MẸ CHỒNG B:ẮT C:ON RIÊNG BẢY TUỔI CỦA TÔI NGỒI ĂN NGOÀI HIÊN GIỮA TRỜI L:ẠNH, CÒN Q:UÁT TRƯỚC M:ẶT CHÁU NỘI: “ĐÂY KHÔNG PHẢI NHÀ CỦA MÀY!” RỒI BÀ VỘI VÀNG ĐÓNG SẬP NGĂN KÉO TỦ THỜ KHI TÔI VỪA NHÌN THẤY TÊN CON TÔI (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Tờ giấy còn nguyên trong tay tôi, chỉ cách bàn tay bà Dung một gang.
Bà lao vào giật. Tôi lùi một bước, giơ cao tờ giấy lên. Móng tay bà cào qua mu bàn tay tôi, rách một đường dài. Tôi không buông.
“Trả đây! Đồ trong tủ thờ nhà tôi, cô không có quyền đụng vào!”
“Tủ thờ nhà bà mà có giấy tờ ghi tên con tôi, lại có chữ ký chồng tôi, thì tôi có quyền đọc,” tôi nói. Giọng tôi lạnh đến mức chính tôi cũng lạ. Hai năm qua tôi chưa từng nói với bà bằng giọng này.
Khôi đứng sau chân tôi, hai tay nắm chặt gấu áo tôi. Tôi đặt tay lên đầu con, rồi nhìn xuống tờ giấy.
Đó là một tờ phiếu tiếp nhận hồ sơ của Ủy ban nhân dân phường, dấu đỏ còn rõ nét, ngày tiếp nhận 14 tháng 7. Dòng tiêu đề in đậm ghi: Hồ sơ đăng ký nhận con nuôi. Người nhận nuôi: Nguyễn Anh Tuấn. Người được nhận nuôi: Trần Minh Khôi. Cuối trang là chữ ký của chồng tôi, nét chữ nghiêng nghiêng mà tôi nhìn thuộc lòng.
Tôi đọc lại hai lần. Tay tôi bắt đầu run, nhưng không phải vì sợ.
Chồng tôi đã nộp hồ sơ xin nhận con tôi làm con nuôi từ tháng Bảy. Ba tháng trời, anh không nói với tôi một lời.
Sau lưng tôi có tiếng bước chân. Anh Hải và chị Vân đã đứng ở cửa gian thờ từ lúc nào. Thằng Bin lấp ló sau váy mẹ nó.
“Có chuyện gì thế mẹ?” anh Hải hỏi, mắt liếc tờ giấy rồi liếc sang mẹ.
Tôi không đợi bà trả lời. Tôi đọc to, từng chữ một, đủ để cả nhà nghe:
“Phiếu tiếp nhận hồ sơ đăng ký nhận con nuôi. Người nhận nuôi: Nguyễn Anh Tuấn. Người được nhận nuôi: Trần Minh Khôi.”
Chị Vân đưa tay che miệng. Anh Hải đứng sững. Bà Dung tái mặt, nhưng chỉ vài giây sau, bà đã hất cằm lên, giọng gắt như dao:
“Thì sao? Tuấn dại, tôi không dại! Tôi giữ giấy lại là để nó khỏi làm chuyện điên rồ!”
Tôi nhìn bà, và hiểu ra nhiều thứ cùng một lúc.
Cái bát cơm nhựa ngoài hiên không phải do bà ghét trẻ con nói chung. Bà ghét đúng thằng bé này vì nó sắp mang họ Nguyễn.
“Bà sợ cái gì?” tôi hỏi.
“Tôi sợ cái gì? Tôi sợ ông Thọ ở dưới kia không nhắm được mắt!” Bà chỉ tay lên di ảnh bố chồng. “Nó mà thành con nuôi hợp pháp thì nó đứng tên trong nhà này, nó có phần trong đất này, ngang hàng với cháu đích tôn! Cô tính hay lắm, cô gả vào đây hai năm đã tính xong đường cho con cô rồi!”
Tôi bật cười, tiếng cười khô khốc.
“Hai năm nay tôi nấu cơm, giặt đồ, đưa đón, chưa một lần hỏi bà mảnh đất rộng bao nhiêu. Còn chuyện nhận nuôi, tôi cũng mới biết trước mặt bà đây.”
Bà khựng lại. Chị Vân khẽ liếc tôi, ánh mắt thoáng đổi. Chị nhận ra tôi nói thật.
Chính khoảnh khắc ấy, tôi thấy phía dưới chân bà có một phong bì cũ rơi ra từ mớ giấy bà nhét vội vào áo. Phong bì ố vàng, ngoài ghi một dòng chữ run run: Gửi Tuấn.
Tôi nhìn thấy nét chữ đó trên di ảnh. Không, trên những tấm thiệp mừng cưới bố chồng từng viết cho vợ chồng tôi. Đó là chữ của ông Thọ.
Bà Dung cũng nhìn thấy nó. Bà cúi xuống định nhặt, nhưng tôi nhanh hơn một nhịp. Tôi đặt chân lên phong bì.
“Bà nói thử xem, giấy bố chồng viết cho Tuấn, sao lại nằm trong tay bà?”
“Việc nhà tôi!” bà quát. “Cô là con dâu, đừng có…”
Chưa dứt câu thì có tiếng bước chân nặng trịch ở ngoài sân, kèm tiếng nilon lạo xạo. Anh Tuấn bước vào, tay xách bịch đá lớn, mồ hôi ướt lưng áo. Anh nhìn một lượt. Tôi cầm tờ phiếu, mẹ anh tái xanh, anh trai anh đứng như trời trồng, Khôi nép sau lưng tôi mắt đỏ hoe.
