ÔNG LÃO BẢY MƯƠI TƯ TUỔI BỊ BA NGƯỜI C:ON THAY PHIÊN NHAU ĐẨY RA KHỎI NHÀ SAU KHI ÔNG BỊ TAI BIẾN, C:ON TR:AI CẢ CÒN Q:UĂNG CHIẾC VALI RA CỔNG: “BA Ở NHÀ AI THÌ Ở, TỤI CON CÒN PHẢI NUÔI CON CÁI, KHÔNG RẢNH HẦU NGƯỜI GIÀ!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Tôi chưa kịp hỏi thêm thì ông Sáu đã nhấc điện thoại lên, ngón tay run run bấm nút nghe, bật loa ngoài.
“Bác Sáu, tôi là Hòa đây,” giọng bên kia trầm và gọn. “Thông báo gửi ba người con lúc mười giờ sáng. Phòng công chứng đã xác nhận chuyển phát. Tối nay bảy giờ, đúng như bác dặn, tôi sẽ có mặt.”
“Cảm ơn cậu Hòa,” ông Sáu nói chậm. “Cậu cứ chuẩn bị như đã bàn. Nhưng cho tôi thêm một chuyện: nếu tối nay có đứa nào không đến, đừng chờ.”
“Tôi hiểu.”
Ông cúp máy. Tôi đứng đó, tay vẫn cầm ly nước, đầu óc quay mòng mòng.
“Bác… bác định mở di chúc? Bác còn khỏe mà.”
“Khỏe hay không thì ai biết trước,” ông cười nhạt, nụ cười méo một bên vì liệt nửa mặt. “Tôi nằm viện hai tuần, cô biết đứa nào vào thăm lâu nhất không? Là cô. Cô mang cháo sang, cô ngồi đọc báo cho tôi nghe. Còn ba đứa nó, mỗi đứa vào đúng mười phút, hỏi bác sĩ một câu: ‘Ông cụ còn sống được bao lâu?’”
Tôi nghẹn họng. Tôi nhớ rõ những ngày đó, nhưng chưa bao giờ nghĩ ông để tâm.
“Tôi biết trước chuyện này sẽ xảy ra,” ông nói tiếp. “Từ hồi bà nhà tôi mất, tôi đã thấy tụi nó nhìn căn nhà này khác đi. Bị tai biến chỉ là cái cớ để tôi nhìn cho rõ.”
Ông kéo khóa túi, lấy ra cuốn sổ đỏ và chiếc chìa khóa nhỏ bằng đồng, dây buộc đã sờn. Ông đặt chìa khóa vào tay tôi.
“Chìa này mở két sắt trong nhà. Cô giữ giúp tôi. Bảy giờ tối, cô đi cùng tôi.”
“Nhưng cổng nhà bác bị khóa rồi mà?”
“Cổng thì khóa. Cửa sau thì không,” ông nhìn tôi, mắt lóe lên một tia tinh quái hiếm thấy. “Hai mươi năm trước tôi đã tự tay làm cái ổ khóa đó, nó chỉ khóa bên trong. Tụi nó nào biết.”
Chiều hôm đó, tôi đóng tiệm sớm. Hai mươi phút sau, tôi đỡ ông đi vòng con hẻm nhỏ phía sau dãy nhà. Cánh cửa gỗ cũ kẽo kẹt mở ra. Căn nhà ba tầng im phăng phắc, mùi bụi và mùi nhang cũ phảng phất. Ông Sáu đi chậm, tay vịn tường, mắt nhìn quanh như người từ xa trở về.
“Cô Ngọc,” ông nói khi đứng trước bàn thờ vợ, “tôi sống ở đây ba mươi năm. Tôi chưa từng nghĩ có ngày phải lẻn vào nhà mình bằng cửa sau.”
Tôi đỡ ông ngồi xuống chiếc ghế mây. Ông thắp ba nén nhang, miệng lẩm bẩm gì đó mà tôi không nghe rõ. Khi ông quay lại, mắt ông ướt.
“Mình lên tầng hai.”
Phòng ngủ cũ của ông bà nằm cuối hành lang. Dưới gầm giường, sau tấm ván gỗ gắn cố định, là một chiếc két sắt nhỏ màu xanh rêu. Tôi tra chìa vào. Nắp két bật ra.
Bên trong có ba thứ. Một phong bì dày đề “Gửi các con”. Một xấp giấy tờ ngân hàng. Và một chiếc máy ghi âm nhỏ, loại cũ, vỏ nhựa đen.
