Việt Kiều 52 Tuổi Về Quê Tìm Cha Sau Gần 30 Năm – Gặp Ông Lão Rách Rưới Trước Cổng Và Ch/ết Lặng Khi Nghe Một Câu

Việt Kiều 52 Tuổi Về Quê Tìm Cha Sau Gần 30 Năm – Gặp Ông Lão Rách Rưới Trước Cổng Và Ch/ết Lặng Khi Nghe Một Câu

Việt Kiều 52 Tuổi Về Quê Tìm Cha Sau Gần 30 Năm –

Gặp Ông Lão Rách Rưới Trước Cổng Và Ch/ết Lặng Khi Nghe Một Câu

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người

Tôi tên Hương, 52 tuổi, sống tại San Jose, California.

Gần ba mươi năm trước, tôi sang Mỹ khi ngoài hai mươi

. Trong mắt họ hàng ở quê, tôi là Việt kiều thành đạt: có nhà, có tiệm nail, có hai con trưởng thành.

Không ai biết tôi từng đứng làm móng mười tiếng mỗi ngày, bàn tay nứt nẻ vì hóa chất, lưng đau đến mức đêm không trở mình được.

Và cũng không ai biết suốt gần ba mươi năm ấy, có một câu hỏi chưa bao giờ buông tha tôi:

Cha tôi đang ở đâu?

Ngày mẹ mất, chuyến bay bị hoãn. Khi tôi đặt chân xuống

Tân Sơn Nhất, quan tài mẹ đã nằm dưới lòng đất.

Tôi đứng trước bàn thờ, trong lòng vừa đau vừa day dứt.

Trước khi về quê làm giỗ đầu, tôi tự hứa sẽ tìm ông.

Không phải để nhận lại cha, cũng không phải để báo hiếu.

Tôi chỉ muốn hỏi một câu:

Tại sao ngày ấy ông bỏ mẹ con tôi?

Chiếc xe chở tôi về đến quê vào buổi trưa oi bức.

Căn nhà mới xây bằng tiền tôi gửi về hiện ra sau hàng rào.

Cổng sắt màu nâu, mái ngói đỏ.

Người trong xóm đứng hai bên đường nhìn tôi.

Ngay lúc ấy tôi thấy ông lão.

Ông ngồi dưới gốc cây cách cổng chưa đầy vài bước.

Người nhỏ thó, lưng cong, áo sơ mi bạc phếch, quần vá hai đầu gối, dép nhựa đứt quai buộc lại bằng dây nilon.

Bên cạnh là chiếc túi vải nâu cũ kỹ. Ông không xin tiền, chỉ nhìn tôi.

Tôi đưa tờ tiền. Ông không cầm.

Ông hỏi khản đặc: “Con mới về có mệt không?”

Cách ông gọi tôi khiến tôi khó chịu.

Tôi đặt tiền xuống cạnh túi vải rồi quay đi.

Ba ngày liên tiếp ông đều đến.

Không xin, không gọi cửa, chỉ ngồi từ sáng đến xế chiều.

Đến ngày thứ tư tôi không chịu được nữa.

Tôi bước ra: “Ông cần gì?” Ông lắc đầu.

“Ông quen mẹ tôi à?” Ông siết chặt quai túi: “Có biết.” Tim tôi đập mạnh.

“Ông có biết cha tôi không?” Cả người ông run lên.

Ông chỉ đáp: “Cha cô chắc đã đi xa lắm.”

Tôi lạnh giọng: “Ông ngồi đây vì muốn xin tiền phải không?”

Mặt ông tái đi.

Ông nhặt túi vải bước đi.

Tấm lưng còng khuất sau hàng rào.

Đêm ấy mưa lớn.

Gần một giờ sáng tôi nghe tiếng động ngoài cổng.

Ông lão đứng bên kia cánh cổng, áo quần ướt sũng, ôm chiếc túi vải trước ngực.

Tôi mở cửa: “Ông còn quay lại làm gì?”

