng nhìn tôi khác hẳn hôm qua. Có người nắm tay tôi, có người im lặng đặt bó nhang vào tay tôi rồi đi.
Bảy giờ, anh Hải về.
Anh đi bộ vào ngõ, áo sơ mi nhàu, mắt thâm quầng, nồng nặc mùi rượu. Anh đứng sững ở cổng, nhìn rạp mới, nhìn người của Phúc An, nhìn chiếc áo quan phủ vải trắng đặt chính giữa nhà. Rồi anh thấy anh Phát đang ngồi ở bàn nước trong sân, đối diện anh Tuấn, hai người nói chuyện rất khẽ. Tờ thỏa thuận đặt giữa bàn.
Mặt anh Hải thay đổi.
“Mày…” anh chỉ vào anh Tuấn, giọng rít lên. “Mày nói cái gì với người ta?”
“Em nói sự thật,” anh Tuấn đứng dậy. Lần đầu tiên tôi thấy anh đứng thẳng với anh Hải. “Anh Hai, em có ghi âm.”
Anh Hải khựng lại một giây. Rồi anh lao tới, vung tay định đ:ánh. Dì Tư hét lên. Hai chú trong họ chạy tới giữ chặt anh từ phía sau, cánh tay anh vẫn vung vẩy giữa không trung, mặt đỏ gay.
“Thả tao ra! Thằng phản bội! Tao cho mày một trăm tr:iệu, tao lo cho mày từng việc, mày dám quay lại cắn tao!”
“Anh lo cho em kiểu gì?” anh Tuấn hét lại, mắt rưng rưng. “Anh dắt em đi ký giấy bán nhà cha khi cha còn thở oxy! Anh biết cha tỉnh dậy hỏi mấy anh chị đâu, Thu trả lời là bận việc, anh biết không?”
Cái sân im bặt. Nhiều người đã nghe câu đó hôm qua, nhưng chưa ai nghe nó từ miệng anh Tuấn.
Tôi bước tới. Tôi không biết mình sẽ nói gì, chỉ biết mình không thể đứng sau lưng người khác thêm lần nào nữa.
“Anh Hai,” tôi nói, “em cho anh một cơ hội. Anh nói với bà con, anh tự nói: cái bản thỏa thuận chuyển nhượng căn nhà này, anh có ký không?”
“Ký thì sao?” Anh gân cổ. “Nhà của cha tao, tao là con trai trưởng, tao có quyền! Mày là con gái út, lấy chồng là con người ta, phần nào đến lượt mày?”
“Em chưa lấy chồng, anh Hai.”
Ai đó trong đám đông bật c:ười khẽ, rồi tắt ngay. Anh Hải đỏ bừng mặt.
Ông Sáu bước lên. Ông chống gậy xuống nền gạch ba nhịp, như người đang mở một phiên họp. Trong tay ông là một phong bì giấy dày, dấu mộc đỏ ở góc.
“Hải,” ông gọi, “tao hỏi mày. Hai tháng trước, mày nghe tin gì về việc cha mày đi công chứng chưa?”
Anh Hải im lặng. Tôi cũng đứng sững. Phong bì này không có trong cái túi vải nâu.
“Hai tháng trước, ông Bảo nhờ tôi chở lên phòng công chứng ở phường,” ông Sáu quay sang bà con, giọng đều và rõ. “Hôm đó ông ký hai thứ. Một là hợp đồng gói tang lễ với Phúc An. Hai là di chúc. Tôi là người làm chứng thứ hai, còn người làm chứng thứ nhất là cô công chứng viên. Ông dặn: sau khi ông nhắm mắt và chôn cất xong thì mới mở. Nhưng hôm qua, tôi nghĩ mở sớm thì hơn.”
Ông đưa phong bì cho dì Tư. Dì Tư mở ra, đeo kính, đọc. Giọng dì vỡ giữa chừng, dì phải dừng lại hai lần.
“Tôi, Trần Văn Bảo, thân thể minh mẫn, tinh thần sáng suốt, lập di chúc này trước sự chứng kiến của công chứng viên. Căn nhà và mảnh đất tại địa chỉ này, tôi để lại toàn bộ cho con gái út là Trần Thị Thu. Ba người con còn lại đã nhận phần của mình từ trước, bằng t:iền mặt, và đã cam kết lo th:uốc men, hậu sự cho cha. Nếu có ai trong ba người này lợi dụng lúc tôi yếu để b:án hoặc cầm cố căn nhà, thì coi như từ bỏ mọi quyền lợi liên quan, kể cả quyền thờ cúng tại nhà này.”
Cả sân lặng ngắt.
Anh Hải từ từ ngã người xuống chiếc ghế nhựa gần nhất. Hai chú giữ anh buông tay ra. Anh ngồi đó, bờ vai rũ xuống, tay run run đặt lên đầu gối.