“Đây là gì ạ?” tôi hỏi.
“Lát nữa cô sẽ biết,” ông nói. “Giờ cô giúp tôi xếp mấy cái ghế dưới phòng khách. Sáu cái.”
“Sáu ạ?”
“Ba đứa con, ba đứa dâu rể. Đứa nào đến, đứa đó ngồi.”
Bảy giờ kém năm, tiếng xe máy, tiếng ô tô nối nhau dừng trước cổng. Tôi đứng sau cánh cửa phòng khách, tim đập loạn.
Anh Phúc vào trước, áo sơ mi vẫn còn nhàu, mặt đỏ gay. Vợ anh theo sau, tay xách túi hàng hiệu. Chị Thảo đến một mình, chồng chị bận đi công tác. Anh Tuấn vào sau cùng, mắt tránh nhìn ai.
Cả ba khựng lại khi thấy ông Sáu ngồi giữa phòng khách, cạnh ông là một người đàn ông trung niên mặc vest xám, cặp kính gọng mỏng, tay đặt trên chiếc cặp da.
“Ba?” anh Phúc há miệng. “Ba vào bằng cách nào? Cổng khóa mà!”
“Ba vào bằng cách của ba,” ông Sáu đáp, giọng chậm nhưng rắn. “Các con ngồi xuống đi.”
“Con không ngồi,” anh Phúc gắt. “Ai gọi anh này đến? Ba bị tai biến rồi, đầu óc không minh mẫn, ba đừng để người ngoài xúi giục!”
“Tôi là luật sư Hòa,” người đàn ông vest xám đứng dậy, bình tĩnh đưa danh thiếp. “Bác Sáu nhờ tôi từ ba tháng trước, trước khi bác bị tai biến. Tôi có đầy đủ hồ sơ, bao gồm xác nhận sức khỏe tâm thần của bác sĩ thần kinh ngày hôm qua. Bác hoàn toàn minh mẫn.”
Anh Phúc nghẹn lời. Chị Thảo nhìn sang anh Tuấn, anh Tuấn nhìn xuống đất.
“Ba tháng trước?” chị Thảo thì thào. “Tức là ba biết trước…”
“Ba linh cảm,” ông Sáu nói. “Ba đoán được các con sẽ làm gì khi ba yếu đi. Ba không muốn tin, nhưng ba đã đúng.”
Phòng khách im lặng. Chỉ nghe tiếng quạt trần quay chậm. Tôi đứng sau cánh cửa, thấy ông Sáu liếc về phía tôi, khẽ gật đầu.
“Cô Ngọc, cô ra đây.”
Tôi bước ra. Anh Phúc trợn mắt.
“Cô này là ai? Cô vào nhà tôi làm gì?”
“Cô ấy là người tôi tin tưởng,” ông Sáu nói. “Và là người duy nhất trong cả khu phố đưa cháo cho tôi suốt hai tuần tôi nằm viện, khi các con bận.”
“Bọn con có đi làm,” chị Thảo cãi yếu ớt.
“Ba không trách các con bận. Ba trách các con thà bận với mọi thứ, trừ ba.”
Luật sư Hòa mở cặp, rút ra một xấp giấy.
“Tôi xin đọc di chúc của bác Sáu, lập ngày mười hai tháng ba, có công chứng đầy đủ. Căn nhà ba tầng số bốn mươi hai đường Phan Chu Trinh, trị giá ước tính tám tỷ đồng, cùng khoản tiết kiệm bốn trăm triệu, là tài sản riêng của ông Trần Văn Sáu.”
Tôi thấy anh Phúc nuốt nước bọt. Vợ anh ngồi thẳng người dậy.
“Theo ý nguyện của bác Sáu, toàn bộ tài sản sẽ được chia theo điều kiện sau: người con nào đón bác về chăm sóc đến cuối đời bằng cả thời gian và tình cảm, người đó sẽ được thừa hưởng căn nhà. Nếu cả ba người con đều không đón, căn nhà sẽ…”
“Khoan,” anh Phúc cắt ngang, giọng cao hẳn lên. “Điều kiện này có cần thiết không? Mình là con trai cả, theo phong tục thì nhà này là của con!”
“Phong tục không phải luật,” luật sư Hòa đáp. “Và đây là ý chí của người lập di chúc.”
“Vậy là ba bày trò,” anh Phúc quay sang ông Sáu, hai mắt đỏ lên. “Ba cố tình để tụi con tưởng ba không còn gì, rồi giờ ba bày điều kiện này ra bắt tụi con quỳ lạy ba?”