Ông nhìn tôi rất lâu rồi nói gần như thì thầm:

“Con vẫn hay nhíu mày mỗi khi buồn, giống hệt ngày còn bé.”

Toàn thân tôi cứng lại. Ngoài cha và mẹ, không ai từng nói với tôi câu ấy.

Tôi sinh ra trong căn nhà lá gần con rạch nhỏ ở Tiền Giang.

Cha làm đủ nghề: chở trái cây thuê, sửa mái nhà, đắp bờ.

Buổi sáng ông cõng tôi ra đầu xóm mua bánh bò. Ông gọi tôi là “bé Chim” vì tôi nói nhiều.

Năm tôi lên năm, ông mua chiếc vòng bạc nhỏ khắc tên Hương.

Đó là một trong những ký ức cuối cùng tôi còn về ông.

Mẹ bắt đầu bệnh. Cha vay mượn mua thuốc.

Một ngày ông nói sẽ đi làm xa ngoài tỉnh vài tháng để có tiền chữa bệnh cho mẹ.

Ngày cha đi, tôi ôm chân ông khóc.

Ông lau nước mắt: “Bé Chim ngoan ở nhà.

Đi xa bao nhiêu cũng phải nhớ đường về nhà.”

Đó là lần cuối tôi nhìn thấy cha bằng đôi mắt của một đứa trẻ tin rằng người lớn sẽ giữ lời.

Thư thưa dần, tiền không còn.

Mẹ đốt hết thư của cha.

Dì và cậu bảo cha đã theo người đàn bà khác. Tôi ghét cha từ ngày ấy.

Ghét vì ông khiến mẹ kiệt sức, vì tôi bị gọi là đứa không cha, vì mỗi lần họp phụ huynh chỉ có mẹ đi cùng.

Sự thật chỉ lộ ra sau khi tôi đưa ông lão vào nhà…………

Ông không phải người bỏ vợ con.

Ông gửi tiền và thư về đều đặn.

Cậu Tấn – em trai mẹ – đã chặn hết.

Cậu bảo cha chết, rồi chiếm tiền, chiếm đất.

Cha bị bắt vì đánh người sau khi phát hiện sự thật, ngồi tù vài năm.

Ra tù, ông lang thang khắp nơi tìm mẹ con tôi.

Đến khi nghe tin tôi về làm giỗ, ông mới dám đến ngồi trước cổng.

Tôi đưa cha vào nhà.

Ông ngồi đúng chiếc ghế mẹ từng ngồi.

Tôi nấu canh chua – món tôi thèm nhớ mỗi khi ở Mỹ. Hai cha con ăn trong yên lặng. Đó là bữa cơm mẹ đã mong trong lá thư để lại.

Lá thư mẹ viết trước khi mất được bà Sáu đưa cho cha sau đám tang.

Mẹ viết: “Tôi đã sống quá lâu trong sự giận dữ và xấu hổ.

Đến khi biết mình có thể đã trách nhầm người, tôi lại không đủ can đảm sửa sai…

Nếu hai cha con gặp lại, xin đừng dùng những ngày còn lại để trách nhau.

Hãy ăn với nhau một bữa cơm.

Hãy gọi đúng tên của nhau và nếu được hãy tha thứ cho tôi.”

Cha đọc thư, ép tờ giấy vào ngực.

Tôi hỏi: “Cha có giận mẹ không?”

Ông lắc đầu: “Cha từng giận, nhưng cha nhớ bà ấy nhiều hơn.”

Sức khỏe cha yếu nhanh.

Ông không chịu chuyển lên bệnh viện lớn.

Ông muốn ở gần nhà – gần mộ mẹ, gần con đường ông từng cõng tôi, gần cánh cổng cuối cùng đã mở.

Con gái tôi đưa hai đứa cháu về Việt Nam.

Đứa lớn bước tới, phát âm chậm: “Ông ngoại.”

Cha mở mắt, mỉm cười, đưa bàn tay run ra.