Tôi nghe rõ tiếng đập của chính mình. Cha tôi, người tôi tưởng chỉ nằm đó nắm tay tôi trong những đêm cuối, hóa ra đã đi bộ ra phường, ký giấy, trả tiền tang lễ, đã sắp đặt từng thứ một suốt hai tháng trời mà không ai trong nhà biết. Ông không hề “lú”. Ông chỉ đang chờ, chờ xem trong ba đứa con lớn, có đứa nào tự đứng ra hay không.
“Giấy hôm ngày thứ chín…” anh Phát lên tiếng, giọng đã khác. “Nếu có di chúc này, và nếu ông cụ lúc điểm chỉ đang bị tiêm an thần, thì thỏa thuận chuyển nhượng vô hiệu. Tôi hiểu đúng không?”
“Có bảng theo dõi của b:ệnh v:iện,” tôi nói. “Y tá ghi giờ tiêm an thần cho cha ngày thứ chín. Chị Mai ở phòng tài chính còn giữ hồ sơ. Camera hành lang cũng còn. Em chưa nộp, nhưng em sẽ nộp nếu cần.”
Anh Phát nhìn tôi rất lâu. Rồi anh ta quay sang anh Hải, giọng lạnh như nước đá:
“Anh Hải, bốn trăm tr:iệu. Hôm nay là ngày bảy. Nếu đến cuối tháng tôi không nhận đủ, tôi sẽ k:iện anh tội chiếm đoạt tài sản, kèm bản ghi âm này.”
“Tôi không còn,” anh Hải thều thào. “Tôi trả cho chủ vật liệu hết rồi. Còn có mười mấy tr:iệu thôi.”
“Vậy anh bán nhà anh, bán xe anh, vay mượn, cái đó là chuyện của anh,” anh Phát nói. “Tôi không quan tâm.”
Tôi nhìn anh Hải. Người đàn ông bốn mươi lăm tuổi, từng đứng giữa sân chỉ đạo như người hiếu thảo nhất thiên hạ, giờ ngồi co ro trên cái ghế nhựa, hai tay ôm đầu. Tôi chờ mình thấy hả hê. Nhưng tôi chỉ thấy mệt, như hôm qua, và thấy thương, một chút thôi, đúng bằng phần thương dành cho một người từng là anh mình.
“Anh Phát,” tôi nói. “Anh cho anh em tôi ba tháng được không? Không phải vì anh Hải. Cha tôi mới m:ất, tôi không muốn thấy tên ông gắn với một vụ k:iện. Anh Hải sẽ ký cam kết trả từng đợt, có ông Sáu và dì Tư làm chứng. Đến hạn không trả, tôi không cản anh.”
Anh Phát suy nghĩ rất lâu. Rồi anh ta gật đầu:
“Ba tháng. Có cam kết bằng văn bản. Tôi lấy bản ghi âm làm đảm bảo.”
Anh Hải ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đỏ ngầu của anh đầy những thứ tôi không đọc nổi: nhục, giận, sợ, và còn một thứ gì đó đang vỡ ra rất chậm.
“Mày… mày vẫn…”
“Em không tha cho anh đâu,” tôi nói, “nhưng em cũng không để anh ngồi tù. Hai chuyện khác nhau.”
**
Lễ đưa tiễn diễn ra yên ổn dưới cái rạp của Phúc An, theo đúng từng dòng cha ghi trong hợp đồng: không phô trương, không kèn trống quá đà, hoa cúc trắng, nhạc nhỏ. Khi áo quan hạ xuống, anh Tuấn là người đầu tiên khóc thành tiếng, rồi chị Lan, rồi đến cả anh Hải. Anh đứng cuối hàng, không nói gì, hai vai run lên không thành tiếng.
Hộp phúng viếng được mở ra đúng như tôi đã nói. Ông Sáu và dì Tư ngồi ghi sổ từng người, từng khoản, đọc to trước mặt cả họ. Tổng cộng sáu mươi hai tr:iệu bốn trăm nghìn. Tôi đứng lên trước cả họ, nói rõ:
“Con xin phép dùng số t:iền này lo cúng thất tuần, giỗ đầu và sửa lại bàn thờ cha. Nếu còn dư, con để vào quỹ hương hỏa, ghi sổ công khai. Các cô các bác ai thấy chưa ổn, cứ nói.”
Không ai nói gì. Có bà dì lắc đầu, nhưng lần này là lắc đầu thương.
Chiều hôm đó, khi bà con đã về, dì Tư đưa tôi cuốn sổ t:iết kiệm hai trăm tr:iệu và bản di chúc thứ hai, bản gốc ghi tên tôi.
“Con giữ đi,” dì nói. “Cha con đã suy tính cả hai tháng trời. Ông biết rõ đứa nào hiếu, đứa nào chỉ biết cầm t:iền.”
“Nhưng cha cũng thương mấy anh chị mà dì,” tôi nói. “Thư cha viết: ‘Cha thử các con, và cha thua’.”