“Ba không bắt ai quỳ,” ông Sáu nói. “Ba chỉ muốn biết đứa nào còn thương cha. Đứa nào không thương thì ba cũng không ép.”
“Ba nói thế mà nghe được à?” chị dâu cả bất ngờ lên tiếng, giọng chua chát. “Ba ở nhà anh chị bao nhiêu ngày, ăn uống chúng tôi lo, ba còn đòi hỏi gì nữa?”
“Cho ăn riêng ở bếp, gọi là lo?” tôi buột miệng.
Chị dâu quay phắt sang tôi. “Cô là người ngoài, cô biết gì mà chen vào?”
“Tôi biết bác Sáu ăn cơm nguội ba hôm liền, vì tôi thấy ông bê chén cơm sang tiệm tôi hỏi có thể hâm giúp được không,” tôi nói, từng chữ rõ ràng. “Tôi không chen vào chuyện nhà chị. Nhưng chuyện đó là sự thật.”
Không ai đáp. Chị dâu cắn môi, quay đi.
Ông Sáu nhìn từng đứa con, rồi hỏi một câu nhẹ như hơi thở.
“Phúc, hôm nay con quăng vali của ba ra cổng. Con có nghĩ lúc đó ba sẽ đi đâu không?”
Anh Phúc cứng họng.
“Thảo, con bảo ba ảnh hưởng thằng nhỏ học bài. Ba nằm im trong phòng, không ra ngoài, không nói chuyện. Ảnh hưởng chỗ nào?”
Chị Thảo bật khóc, che miệng.
“Tuấn, con đón ba về bốn ngày, rồi đưa trả, trả như trả đồ mượn. Con nói vợ con không chịu nổi. Vợ con có từng hỏi ba muốn ăn gì không?”
Anh Tuấn gục đầu xuống, hai tay ôm mặt.
Căn phòng nặng như chì. Tôi thấy ông Sáu hít một hơi dài, rồi quay sang luật sư.
“Cậu Hòa, cho tôi bật cái này.”
Ông lấy chiếc máy ghi âm nhỏ từ trong túi, đặt lên bàn. Ngón tay ông run, nhưng bấm nút rất chính xác.
Giọng nói vang lên, không phải của ông Sáu. Là giọng anh Phúc.
“Em Thảo, em Tuấn, anh nói thẳng. Ba cứ như thế này thì khổ cả nhà. Căn nhà ba tầng, anh tính rồi, bán đi được tám tỷ. Mỗi đứa chia hai tỷ rưỡi, còn lại mua cho ba một căn chung cư nhỏ ở quê, thuê người chăm. Ba có phản đối thì cứ bảo ba lẫn rồi.”
Phòng khách im phăng phắc. Anh Phúc tái mặt. Chị Thảo ngẩng phắt lên.
“Anh… anh tính bán nhà từ khi nào?”
“Cái đó… cái đó là…” anh Phúc lắp bắp.
Giọng nói trong máy tiếp tục.
“Anh Hai, nhưng ba còn sống mà,” là giọng anh Tuấn, ngập ngừng. “Mình làm vậy có đúng không?”
“Còn sống mà đã tai biến, sống được bao lâu nữa? Em đừng có yếu lòng.”
Anh Tuấn bật dậy, nhìn anh Phúc, môi run rẩy. “Em… em không đồng ý chuyện đó. Em chỉ im lặng. Em hèn.”
“Hèn mà cũng đòi chia phần,” chị Thảo gằn giọng, nhưng nước mắt rơi lã chã. “Em cũng đâu có hơn gì anh Hai. Em chỉ biết đưa ba đi như đưa món đồ.”
Ba anh chị em đứng giữa phòng khách, mỗi người một hướng nhìn, không ai dám nhìn ba. Tôi thấy lòng mình chùng xuống. Tôi chưa bao giờ muốn chứng kiến cảnh này, nhưng tôi biết ông Sáu cần cô đơn đến đâu mới phải dựng cả một vở kịch để nghe cho được những lời thật.
Anh Phúc đột nhiên bật cười, tiếng cười khô khốc.
“Được. Được lắm. Ba thắng rồi. Ba ghi âm con. Ba còn nhờ người ngoài nữa.” Anh quay phắt sang tôi, mắt đỏ ngầu. “Còn cô, cô là gì mà ba tin hơn con ruột? Cô định chiếm nhà tôi à?”