Bịch đá rơi xuống nền gạch, vỡ toạc một góc, nước chảy loang ra.
“Em…” anh mở miệng, rồi nhìn tờ giấy trong tay tôi. “Hạnh, anh định nói với em sau sinh nhật Khôi…”
“Sau sinh nhật?” Tôi giơ tờ phiếu lên. “Tháng Bảy anh nộp hồ sơ. Giờ là tháng Mười. Ba tháng, mỗi tối anh nằm cạnh em, anh nói gì về chuyện này?”
“Anh sợ nói ra mà không thành thì em và con hy vọng rồi lại hụt.”
“Hay anh sợ mẹ anh?” Tôi hỏi thẳng.
Anh im lặng. Câu im lặng đó trả lời thay anh.
Tôi hít một hơi thật sâu. Tôi muốn hét lên, muốn hỏi từng câu. Nhưng con tôi đang đứng đó, và việc đầu tiên cần làm không phải là cãi với chồng. Tôi cúi xuống nhặt phong bì dưới chân, chìa ra trước mặt anh.
“Đọc đi. Cái này gửi anh.”
Tuấn nhìn nét chữ. Tôi thấy yết hầu anh chuyển động.
“Chữ của bố,” anh nói khẽ. “Mẹ… cái này ở đâu ra? Bố mất đã một năm.”
Bà Dung quay mặt đi.
Tuấn xé phong bì, tay run làm mép giấy rách một đoạn. Anh đọc thầm vài dòng, rồi thở ra như vừa bị ai đ:ấm vào ngực. Tôi bảo anh đọc to lên. Anh nhìn tôi, nhìn Khôi, rồi đọc, giọng khàn đi:
“Tuấn, bố viết thư này khi còn tỉnh táo. Bố biết con thương mẹ con thằng Khôi thật lòng. Bố đã bế thằng bé hai lần, nó gọi bố bằng ông rất ngoan. Nếu một ngày con muốn cho nó cái họ của con, bố đồng ý, bố không cần ai thắp hương cho bố theo cái họ nào. Bố chỉ cần con làm cho tử tế. Mẹ con bảo thủ, con đừng giận bà. Bố đã nói với mẹ con rồi. Bố gửi bà giữ thư này, đến lúc con cần thì đưa.”
Căn phòng im đến mức tôi nghe rõ tiếng nước đá chảy tí tách ngoài hiên.
Người đầu tiên lên tiếng là chị Vân, giọng nhỏ nhưng rất rõ:
“Mẹ, bố viết là mẹ giữ rồi đưa cho Tuấn khi cần. Sao cả năm nay…”
“Im đi!” bà Dung quát, nhưng giọng đã yếu hẳn.
Tôi bước tới trước mặt bà. Tôi không to tiếng, và đó là điều làm bà chột dạ nhất.
“Bố chồng đồng ý nhận cháu. Chồng tôi đã xin nhận nuôi con tôi. Còn bà thì giữ lá thư của người đã khuất suốt một năm, rồi bưng cho cháu của chính ông ấy một bát cơm thừa ra ngồi ngoài hiên, ngay trong ngày giỗ ông ấy.”
“Tôi…”
“Hôm nay bà còn nói trước mặt cả nhà: ‘Đây không phải nhà của mày.’ Tôi nhớ từng chữ.” Tôi rút điện thoại trong túi áo ra, giơ lên cho bà thấy. “Nhớ không phải vì tôi giỏi nhớ. Vì từ tám giờ sáng tôi đã bật ghi âm.”
Bà Dung trợn mắt.
Tôi nói tiếp, chậm rãi để từng chữ rơi xuống:
“Sau lần bà bảo Tuấn là tôi hỗn với mẹ chồng, tôi tập thói quen ghi âm mỗi khi về nhà này. Không phải để kiện ai. Để khi cần, có người nói cho tôi biết tôi không điên. Hôm nay có cả đoạn bà kéo Khôi ra hiên, đoạn bà nói về chuyện tiền, và đoạn bà bảo nó không phải cháu nhà này. Mười hai giờ trưa, cô chú bác bên nội sẽ đến thắp hương hết. Bà muốn tôi gửi cho ai trước?”
Anh Hải nuốt nước bọt. Chị Vân đứng im, mắt không rời mẹ chồng.
Bà Dung loạng choạng ngồi xuống chiếc ghế gỗ cạnh bàn thờ, bàn tay nắm lấy thành ghế đến trắng bệch.
“Cô dọa tôi.”
“Không. Tôi đang nói cho bà biết giới hạn của tôi.” Tôi nhìn thẳng vào bà. “Hai năm nay bà nói tôi thế nào, tôi nhịn, vì tôi nghĩ vì chồng, vì cái nhà này yên ổn. Nhưng bà đụng vào Khôi thì tôi không nhịn nữa.”
Tuấn bước lại bên cạnh tôi. Anh không nhìn mẹ anh. Anh quỳ một chân xuống, ngang tầm Khôi, bàn tay to bè của người thợ sửa máy lạnh vụng về đặt lên vai thằng bé.
“Khôi, chú… bố xin lỗi con. Bố đã không có mặt khi bà nói như vậy với con.”
Khôi cắn môi, nhìn anh rất lâu. Con tôi vốn không dễ tin người. Hai năm qua con gọi anh là chú, lễ phép mà giữ khoảng cách.
“Chú định xin làm bố của con thật hả?” con hỏi, giọng run run.
“Ừ. Nếu con đồng ý.”
Khôi quay sang nhìn tôi. Tôi gật đầu, nước mắt chảy xuống không kịp lau. Con quay lại nhìn Tuấn, hít một hơi:
“Thế… con gọi là bố được không?”