Đêm cuối cùng, cha khó thở. Ông nhìn tôi: “Bé Chim…

Cha có làm con xấu hổ không?” Tôi lắc đầu, nước mắt rơi:

“Cha là người con tự hào nhất.” Ông hỏi tiếp: “Con có còn giận cha không?” Tôi hôn lên chán ông:

“Con chưa từng có lý do để giận cha.”

Ông mỉm cười: “Vậy cha yên tâm.” Một lúc sau ông gọi khẽ: “Bé Chim… Về nhà rồi.”

Đó là câu cuối cùng của cha.

Tang lễ đơn giản. Tôi đặt tấm ảnh thời trẻ của ông bên cạnh chiếc túi vải.

Cậu Tấn quỳ rất lâu, trả lại giấy tờ tài sản, cam kết bán đất hoàn tiền.

Tôi không nói lời tha thứ.

Tôi chỉ bảo cậu dùng quãng đời còn lại để sống sao cho không phải giấu thêm ai nữa.

Tôi giải một phần tro cốt cha gần gốc khế cũ, phần còn lại an táng cạnh mẹ.

Trên bia mộ tôi cho khắc: “Người cha chưa từng bỏ con.”

Tôi ở lại Việt Nam thêm nhiều tháng.

Tôi sửa căn nhà lớn thành nơi hỗ trợ người già không nơi nương tựa.

Trên cổng treo tấm bảng nhỏ: “Không ai phải đứng ngoài cửa nhà mình.”

Sau đó tôi trở lại Mỹ.

Tôi hoàn tất thủ tục ly thân trong yên lặng.

Tôi giữ phần của mình rồi chuyển đến căn nhỏ hơn.

Các con dần hiểu.

Con gái đưa cháu về Việt Nam mỗi năm thắp nhang cho ông ngoại.

Chúng bắt đầu học thêm tiếng Việt.

Một tối mùa đông ở California, tôi nấu canh chua.

Tôi dọn hai chiếc bát: một cho mình, một đặt đối diện.

Bên cạnh chiếc bát trống là chiếc vòng bạc và tấm ảnh cũ.

Tôi mở chiếc túi vải, mùi vải cũ vẫn còn.

Suốt nhiều năm tôi nghĩ khoảng cách lớn nhất trong đời mình là quãng đường từ Việt Nam sang Mỹ.

Sau cùng tôi mới hiểu: khoảng cách xa nhất không nằm giữa hai quốc gia.

Nó nằm giữa một người đang đứng ngoài cửa và một người ở bên trong không chịu mở lòng.

Tôi đã đi nửa vòng trái đất để tìm cha.

Nhưng tôi suýt bỏ lỡ ông khi chỉ cách nhau một cánh cổng.

Tiền bạc giúp tôi xây được căn nhà.

Danh phận Việt kiều khiến người khác nhìn tôi bằng sự ngưỡng mộ.

Nhưng chính cha – người không có gì ngoài chiếc túi vải cũ – đã dạy tôi hiểu:

Nhà không phải nơi có cổng cao, phòng rộng.

Nhà là nơi một người được phép bước vào mà không cần chứng minh mình có bao nhiêu tiền.

Nhà là nơi người ta gọi đúng tên nhau.

Nhà là nơi dù trở về muộn đến đâu, vẫn có một người nói: “Con về rồi.”

Tôi gắp một miếng cá đặt vào chiếc bát trống.

Ngoài trời tuyết bắt đầu rơi.

Tôi khép mắt và tưởng tượng cha đang ngồi đối diện, mỉm cười hỏi: “Bé Chim còn ăn được khế chua không?”

Tôi đáp rất nhỏ: “Còn cha ạ.”

Và lần đầu tiên sau gần nửa đời người, tôi không còn thấy mình là đứa trẻ bị cha bỏ rơi.

Tôi là người con đã tìm được đường trở về.

‼️‼️‼️Lưu ý cuối cùng dành cho người đọc: Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính giải trí, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, tin tức báo chí.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*