“Phúc!” ông Sáu quát, giọng lần đầu tiên to và rõ như hồi còn khỏe. “Con nói thêm một câu xúc phạm cô Ngọc, ba đuổi con ra khỏi cửa ngay bây giờ!”
“Ba đuổi con?” anh Phúc gần như gào lên. “Ba mới là người nên bị đuổi! Nhà này con đã sống ba mươi năm!”
“Nhà này ba xây,” ông Sáu nói, từng chữ nặng như búa. “Bằng tiền mồ hôi ba, bằng cái lưng ba còng đi để các con có chỗ ăn học.”
Luật sư Hòa nhẹ nhàng đặt tay lên vai tôi, ra hiệu cho tôi lùi lại. Rồi ông lấy ra một tờ giấy khác, gấp làm tư.
“Còn một điều nữa trong di chúc mà tôi cần thông báo,” ông nói. “Bác Sáu đã bổ sung một điều khoản vào tuần trước, sau khi xuất viện.”
Ông Sáu khẽ gật. Luật sư mở tờ giấy.
“Toàn bộ khoản tiết kiệm bốn trăm triệu cùng giá trị sử dụng căn nhà trong năm năm đầu sẽ được chuyển cho một người, bất kể ba người con có đón bác Sáu hay không. Người đó là cô Lê Thị Ngọc.”
Tôi sững người. Cả phòng cũng sững người.
“Bác Sáu…” tôi lắp bắp. “Cháu không biết, cháu không…”
“Cô cứ nghe hết đã,” ông Sáu giơ tay ngăn. “Tôi không cho không. Tôi có một việc nhờ cô, và ba đứa kia cần nghe việc đó.”
Anh Phúc lao lên một bước. “Tôi không đồng ý! Đây là gian lận! Ba bị cô ta thao túng!”
“Anh Phúc,” luật sư Hòa nói rất chậm, “tôi khuyên anh nên cẩn trọng với từ ‘thao túng’. Toàn bộ quá trình lập di chúc đều có ghi hình, có bác sĩ, có hai người làm chứng độc lập mà cô Ngọc không hề biết mặt. Nếu anh muốn kiện, cứ kiện. Nhưng đoạn ghi âm vừa rồi cũng sẽ là bằng chứng.”
Anh Phúc đứng chết lặng, bàn tay nắm chặt vào rồi buông ra.
Ông Sáu quay sang tôi, giọng dịu hẳn.
“Cô Ngọc, tôi nhờ cô một việc cuối cùng. Phong bì trong két sắt, cô mở ra, đọc to cho các con tôi nghe.”
Tôi run run lấy phong bì từ túi áo, nơi tôi đã nhét nó từ lúc rời căn phòng trên lầu. Bên ngoài ghi bằng nét chữ nghiêng nghiêng của ông: Gửi các con. Tôi xé mép, rút ra hai tờ giấy kẻ ô li. Mới đọc đến dòng đầu, tay tôi đã khựng lại.
Tờ giấy thứ hai không phải thư. Đó là một tấm ảnh chụp lại giấy khai sinh, và một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ố vàng, trên đó ghi rõ một mảnh đất ba trăm mét vuông ở ngoại thành, người nhận chuyển nhượng là Trần Thị Lan, ba mươi lăm năm trước.
Tôi ngẩng lên. Ông Sáu nhìn tôi, đôi mắt già nua chợt long lanh như người đã giấu cả đời một điều không dám nói.
“Lan là ai?” chị Thảo hỏi, giọng đứt quãng.
Ông Sáu không trả lời chị. Ông chỉ nhìn ba đứa con rồi nói rất khẽ, và câu ấy làm cả phòng như đông cứng lại.
“Các con còn một người chị cùng cha, mà ba chưa từng dám kể. Và tối nay, chị ấy đang đứng ngoài cổng.”
Không ai nhúc nhích. Tiếng quạt trần vẫn quay đều, nhưng tôi có cảm giác không khí trong phòng đã đặc lại như hồ dán.
“Chị cùng cha?” chị Thảo nhắc lại, giọng lạc đi. “Ba nói gì vậy ba? Chị nào?”
“Cô Ngọc,” ông Sáu quay sang tôi, “cô ra mở cổng giúp tôi.”
Chân tôi như đeo chì. Tôi đi qua phòng khách, qua ánh mắt của ba anh chị em đang nhìn theo tôi như nhìn một người sắp mở nắp một chiếc hộp không ai dám đụng vào. Cánh cổng sắt kêu kít một tiếng dài.