Tuấn gật, không nói được lời nào. Anh ôm con thật chặt. Tôi thấy vai anh run lên.
Bà Dung ngồi trên ghế, hai tay buông thõng. Bà nhìn cảnh đó như nhìn một thứ gì xa lạ.
Một lúc sau, Tuấn buông Khôi ra, đứng dậy, quay sang mẹ anh. Gương mặt anh lúc này khác hẳn người đàn ông hay nín nhịn mà tôi quen.
“Mẹ nói cho con nghe. Bố viết thư, mẹ giữ. Con gửi mẹ cái phong bì tháng Bảy, bảo mẹ chuyển lời giúp con xin ý kiến bố vì ngày giỗ gần đến. Sao mẹ không đưa thư bố cho con?”
“Vì mày muốn đem nhà này cho người ngoài!” bà nấc lên. “Mảnh đất này ông Thọ cực nhọc cả đời mới có. Giờ chia cho Hải một nửa, mày một nửa, thêm thằng ranh kia nữa thì còn gì?”
“Con có đòi chia gì đâu?”
“Mày không đòi thì luật cũng bắt tao chia! Cô ta mà khôn thì đến lúc đó đã…”
Tôi cắt ngang:
“Chuyện thừa kế nếu có, tôi sẽ ký giấy cam kết không nhận phần nào cho Khôi, ngay hôm nay, trước mặt mọi người. Còn không, bà cứ giữ cái nhà, tôi chỉ cần con tôi được ăn cơm cùng bàn với anh em nó.”
Câu đó làm cả phòng im thin thít. Chị Vân khẽ lau mắt. Anh Hải nhìn xuống chân. Tôi thấy rõ anh không dám nhìn thẳng ai.
Tôi cảm giác có điều gì đó không khớp.
Nếu chỉ là chuyện đất, chuyện ông Thọ, thì Hải không việc gì phải cuống như vậy. Mà ngay lúc ấy, Tuấn quay sang hỏi mẹ một câu mà tôi suýt bỏ sót:
“Còn tám mươi lăm triệu con gửi mẹ giữ cùng phong bì đâu? Số tiền con làm thêm cuối tuần để lo thủ tục và gửi tiết kiệm cho Khôi ấy.”
Tôi quay phắt lại. Tám mươi lăm triệu? Một người nói với vợ rằng lương chỉ đủ tiền điện nước mà để dành tám mươi lăm triệu?
Tuấn nhìn tôi, thấy ánh mắt đó, anh ngượng ngùng cúi xuống:
“Mỗi cuối tuần anh đi lắp máy lạnh thêm. Anh nhận bảy tám chỗ một tháng. Anh không dám nói em, sợ em biết lại bắt anh nghỉ cho đỡ mệt.”
Tôi nhớ những buổi chiều Chủ nhật anh về, lưng áo mặn chát, nói là đi phụ việc cho đồng nghiệp. Mấy tháng trước tôi từng nghi anh có người khác. Cái ý nghĩ ng:oại tình lướt qua đầu tôi vài đêm, tôi tự xấu hổ rồi lại gạt đi. Hóa ra anh vắng nhà vì như thế.
Cổ họng tôi nghẹn lại, vừa giận vừa thương.
“Mẹ,” Tuấn nhắc lại. “Tiền đâu ạ?”
Bà Dung mím môi, mắt đảo ra cửa. Không ai đáp.
Anh Hải đằng hắng:
“Chú Tuấn… chắc mẹ để đâu đó thôi, lát tìm.”
“Không phải để đâu đó.” Chị Vân đột nhiên lên tiếng, giọng lạnh ngắt. Chị quay sang chồng. “Anh Hải, tuần trước anh bảo em là mẹ cho anh mượn tạm chút tiền trả nợ xe. Có phải số tiền đó không?”
Hải tái mặt.
“Em… em nói gì thế, chuyện này để sau…”
“Sau cái gì? Anh bảo mẹ cho mượn, mẹ mượn ở đâu ra? Mẹ có lương hưu hơn ba triệu một tháng!”
Bà Dung bật dậy, giọng khản đặc:
“Thôi! Đủ rồi! Tao cho thằng Hải mượn tám mươi lăm triệu của thằng Tuấn đấy! Thằng Hải bị người ta ép nợ, tao là mẹ, tao không thương nó thì thương ai? Tuấn nó có công ăn việc làm, nó kiếm lại được!”
Câu nói đó rơi xuống như một gáo nước lạnh.
Tuấn đứng chết lặng, không nói gì.
Tôi nhìn bà. Tôi thấy rõ một điều mà từ nãy tới giờ tôi chưa nhìn ra: trong căn nhà này, người được mẹ thương không phải Bin hay Khôi hay Tuấn. Người được thương là Hải, và những đứa còn lại chỉ là thứ để lấp chỗ trống mỗi khi Hải thiếu.
Tuấn hít một hơi dài, rồi nói, từng chữ rất chậm:
“Mẹ lấy tiền con làm thêm để cho anh Hải trả nợ. Mẹ giữ thư bố viết cho con. Mẹ cho cháu con ngồi ngoài hiên ăn cơm thừa. Mẹ nói với nó đây không phải nhà của nó.” Anh ngừng lại. “Mẹ, con chịu được hết, trừ chuyện cuối cùng.”
Bà Dung gào lên:
“Mày chọn đi! Mày chọn mẹ hay chọn mẹ con nó!”
Tuấn nắm tay tôi. Bàn tay anh ướt mồ hôi, lạnh ngắt, nhưng nắm rất chặt.