Dì Tư nhìn tôi một lúc lâu.
“Ừ. Cha thương cả bốn, nên ông mới thử. Nếu không thương, ông đã chia tiền xong, đóng cửa lại, chẳng buồn thử.”
Trong lòng tôi có một thứ gì đó nhẹ đi. Không phải vì thắng. Tôi chưa bao giờ muốn thắng ai cả.
**
Tôi dùng sổ tiết kiệm của cha trả bốn mươi tr:iệu cho đồng nghiệp, kèm một phong bì cảm ơn từng người đã cho tôi mượn lúc tôi không biết gõ cửa ai. Anh Tuấn chuyển thêm cho tôi mười tr:iệu mỗi tháng để “trả lãi cho mười bảy ngày út phải lo một mình”, tôi không đòi, anh vẫn chuyển, cho đến khi tôi nhắn: “Anh đủ rồi.” Anh nhắn lại một biểu tượng đang khóc, rồi chuyển tiếp tháng sau, ghi chú: “Của cha.”
Chị Lan lấy lại ba trăm tr:iệu từ anh Hải bằng cách riêng, không ai biết bằng cách nào. Chỉ biết hôm thất tuần, chị đến sớm, tự tay lau bàn thờ, tự tay nấu mâm cúng. Chị không xin lỗi tôi bằng lời. Chị chỉ gói cho tôi một hộp đồ ăn và dặn: “Út ăn cho mập. Ốm quá.” Tôi cầm hộp mà cổ họng nghẹn lại.
Anh Hải bán căn nhà anh đang ở, trả anh Phát hai trăm năm mươi tr:iệu ngay tháng đầu, phần còn lại góp dần. Công trình dở dang bị chủ đầu tư thu hồi. Vợ anh về nhà ngoại một thời gian. Có người họ hàng kể anh đi làm thuê, đứng giữa nắng cho người ta chỉ đạo, không còn đứng giữa sân chỉ đạo ai nữa. Tôi nghe, không bình luận gì.
Tôi dọn về căn nhà cũ sau tuần thứ bốn mươi chín. Trả phòng trọ, gom cái chiếu mỏng ngày nào nằm ngoài hành lang bệnh viện, tôi để vào góc nhà, cạnh bàn thờ, như một thứ để nhớ chứ không để dùng. Tôi vẫn đi làm ở xưởng may, vẫn lương chưa tới tám tr:iệu, nhưng tối nào về cũng có ai đó thắp nhang cùng.
Ngày giỗ đầu, trời mưa phùn. Tôi dậy từ năm giờ nấu cỗ, dì Tư sang giúp, chị Lan mang thêm mâm xôi, anh Tuấn chở cả nhà đến. Con gái anh, đứa cháu sáu tuổi, chạy lăng xăng quanh bàn thờ hỏi: “Cô ơi, ông nội ăn được không?” Tôi bế cháu lên, nói: “Ông ăn bằng mắt, con ạ.”
Gần trưa, cổng khẽ mở. Anh Hải đứng ở đó, gầy hơn hẳn, tóc có thêm nhiều sợi bạc. Anh không dám bước vào. Anh đứng dưới hiên, mưa phùn bám trên vai áo.
“Anh có được vào thắp cho cha nén nhang không?” anh hỏi, giọng nhỏ như thở.
Tôi nhìn anh một lúc. Căn nhà này, theo di chúc, tôi có toàn quyền cho ai thờ cúng ở đây. Nhưng tôi nhớ lá thư của cha, và nhớ câu “Cha thương cả bốn”.
“Vào đi anh,” tôi nói. “Cha chờ anh hơn một năm rồi.”
Anh bước vào, thắp nhang, quỳ trước di ảnh rất lâu. Khi anh đứng dậy, anh đưa cho tôi một phong bì. Tôi mở ra: mười chín tr:iệu bốn trăm nghìn, kèm một tờ giấy gấp tư, nét chữ nguệch ngoạc:
“Út, anh trả phần viện phí của anh. Anh chưa đủ tư cách xin lỗi em. Anh chỉ làm được từng việc nhỏ. Đây là việc đầu tiên.”
Tôi gấp tờ giấy lại, cất vào túi áo. Tôi không nói tha thứ, vì có những thứ không nói bằng lời được. Tôi chỉ gắp một miếng thịt kho bỏ vào chén anh, đặt xuống mâm cơm, rồi gọi cả nhà ngồi xuống.
Bốn anh em chúng tôi ngồi quanh mâm cỗ giỗ đầu của cha, lần đầu tiên sau chừng ấy năm. Không ai nói nhiều. Mưa vẫn rơi ngoài hiên. Trên bàn thờ, nén nhang cháy đều, khói bay thẳng lên, chạm vào di ảnh cha đang nhìn chúng tôi, như thể ông đã chờ cái mâm cơm này từ rất lâu rồi.
-HẾT-