Ngoài cổng có một người phụ nữ đứng dưới ánh đèn đường. Bà khoảng năm mươi lăm tuổi, tóc muối tiêu búi gọn sau gáy, mặc chiếc áo bà ba màu nâu đã bạc, tay xách một chiếc làn nhựa cũ. Gương mặt bà gầy, xương gò má cao, và đôi mắt, tôi sững lại một nhịp, giống hệt đôi mắt của chị Thảo.
“Cô là… cô Lan phải không ạ?” tôi hỏi.
“Tôi đến theo thư của bác Sáu,” bà nói khẽ, giọng miền quê, rất ngại. “Tôi không biết có nên vào không. Tôi đứng ngoài này từ sáu giờ rưỡi.”
“Dạ, bác Sáu đang đợi cô.”
Tôi dẫn bà vào. Bước chân bà chậm, hai tay siết chặt quai làn như người sợ rơi mất thứ gì đó. Khi bà xuất hiện ở ngưỡng cửa phòng khách, cả ba anh chị em đều quay phắt lại.
Ông Sáu chống nạng đứng dậy, đôi chân bên trái run lẩy bẩy. Luật sư Hòa định đỡ, ông gạt đi.
“Lan.”
Chỉ một tiếng gọi, mà người phụ nữ đứng ở cửa bật khóc ngay, nước mắt chảy dọc những nếp nhăn như thể chúng đã chờ sẵn từ rất lâu.
“Dạ… ông.” Bà ngập ngừng. “Ông Sáu.”
“Gọi tôi là ba,” ông nói, giọng vỡ ra. “Ba nợ con câu này năm mươi lăm năm rồi.”
Phòng khách như vỡ tung. Anh Phúc bật dậy trước tiên.
“Ba điên rồi! Ba nói cái gì thế? Ba bị tai biến nên lẫn rồi!” Anh chỉ tay vào người phụ nữ. “Bà này là ai? Ba đừng để người ta lừa!”
“Phúc, ngồi xuống,” ông Sáu nói, không lớn tiếng nhưng cả phòng nghe rõ. “Con là người đã quăng vali của ba ra đường. Con không có tư cách quát ai trong cái nhà này.”
Anh Phúc nghẹn lời, ngồi phịch xuống ghế, thở phì phò như người vừa chạy.
Ông Sáu quay sang luật sư. “Cậu Hòa, đưa giấy tờ.”
Luật sư Hòa mở cặp, rút ra một bản kết quả xét nghiệm huyết thống có dấu của một trung tâm giám định, một tờ giấy khai sinh đã ố vàng, và một bức ảnh đen trắng. Ông đặt tất cả lên bàn, ngay trước mặt ba anh chị em.
“Đây là kết quả giám định quan hệ cha con, thực hiện cách đây hai tháng, khi bác Sáu còn nằm viện,” ông nói. “Bác đã tự lấy mẫu qua một người quen, bà Lan đồng ý hợp tác. Kết luận: xác suất quan hệ cha con trên chín mươi chín phần trăm.”
Chị Thảo cầm tờ giấy, tay run đến mức chữ nhảy múa trước mắt chị. Chị nhìn xuống bức ảnh. Đó là một cô gái trẻ chừng hai mươi tuổi đứng cạnh một người đàn ông trẻ, rất giống anh Tuấn hồi còn trai tráng, đứng trước một gốc xoài, cả hai cười ngượng nghịu.
“Ba…” chị thì thào. “Đó là ba hồi trẻ.”
“Ừ,” ông Sáu gật đầu. “Năm đó ba hai mươi chín tuổi, đi làm thợ xây ở vùng ngoại thành, ở nhờ nhà bà bán tạp hóa. Cô gái trong ảnh là con gái bà ấy, tên Lan. Chúng ta thương nhau. Ba hứa với cô ấy là xong đợt công trình này sẽ về xin cưới.”
Bà Lan đứng im, hai tay xoắn vào nhau. Tôi nhận ra bà không dám ngồi, dù tôi đã kéo sẵn cho bà một chiếc ghế.
“Nhưng ba về quê,” ông Sáu nói tiếp, giọng chậm và nặng, “thì ông nội các con đã chọn sẵn cho ba một người vợ. Là mẹ các con. Nhà mẹ các con có ruộng, có đất, ông nội cần cái thế ấy. Ba không dám cãi. Ba hèn. Ba nghĩ cứ im lặng rồi mọi chuyện sẽ qua.”