“Con chọn vợ con và con con. Con chưa bao giờ phải chọn giữa mẹ và họ, là mẹ ép con chọn. Mà đã phải chọn thì con chọn họ.”
Bà Dung loạng choạng lùi lại. Bà nhìn tôi bằng ánh mắt mà tôi sẽ nhớ rất lâu. Không còn sắc lẻm như lúc đầu, chỉ còn một thứ giận dữ đến cùng cực của người vừa thua mà không chịu nhận.
Tôi cúi nhặt chiếc bát cơm nhựa lăn lóc ở hiên, lúc nãy bà hất xuống. Tôi mang vào bếp, rửa thật sạch, múc cơm nóng, gắp gà, giò, canh măng vào đầy bát. Rồi tôi bưng ra mâm trong nhà, đặt đúng chỗ ngồi giữa tôi và Tuấn.
“Khôi, ra đây ăn với bố mẹ.”
Thằng bé ngập ngừng nhìn quanh. Thằng Bin đứng ở cửa, bất ngờ chạy lại, kéo tay Khôi:
“Anh Khôi ngồi cạnh em đi, em để phần đùi gà cho anh.”
Chị Vân bật khóc, ôm mặt quay đi. Anh Hải nhìn con trai rồi cúi đầu. Không ai còn đủ mặt dày để nói thêm câu nào.
Bữa cơm hôm đó là bữa im lặng nhất đời tôi. Nhưng con tôi ăn hết cả bát, và lần đầu tiên sau hai năm, con ăn mà không liếc nhìn bà nội.
Ăn xong, Tuấn đứng dậy, nói với cả nhà, không lớn tiếng nhưng ai cũng nghe:
“Hôm nay con xin phép thắp hương cho bố xong sẽ dọn đi. Con không còn ở đây nữa.”
Bà Dung ngồi trên ghế, mặt đanh lại:
“Mày bước ra khỏi cửa này thì đừng bao giờ quay lại!”
“Vâng,” Tuấn đáp. “Còn tám mươi lăm triệu, anh Hải, anh nhớ trả cho em trong hai tuần. Em sẽ nhờ chị Vân làm chứng. Chuyện anh không ký giấy thì em không ép, nhưng em cũng không bỏ.”
Hải gật đầu, mặt xám xịt, miệng lẩm bẩm gì đó mà tôi không nghe rõ.
Tôi vào phòng thu dọn đồ. Hai năm sống ở đây, vậy mà đồ của ba người chỉ vừa hai chiếc vali và một túi nilon. Khôi ngồi trên giường nhìn tôi xếp áo, bất chợt nói:
“Mẹ, mình đi thật hả? Con không sao đâu, con ngồi ngoài hiên cũng được mà.”
Tôi ôm con vào lòng.
“Không. Con không bao giờ phải ngồi ở đâu thấp hơn người khác nữa.”
Lúc chúng tôi khuân vali ra sân, Tuấn buộc đồ lên xe, tôi dắt Khôi đứng cạnh. Mặt trời đã lên cao, nắng chiếu xuống sân gạch ẩm nước đá. Bà Dung đứng trên hiên, không nói gì, tay bám lấy khung cửa. Anh Hải đã biến mất khỏi hiên từ lúc nào, tôi cũng không để ý.
Đúng lúc đó, một chiếc xe máy dừng ngoài cổng. Một người đàn ông mặc áo sơ mi trắng, tay cầm cặp tài liệu, bước xuống nhìn số nhà rồi hỏi vọng vào:
“Xin lỗi, nhà anh Nguyễn Anh Tuấn phải không ạ?”
Tuấn quay lại:
“Tôi đây. Có việc gì vậy anh?”
“Tôi bên công ty tài chính, đến gửi thông báo nhắc nợ. Anh là người đứng bảo lãnh cho khoản vay sáu trăm triệu của anh Nguyễn Anh Hải, đã quá hạn hai kỳ. Anh ký nhận giúp tôi.”
Tuấn đứng sững giữa sân. Tôi cảm thấy bàn tay anh đang nắm tay tôi lạnh đi từng chút một.
“Anh nhầm rồi,” anh nói, giọng khàn đặc. “Tôi chưa từng ký giấy bảo lãnh nào cả.”
Người đàn ông mở cặp, rút ra một tập hồ sơ, lật đến trang cuối, chỉ vào dòng chữ ký:
“Đây ạ. Chữ ký của anh, ngày hai mươi hai tháng Ba.”
Tuấn cầm tờ giấy. Tôi ghé nhìn qua vai anh. Nét chữ nghiêng nghiêng giống y như chữ ký trên tờ phiếu nhận nuôi con. Nhưng tôi nhớ rõ, tháng Ba năm nay Tuấn nằm viện suốt hai tuần vì viêm ruột thừa, tôi là người ký giấy cho anh.
Tôi quay lại nhìn lên hiên.
Bà Dung vẫn đứng đó, bàn tay siết chặt khung cửa đến trắng bệch. Môi bà mấp máy, và dù không nghe thấy tiếng, tôi vẫn đọc được từng chữ bà nói:
“Tao đã bảo là đừng về hôm nay.”
Tôi không đọc nhầm môi bà. Câu đó không dành cho Tuấn, cũng không dành cho tôi. Bà đang nói với một người đã biến khỏi hiên từ lúc nào mà không ai để ý.
Tôi quay phắt lại. Từ phía bếp vọng ra tiếng xe máy nổ lạch cạch ở ngõ sau.
“Anh Hải!”