“Và ba bỏ rơi bà ấy?” anh Tuấn hỏi, giọng thấp đến mức tôi phải nghiêng người nghe.
“Ba gửi thư báo là ba không thể quay lại. Ba gửi kèm một mảnh đất ba trăm mét vuông ở ngoại thành, phần hương hỏa của ba, nhờ người đứng ra làm giấy chuyển nhượng cho Lan,” ông nói. “Ba tưởng thế là xong. Ba tưởng đất thì đền được. Mãi sau này ba mới biết, lúc ba gửi thư thì Lan đã m:ang thai ba tháng.”
Tôi thấy anh Tuấn nhắm mắt lại. Chị Thảo ôm miệng. Ngay cả chị dâu cả, người nãy giờ chỉ biết liếc xéo, cũng đã im phăng phắc.
“Cô ấy một mình sinh con,” ông Sáu nói. “Nhà bà ngoại bắt cô ấy đem con cho người khác nuôi, vì sợ tiếng đời. Cô ấy không chịu. Cô ấy bỏ quê đi, vừa làm vừa nuôi con. Mười mấy năm sau ba mới tìm được tung tích, nhưng ba đã có vợ có con rồi. Ba chỉ dám gửi tiền qua người quen, không dám gặp. Ba nói với mình là ba không muốn làm đổ vỡ gia đình, nhưng thật ra ba sợ. Ba sợ mất mặt, sợ bà nhà ba biết.”
“Vậy mẹ có biết không?” chị Thảo hỏi.
“Mẹ con biết,” ông Sáu nói khẽ, “trước khi bà mất một tháng. Ba đã thú nhận hết. Bà ấy im lặng rất lâu. Rồi bà bảo, ông đi tìm con bé đi, đừng để nó thành người vô thừa nhận như ông đã làm với nó.”
Cả phòng chết lặng. Chị Thảo đưa tay quệt nước mắt. Tôi chợt nhớ lại những năm bà chủ nhà mất, ông Sáu hay ngồi lặng lẽ cả buổi trước tiệm tôi, mắt nhìn xa xăm. Tôi tưởng ông nhớ vợ. Hóa ra ông đang mang một món nợ.
“Ba hứa với mẹ,” ông Sáu nói tiếp, “nhưng ba lại hèn thêm mười năm nữa. Tới khi ba bị tai biến, nằm trên giường bệnh, ba mới nghĩ: nếu ba đi mà chưa kịp nhìn mặt nó, ba sẽ không nhắm mắt nổi.”
Ông quay sang bà Lan, nhìn thẳng vào bà bằng ánh mắt của một người đã chờ cả đời để nói một câu.
“Lan, ba xin lỗi con.”
Bà Lan lắc đầu liên tục, nước mắt rơi xuống nền gạch.
“Ông… ba đừng nói vậy. Mẹ con dặn con cả đời đừng oán ba. Mẹ bảo ba cũng khổ.” Bà nghẹn lại. “Con không đến vì nhà, vì tiền. Con đến vì lá thư của ba nói ba bệnh. Con nghĩ con chỉ muốn nhìn ba một lần.”
Tôi nghe tiếng ai đó thút thít sau lưng. Quay lại, tôi thấy chị Thảo đã đứng dậy. Chị bước từng bước chậm đến trước mặt bà Lan, đứng im thật lâu, rồi đột ngột ôm lấy bà.
“Chị…” chị nói, giọng vỡ vụn. “Em xin lỗi. Em không biết. Em nói ba ảnh hưởng thằng nhỏ học bài, mà em không biết nhà này có một người chị đã một mình lớn lên không có ba.”
Bà Lan ôm lại chị, bàn tay gầy run run vuốt lưng chị như vuốt lưng một đứa trẻ. “Không sao. Không sao đâu em.”
Anh Tuấn cũng đứng dậy, rón rén bước tới, hai tay buông thõng. Bà Lan nhìn anh, mỉm cười qua nước mắt.
“Em là Tuấn đúng không? Chị nhìn ảnh nhận ra ngay. Em giống ba hồi trẻ.”
Anh Tuấn bật khóc như một đứa trẻ, cúi gập người xuống. “Chị, em xin lỗi. Em hèn lắm. Em hèn lắm chị ơi.”
Chỉ còn anh Phúc ngồi một mình trên chiếc ghế mây, hai khuỷu tay chống lên đầu gối, mặt cúi gằm. Vợ anh ngồi bên cạnh, im lặng, tay vẫn nắm chặt chiếc túi hàng hiệu như một tấm khiên.
Cuối cùng anh ngẩng lên. Mắt anh đỏ, nhưng không còn cái vẻ hung hăng ban nãy.
“Vậy là,” anh nói, giọng khàn khàn, “tất cả chuyện hôm nay, ba dựng lên để… để chia nhà cho bà ấy?”
“Không,” ông Sáu lắc đầu. “Ba dựng lên để thử các con. Chuyện của Lan là món nợ riêng của ba, ba tự trả. Căn nhà thì ba đã tính từ trước, chưa bao giờ định để cho đứa nào đón ba về vì tiền.”
Ông nhìn luật sư Hòa. “Cậu đọc nốt phần còn lại.”
Luật sư Hòa rút ra bản di chúc thứ hai, chậm rãi đọc.
“Căn nhà ba tầng số bốn mươi hai đường Phan Chu Trinh được chia làm bốn phần ngang nhau, cho bốn người con ruột: Trần Văn Phúc, Trần Thị Thảo, Trần Văn Tuấn và Trần Thị Lan. Khoản tiết kiệm bốn trăm triệu, sau khi trừ chi phí chăm sóc, tang lễ và thuế, sẽ được chia theo cùng tỷ lệ. Điều kiện đi kèm: trong thời gian ông Sáu còn sống, căn nhà không được bán, không được thế chấp, không được cho thuê khi chưa có sự đồng ý của ông. Ai vi phạm điều kiện này sẽ mất phần thừa kế, phần đó được chia đều cho những người còn lại.”
Anh Phúc há miệng. “Chia bốn? Vậy cái điều khoản đón ba về…”
“Đó là bản di chúc ba lập tuần trước, để các con tin,” ông Sáu nói, nụ cười méo mó mà tôi thấy mắt ông sáng lên. “Ba cố ý đưa ra điều kiện đó để xem đứa nào tham, đứa nào không. Bản thật là bản này, ba lập cùng ngày với bản kia, cậu Hòa giữ riêng. Ba phải làm vậy. Nếu ba đưa ra bản thật ngay từ đầu, các con sẽ chỉ nói những lời ngọt ngào, ba không bao giờ nghe được lòng thật.”
“Ba ác quá,” chị Thảo nói, nhưng chị cười trong nước mắt.
“Ba không ác,” ông đáp. “Ba chỉ già, và ba sợ. Sợ cả đời không biết con mình là ai.”
Anh Phúc đột ngột đứng bật dậy. Tôi thót tim, nhưng anh không làm gì cả. Anh đứng đó rất lâu, bàn tay run run. Rồi anh bước tới trước mặt ông Sáu, quỳ xuống nền gạch.
“Ba, con xin lỗi.” Giọng anh nghẹn lại. “Con không xứng làm con trai ba. Hôm nay con quăng vali của ba ra cổng, con không xứng làm người.”
Ông Sáu nhìn đứa con đang quỳ, im lặng thật lâu.
“Phúc,” ông nói. “Ba không cần con quỳ. Ba cần con ở lại, làm cái việc mà con chưa làm: đẩy xe lăn cho ba. Không phải vì di chúc. Chỉ vì ba là ba con.”
Anh Phúc gục xuống, đầu chạm xuống nền gạch, vai run lên bần bật.
Tôi đứng lặng bên cạnh cánh cửa. Tôi muốn rời đi, nhưng ông Sáu gọi tên tôi.
“Cô Ngọc.”
“Dạ, bác.”
“Phần hai trăm triệu và quyền sử dụng căn nhà năm năm ban nãy luật sư đọc,” ông nói, “tôi đã dặn từ đầu, đó là để thử các con, không phải thật. Nhưng có một thứ thật, cô nhớ lại xem.”
Luật sư Hòa lấy ra một phong bì khác, nhỏ hơn, đưa cho tôi.
“Bác Sáu để lại cho cô một khoản riêng, một trăm triệu đồng, ghi rõ là tiền cháo hai tuần ở viện và tiền sửa đồng hồ mười lăm năm,” luật sư nói, mỉm cười. “Bác bảo cô sẽ từ chối, nên tôi được dặn là nếu cô từ chối thì cứ để bác tự nói.”