Chị Vân nhanh hơn tôi. Chị lao qua sân, ra tới cổng sau đúng lúc Hải dắt xe ra khỏi bụi chuối. Chị không hét thêm tiếng nào, chỉ đứng chắn ngang đầu xe, rồi vươn tay rút luôn chìa khóa. Hải trợn mắt:
“Em điên à? Đưa đây!”
“Anh về đây ngồi xuống cho em,” chị Vân nói, giọng run nhưng không lùi nửa bước. “Hôm nay anh mà bước ra khỏi nhà này, em đưa Bin về ngoại, không quay lại nữa.”
Hải đứng cứng đờ. Anh ta nhìn quanh như người tìm đường thoát, rồi cúi gằm mặt, lê từng bước vào sân. Thằng Bin chạy ra ôm chân mẹ. Khôi đứng cạnh tôi, bàn tay nhỏ xíu siết chặt tay tôi.
Người đàn ông bên công ty tài chính vẫn đứng giữa sân với tập hồ sơ, vẻ lúng túng của người vô tình bước vào chuyện nhà người khác. Tôi bước tới.
“Anh cho tôi xem toàn bộ hợp đồng được không? Tôi là vợ anh Tuấn, và tôi làm kế toán.”
Anh ta do dự, nhưng nhìn gương mặt tái mét của Tuấn thì đưa. Tôi lật từng trang. Tôi quen đọc giấy tờ nên mắt tôi bắt được ngay những chỗ không ổn. Hợp đồng bảo lãnh ký ngày 22 tháng Ba. Không có dấu xác nhận ký trực tiếp tại quầy. Ô ghi người giao hồ sơ ghi tên Nguyễn Anh Hải. Kèm theo là bản sao căn cước của Tuấn.
“Hồ sơ này ai nộp?” tôi hỏi.
“Dạ, anh Hải nộp. Anh ấy nói anh Tuấn đang bận công việc, ký sẵn rồi, nhờ anh ấy mang lên.” Anh ta nuốt nước bọt. “Lúc đó bên em cũng có gọi xác nhận qua điện thoại, nhưng người nghe máy bảo đúng là anh Tuấn bảo lãnh.”
“Số điện thoại gọi xác nhận là số nào?”
Anh ta đọc. Tôi không cần mở danh bạ. Tôi nhìn sang Hải, và Hải nhìn xuống đất. Đó là số thứ hai của anh ta, số tôi từng thấy anh Tuấn lưu là “Anh Hải làm ăn”.
Tôi rút điện thoại ra, mở album ảnh, đưa cho Tuấn xem rồi giơ cho người đàn ông bên công ty tài chính:
“Tháng Ba anh Tuấn nhập viện mổ ruột thừa. Đây là giấy nhập viện ngày hai mươi, giấy ra viện ngày mùng ba tháng Tư, bên dưới là hóa đơn viện phí tôi thanh toán. Ngày hai mươi hai, chồng tôi nằm trên giường bệnh, tay cắm kim truyền. Anh ấy không thể đến ký bất cứ giấy nào, kể cả xuống quầy.”
Mặt người đàn ông biến sắc.
“Chị… chị nói vậy thì bên em phải báo lại cấp trên.”
“Anh cứ báo. Nhưng trước đó, phiền anh lập biên bản tại chỗ, ghi rõ anh Tuấn không thừa nhận chữ ký này và đề nghị tạm dừng mọi yêu cầu thanh toán đối với anh ấy cho đến khi cơ quan chức năng xác minh. Tôi sẽ ký làm chứng. Còn anh Tuấn sáng mai sẽ lên công an phường làm đơn tố giác.”
Tuấn quay sang nhìn tôi. Tôi thấy trong mắt anh có chút kinh ngạc, như chưa từng thấy vợ mình đứng thẳng như vậy. Tôi cũng chưa từng thấy mình như vậy. Nhưng khi con tôi đã bị bà đẩy ra hiên, tôi biết sau hôm nay tôi không thể lùi thêm bước nào.
Người đàn ông cắm cúi viết, xé giấy từ cuốn sổ nhỏ. Anh ta đọc lại cho chúng tôi nghe, Tuấn ký, tôi ký, anh ta ký, rồi để lại danh thiếp. Trước khi đi, anh ta nói nhỏ với Tuấn:
“Em nói thật, anh nên làm rõ chuyện này sớm. Khoản này còn lãi phạt, để lâu họ sẽ chuyển sang bên thu hồi nợ.”
Chiếc xe máy của anh ta vừa khuất đầu ngõ thì ngoài cổng có tiếng gọi lớn. Chú ruột của Tuấn, em út của ông Thọ, bước vào, theo sau là hai bác họ và một cô ở xa về. Họ đến sớm hơn dự kiến một tiếng, xách theo hoa quả và nhang. Chú nhìn quanh sân: bịch đá vỡ, vali chất bên xe, Hải mặt xám xịt, chị Vân đỏ hoe mắt, bà Dung đứng trên hiên run run.
“Cái gì thế này?” chú hỏi. “Hôm nay giỗ anh tôi mà cả nhà đứng ngoài sân thế này à?”
Không ai trả lời. Chú nhìn sang Tuấn.
“Chú,” Tuấn nói, giọng khàn nhưng rõ. “Hôm nay cháu xin chú và các bác làm chứng một việc. Có người dùng chữ ký của cháu để đứng ra bảo lãnh sáu trăm triệu. Cháu chưa hề ký.”
Cả sân lặng đi.
Tôi bước vào gian thờ, nơi bà Dung vừa lủi vào. Bà ngồi sụp xuống ghế, hai tay ôm chặt phần ngực áo, chỗ bà nhét xấp giấy lúc nãy. Tôi đứng trước mặt bà, nói khẽ:
“Xấp giấy trong áo bà. Đưa ra.”
“Không có gì hết.”
“Bà bảo Hải đừng về hôm nay. Nghĩa là bà biết hôm nay có người đến. Nghĩa là xấp giấy đó không chỉ có thư của bố chồng.” Tôi chìa tay ra. “Bà đưa, hoặc để tôi mời chú Sáu vào lấy.”
Chú Sáu, tức ông chú ruột của Tuấn, đã đứng ở cửa từ lúc nào. Ông bước vào, ánh mắt nghiêm lại:
“Chị dâu, chị đưa ra đi.”
Bà Dung nhìn ông một lúc rất lâu. Bàn tay bà buông ra. Xấp giấy tuột xuống đùi bà, vài tờ rơi lả tả trên nền gạch.
Tôi cúi nhặt từng tờ.
Tờ đầu là bản sao hợp đồng vay sáu trăm triệu, tên người vay Nguyễn Anh Hải, ngày ký tháng Ba. Tờ thứ hai là bản sao căn cước của Tuấn, đã bị photo đi photo lại đến mờ chữ. Tờ thứ ba khiến tay tôi lạnh đi.
Đó là một tờ giấy kẻ ô li, kín đặc chữ ký. Cùng một chữ ký nghiêng nghiêng, viết đi viết lại hàng chục lần, từ chỗ run rẩy, méo mó đến khi gần như giống hệt chữ ký của chồng tôi. Dòng cuối cùng gần như hoàn hảo.
Tôi giơ tờ giấy lên. Chị Vân đứng cạnh nhìn một lát, rồi bật ra một tiếng nghẹn:
“Nét chữ này là của anh Hải. Chữ ‘g’ ngoặc lên như vậy, em nhìn thuộc lòng.”
Bên dưới tờ giấy tập ký còn một xấp nữa, mỏng hơn, kẹp ghim. Tôi mở ra. Đó là sao kê chuyển khoản của một trang web cá độ trực tuyến, những dòng nạp tiền dày đặc, con số lớn đến mức tôi phải đọc lại hai lần. Tổng cộng hơn bốn trăm triệu. Dòng nạp cuối cùng là ngày hai tuần trước.
Tôi đưa tờ sao kê cho Tuấn. Anh đọc, môi mím lại, không nói gì.
Anh Hải bỗng quỳ phịch xuống nền sân.
“Anh xin em, Tuấn.” Giọng anh ta vỡ ra, khản đặc. “Anh chỉ định mượn tạm thôi. Anh gỡ lại được. Anh gỡ vài lần, đến lúc đó anh trả hết, chẳng ai biết. Nhưng càng gỡ càng sâu, họ gọi điện đe dọa, họ đến tận chỗ làm, họ bảo họ biết nhà mẹ ở đây. Anh sợ quá, anh không còn đường nào.”
Chị Vân giáng cho anh ta một cái t:át. Tiếng t:át vang lên trong cái sân đang im phăng phắc. Bin giật mình khóc thét. Chị Vân ôm lấy con, run rẩy, nước mắt lăn dài:
“Tám mươi lăm triệu ‘trả nợ xe’ anh bảo em tuần trước. Cái xe đó em đứng tên, nó nằm ở gara, chưa từng vay đồng nào! Anh nói dối em từng ấy năm, nói dối mẹ, rồi cuối cùng lôi cả em trai anh vào!”
Hải gục xuống, hai tay ôm đầu. Anh ta khóc, và đó là lần đầu tiên tôi thấy một người đàn ông ba mươi chín tuổi khóc như một đứa trẻ. Tôi không thấy hả hê, chỉ thấy lạnh.
Tôi quay lại phía bà Dung.
“Bà biết hết, đúng không?”
Bà ngồi bất động. Rất lâu sau, bà mới nói, giọng nhỏ lại hẳn, như không còn sức gào:
“Tôi biết từ tháng Hai. Nó quỳ trước mặt tôi, khóc như bây giờ. Nó bảo nếu không có người bảo lãnh thì người ta đến tận nhà. Tôi… tôi lấy bản sao căn cước thằng Tuấn gửi tôi giữ, đưa cho nó. Tôi chỉ nghĩ là cho nó mượn tạm.”
“Bà đưa nó tờ giấy tập ký?” tôi hỏi.
“Cái đó thì tôi không biết. Tôi chỉ giữ hộ nó. Nó bảo cất vào tủ thờ thì không ai dám động.”
Chú Sáu thở ra một hơi nặng nề. Ông nhìn bà Dung, ánh mắt không còn giận mà là một nỗi thất vọng sâu hơn:
“Chị dâu, chị đẩy thằng Tuấn vào cửa tù hay sao?”
Bà Dung ôm mặt, bờ vai gầy run lên.
“Tôi chỉ có hai thằng con. Thằng lớn dại thì tôi thương. Thằng nhỏ khôn thì tôi nghĩ nó chịu được. Tôi nghĩ nó chịu được…”
Câu nói đó rơi xuống làm tất cả im lặng. Tôi nghe thấy tiếng thở của Tuấn bên cạnh, rất chậm và rất nặng.
Anh bước tới trước mặt mẹ. Cả sân nín thở.
“Mẹ,” anh nói. “Mẹ giữ thư của bố, vì sợ con ra ở riêng thì không còn ai gánh cho anh Hải. Phải không?”
Bà không đáp, nhưng bà gục đầu xuống, và thế là đủ.
“Con tưởng mẹ ghét thằng Khôi vì họ, vì đất.” Giọng anh hơi nghẹn. “Hóa ra mẹ đẩy bé ra ngoài hiên vì mẹ sợ mất đứa con ngoan để dựa dẫm. Mẹ ơi, một đứa bảy tuổi chẳng làm gì mẹ cả.”