“Bác Sáu…” Tôi lắc đầu, mắt cay xè. “Cháu chỉ…”
“Cô cầm đi,” ông nói. “Không phải trả công. Là tôi muốn mở rộng cái tiệm của cô. Tôi từng nghe cô nói muốn thuê thêm một người thợ học việc, mà chưa có vốn. Cô cứ coi như tôi góp vốn.”
Tôi cầm phong bì, hai tay run đến mức không giữ chắc. Tôi chưa từng nghĩ mình có thể rơi nước mắt giữa một gia đình không phải của mình.
Mấy hôm sau, mọi người thu xếp để ông Sáu ở lại căn nhà cũ. Anh Phúc dọn vào ở cùng, tự tay lau dọn phòng cho ba, mua cho ông một chiếc xe lăn mới. Chị dâu cả lúc đầu còn cau có, nhưng sau một tuần thì lặng lẽ nấu cháo mang sang, đặt xuống bàn mà không nói gì. Tôi thấy ông Sáu húp một muỗng, gật đầu, rồi nói rất nhỏ: “Ngon.” Chị dâu quay đi, nhưng tôi thấy vai chị khẽ run.
Chị Thảo chuyển hẳn thằng nhỏ sang ở với chị gái mới tìm lại để học bài, để chị Lan có người làm bạn. Chị Thảo gọi bà Lan là chị Hai, bà gọi chị là Thảo, tiếng gọi rụt rè lúc đầu rồi tự nhiên dần. Anh Tuấn ba hôm một lần ghé nhà, mang theo thuốc, đưa ba đi tập vật lý trị liệu. Vợ anh, người từng bảo không chịu nổi, hôm ấy đứng ở cửa, ấp úng nói với ông: “Ba, con xin lỗi ba. Hôm đó con nói nặng lời.” Ông Sáu chỉ nhìn cô, khẽ mỉm cười.
“Ba không giận,” ông nói. “Ba chỉ mong sau này con hỏi ba muốn ăn gì, trước khi nấu.”
Cô gật đầu liên tục, nước mắt ròng ròng.
Còn bà Lan, bà không chịu nhận phần nhà ngay. Bà nói chuyện riêng với tôi một buổi chiều ở tiệm đồng hồ, tay xoay xoay chiếc tách trà.
“Cô Ngọc, tôi thấy ngại,” bà nói. “Tôi vắng mặt năm mươi lăm năm, giờ đột ngột nhận một phần nhà. Tôi sợ các em nghĩ tôi tham.”
“Chị đừng nghĩ vậy,” tôi đáp. “Phần của chị là phần của chị, không ai cho không. Bác Sáu nợ chị, chị nhận để bác yên lòng.”
Bà im lặng, nhìn ra con phố qua cửa kính. Rồi bà gật đầu nhẹ.
“Vậy thì tôi nhận. Nhưng tôi muốn dùng phần ấy để làm một việc.”
Việc đó, tôi chỉ biết vào cuối năm. Bà Lan dùng phần tiền của mình mua một chiếc ghế bành lớn đặt ở hiên nhà, để ông Sáu ngồi phơi nắng mỗi sáng. Bên cạnh, chị Thảo đặt một chậu hoa. Anh Tuấn gắn thêm một cái chuông nhỏ, lỡ ông cần gì thì rung cho cả nhà nghe.
Một buổi chiều cuối thu, tôi đang lau chiếc đồng hồ cho một khách thì nghe tiếng cười trong căn nhà đối diện. Qua cửa kính, tôi thấy ông Sáu ngồi giữa hiên, bốn đứa con quây quanh. Anh Phúc đang bóc cam cho ba, chị Thảo kể chuyện thằng nhỏ, anh Tuấn bật cười, còn bà Lan ngồi cạnh ông, tay đặt khẽ lên bàn tay gầy của ông như sợ đánh thức một giấc mơ.
Ông Sáu nhìn sang bên kia đường, thấy tôi. Ông giơ bàn tay còn khỏe lên, vẫy nhẹ. Tôi cũng vẫy lại.
Tôi nhớ đến cái buổi sáng hôm ấy, chiếc vali bung khóa giữa trời nắng, quần áo văng tung tóe trên nền xi măng. Tôi nhớ ánh mắt ông lúc ấy, không nhìn cánh cổng mà nhìn chiếc túi vải. Hóa ra thứ ông giữ chặt không phải sổ đỏ, cũng không phải chìa khóa, mà là hy vọng cuối cùng rằng trong ba đứa con, sẽ còn một đứa quay đầu.
Và cả bốn đứa đều đã quay đầu.
-HẾT-