Bà Dung bỗng quỳ xuống nền gạch, ngay trước mặt anh, trước mặt cả họ. Tôi chưa từng nghĩ có ngày nhìn thấy bà quỳ.
“Mẹ xin con. Mẹ xin con đừng đi tố giác nó. Nó là anh con. Nó vào đó thì cả nhà này tan.”
Chú Sáu quay đi. Các bác họ im lặng. Chị Vân khóc không thành tiếng.
Tuấn đứng rất lâu. Rồi anh cúi xuống, đỡ mẹ đứng dậy. Anh không buông tay mẹ ra nhưng cũng không ôm.
“Mẹ đứng lên. Con không đòi mẹ quỳ.” Anh nhìn thẳng vào Hải. “Anh Hải, em hỏi anh một câu. Anh có thấy anh làm sai không, hay anh chỉ thấy sợ vì bị lộ?”
Hải ngẩng mặt lên, mắt đỏ ngầu.
“Anh sai. Anh sai thật. Anh dùng chữ ký của em, anh nói dối cả nhà, anh còn để mẹ đối xử với thằng Khôi như vậy mà không dám nói một lời.” Anh ta nghẹn lại. “Em muốn tố giác thì cứ tố giác. Anh chịu.”
Tuấn quay sang tôi, như xin ý kiến. Tôi hiểu: đây là lần đầu tiên anh không tự quyết một mình rồi mới báo, và cũng là lần đầu tiên tôi được hỏi trước.
Tôi nói ngắn gọn, đủ cho mọi người nghe:
“Em không muốn trả thù ai. Nhưng giấy bảo lãnh đó phải có tên người ký thật. Nếu anh Hải không đứng ra nhận, tên anh sẽ vẫn nằm đó và người ta sẽ truy thu từ anh. Việc đầu tiên là lấy tên anh ra khỏi giấy. Việc sau là gì thì để pháp luật và công ty tài chính quyết định, chứ không phải vì anh nhẹ dạ mà bỏ qua.”
Tuấn gật đầu. Anh nhìn Hải lần cuối:
“Sáng mai em lên công an phường. Anh đi cùng em. Anh khai đúng sự thật.”
Bà Dung ngồi sụp xuống ghế lần nữa, không nói gì thêm.
Chú Sáu tiến lên, đặt tay lên vai Tuấn:
“Cháu làm vậy là đúng. Nhà này có chuyện, chú đứng về phía người ngay.” Ông quay sang nhìn bà Dung, giọng dứt khoát. “Chị dâu, hôm nay là giỗ anh tôi. Tôi thay anh nói một câu: nếu anh còn sống, anh sẽ không để cháu mình ngồi ngoài hiên.”
Cả nhà không ai dám nói gì. Chú Sáu thắp nén hương đầu tiên lên bàn thờ ông Thọ. Tuấn thắp nén thứ hai. Tôi dắt Khôi đến, đặt vào tay con nén hương nhỏ.
“Con thắp hương cho ông.”
Khôi nhìn bà nội, nhìn tôi, rồi cầm hương, đứng nghiêm trước di ảnh, lễ ba lễ rất đàng hoàng, môi mấp máy gì đó rất khẽ. Tôi không nghe, chỉ thấy ánh mắt ông Thọ trên di ảnh dường như dịu lại.
Hôm đó chúng tôi vẫn dọn đi, nhưng không phải trong im lặng bỏ chạy như tôi nghĩ lúc đầu. Chú Sáu tiễn chúng tôi ra tận cổng. Chị Vân đứng ở cửa, ôm Bin, gật đầu với tôi một cái thật khẽ. Bà Dung không ra tiễn.
Sáng thứ Hai, Tuấn và Hải lên công an phường. Tôi mang theo toàn bộ hồ sơ: giấy nhập viện, biên bản hôm Chủ nhật, bản chụp tờ giấy tập ký, sao kê cá độ. Cán bộ ghi lời khai suốt gần ba tiếng. Hải khai đúng như những gì anh ta đã nói trong sân, không chối thêm một chữ. Chị Vân đến làm chứng về số tiền tám mươi lăm triệu.
Chuyện sau đó kéo dài hơn một tháng. Công ty tài chính cử người đến làm việc, sau khi xác minh nét chữ và đối chiếu hồ sơ bệnh án, họ rút tên Tuấn khỏi hợp đồng bảo lãnh. Họ cũng nhận lỗi quy trình xác minh sơ sài và hứa rà soát lại. Khoản nợ sáu trăm triệu và tiền phạt quay về đúng người đứng vay là Hải. Hồ sơ vụ việc vẫn được cơ quan chức năng tiếp tục xử lý theo quy định, nhưng việc Hải hợp tác đầy đủ và Tuấn không đòi bồi thường thêm khiến mọi thứ nhẹ đi nhiều.
Hải bán chiếc xe ô tô cũ, bán cả chiếc đồng hồ anh ta cất kỹ. Anh ta xin vào làm công nhân ca đêm ở khu công nghiệp, mỗi tháng gửi cho Tuấn một khoản trả dần tám mươi lăm triệu. Tháng đầu tiên chỉ có năm triệu, nhưng tin nhắn chuyển khoản nào cũng kèm một dòng: Anh xin lỗi.
Chị Vân đưa Bin về nhà ngoại ở một thời gian. Chị nói với tôi qua điện thoại, giọng bình tĩnh hơn tôi tưởng:
“Chị không bỏ anh ấy, nhưng chị cần thấy anh ấy sống khác đi. Một năm, hai năm cũng được. Chị chờ xem.”
Còn bà Dung, bà phải bán mảnh vườn phía sau, phần của riêng bà, để bù vào khoản nợ còn thiếu. Mảnh đất bà từng nói ông Thọ cực nhọc cả đời mới có, mảnh đất bà sợ Khôi chia phần, cuối cùng chính tay bà đem bán để cứu con mình. Tuấn không đòi một đồng, cũng không ký thêm bất cứ giấy tờ gì thay cho ai.
Hồ sơ nhận con nuôi được duyệt vào đầu tháng Mười Hai. Ngày đi nhận quyết định, Khôi mặc chiếc áo sơ mi trắng tôi vừa ủi, đứng nghiêm trước bàn cán bộ tư pháp. Cô cán bộ hỏi con:
“Con có đồng ý để chú Tuấn làm bố con không?”
Khôi quay sang nhìn Tuấn, rồi nhìn tôi, rồi nói to rõ, không run chút nào:
“Dạ, con đồng ý. Bố con là bố Tuấn ạ.”
Tuấn quay mặt đi, đưa tay quệt ngang mắt. Cô cán bộ mỉm cười, đóng dấu. Tên con tôi từ hôm đó thành Nguyễn Minh Khôi.
Mẹ con tôi và Tuấn dọn vào một căn hộ nhỏ thuê gần trường Khôi. Chỉ có hai phòng, nhưng có một cái bàn ăn tròn đủ chỗ cho ba người. Buổi tối đầu tiên ở đó, Khôi tự đặt ba cái bát lên bàn, không ai bảo, rồi ngồi xuống chiếc ghế sát bên Tuấn.
Gần Tết, chiều hai mươi sáu, tôi đang rửa rau trong bếp thì Khôi chạy vào, mắt tròn xoe:
“Mẹ ơi, có bà ở ngoài cửa.”
Tôi lau tay ra mở cửa. Bà Dung đứng ở bậc thềm, gầy hẳn đi, tóc bạc nhiều hơn, tay xách một túi nilon đỏ. Bà không còn vẻ hất cằm lên như ngày xưa. Bà đứng đó, người co lại như muốn nhỏ xíu, mắt không dám nhìn thẳng vào tôi.
“Tôi… tôi đi ngang qua,” bà nói, rồi ngưng, rồi lắc đầu. “Không phải. Tôi cố ý đến.”
Tôi không đáp, chỉ đứng lặng nhìn bà. Tuấn từ trong nhà bước ra, đứng cạnh tôi. Anh cũng im lặng.
Bà đưa cái túi lên.
“Có cái áo len. Tôi đan cho thằng bé. Tôi không biết cỡ nên đan hơi rộng.” Bà nuốt nước bọt, hít một hơi. “Tôi đan từ tháng Mười Một.”
Tôi nhìn cái túi, nhìn đôi bàn tay run run của bà. Tôi nhớ cái bát cơm nhựa, nhớ ánh mắt con tôi nhìn miếng đồ thừa, nhớ câu đây không phải nhà của mày. Tôi chưa quên và có lẽ cả đời cũng không quên được. Tôi không nói rằng tôi tha thứ. Nhưng tôi cũng không đóng cánh cửa.
“Khôi,” tôi gọi.
Con tôi bước ra, đứng cạnh chân tôi. Nó nhìn bà nội lâu thật lâu, mím môi, không nói.
Bà Dung cúi xuống, giọng nhỏ đến mức tôi phải căng tai mới nghe thấy:
“Khôi.”
Hai năm. Tôi đã đợi hai năm để nghe bà gọi con tôi bằng tên.
“Bà… bà xin lỗi con. Bà sai rồi. Bà nói ác với con, bà cho con ăn đồ thừa, bà… bà không xứng làm bà nội của con. Nhưng con nhận cái áo này, có được không?”
Khôi nhìn túi áo, rồi nhìn tôi. Tôi không gật, cũng không lắc. Đây là chuyện của con, tôi để con tự chọn.
Nó đưa tay ra, nhận lấy cái túi. Nó mở ra, kéo cái áo len màu xanh đậm ra, ướm lên người. Quả thật rộng thùng thình, tay áo dài quá cả bàn tay.
“Dạ, hơi rộng ạ,” con nói. “Nhưng mà ấm.”
Bà Dung bật khóc, đưa tay lên che miệng. Tuấn bước tới, nhẹ nhàng đặt tay lên vai mẹ.
“Mẹ vào nhà đi. Cơm sắp chín rồi.”
Bà ngạc nhiên nhìn anh, rồi nhìn tôi, như hỏi xin phép. Tôi gật đầu, tránh sang một bên.
Tối đó, ba người trở thành bốn người quanh cái bàn tròn nhỏ. Tôi múc cơm vào bốn cái bát, đặt đúng thứ tự, không ai thấp hơn ai. Khôi ngồi giữa, mặc chiếc áo len rộng thùng thình, tay áo xắn hai nấc.
Bà Dung gắp một miếng thịt, đặt vào bát Khôi, tay run.
“Con ăn đi.”
Khôi nhìn miếng thịt, nhìn bà, rồi ăn. Tôi thấy con ăn hết miếng đó, rồi tự gắp thêm một miếng bỏ vào bát bà.
“Bà ăn đi ạ.”
Bà Dung cúi đầu, nước mắt rơi xuống bát cơm. Bà không nói gì nữa, nhưng bữa cơm tối hôm đó không còn là bữa im lặng nhất đời tôi.
Nó chỉ là một bữa cơm bình thường, ở một cái bàn tròn bình thường, và lần đầu tiên, con tôi ngồi đúng chỗ của nó.
-HẾT-