GIỮA M:ÂM CƠM Đ:ÁM G:IỖ NHÀ CHỒNG, MẸ CHỒNG BẤT NGỜ CHỈ VÀO MẸ CON TÔI, C:ƯỜI KH:ẨY: “THỨ NHƯ NÓ THÌ CŨNG CHƯA CHẮC THẰNG NHỎ LÀ CHÁU TÔI ĐÂU!” CẢ BÀN HỌ HÀNG BỖNG IM B:ẶT, CHỒNG TÔI CÚI GẰM M:ẶT, CÒN BÀ VẪN THẢN NHIÊN GẮP THỨC ĂN NHƯ CHƯA TỪNG NÓI LỜI SỈ NHỤC. TÔI KHÔNG KH:ÓC, CHỈ Đ:ẶT ĐŨA XUỐNG VÀ HỎI: “MẸ MUỐN CON ĐƯA THẰNG BÉ ĐI XÉT NGHIỆM H:UYẾT THỐNG NGAY BÂY GIỜ, HAY MUỐN CON NÓI CHO CẢ NHÀ BIẾT VÌ SAO MẸ LUÔN S:Ợ KẾT QUẢ ẤY?” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Tờ giấy chưa kịp mở hết thì bà Thơm đã lao tới. Bà không cầm nổi cái ghế, nhưng bà cầm được cổ tay tôi, móng tay bấm sâu vào da.
“Đưa đây! Mày dám lục đồ của tao à? Mày là loại con dâu gì mà đi rình mò mẹ chồng!”
“Mẹ bỏ tay con ra.” Tôi nói, giọng thấp nhưng rõ từng chữ. “Bé Bơ đang nhìn.”
Bà khựng lại. Thằng Bơ đang đứng nép vào chân tôi, mắt tròn xoe, môi bắt đầu mếu. Bà Thơm buông tay ra, nhưng mắt vẫn găm vào tờ giấy như thể đó là con dao kề cổ.
Chú Sáu, chồng cô Liên, đẩy ghế đứng dậy, giọng nặng nề:
“Thơm, bà để con bé đọc. Đã nói ra thế thì phải rõ ràng. Không thì cái tiếng này nó mang suốt đời.”
“Chú đừng có xen vào chuyện nhà tôi!”
“Chuyện này là chuyện của cả họ rồi.” Bác Cả đặt ly rượu xuống, giọng trầm. “Con Ngân đọc đi.”
Tôi nhìn sang anh Dũng. Anh vẫn đứng đó, mặt xám ngoét, hai tay buông thõng. Anh không bênh mẹ, cũng không bênh tôi. Tôi hít một hơi, giơ tờ giấy lên.
“Đây là phiếu kết quả xét nghiệm của bệnh viện, đứng tên bà Nguyễn Thị Thơm. Ngày xét nghiệm là mười tám năm trước. Dòng in đậm cuối trang ghi: nhóm m:áu O.”
Cả bàn ngơ ngác. Có người thì thầm: “Nhóm máu thì có gì lạ?”
“Có chứ ạ.” Tôi tiếp tục. “Con có sổ khám của anh Dũng, nhóm m:áu AB. Con có sổ tiêm chủng của bé Bơ, nhóm m:áu AB. Ba người trong nhà này đều có hồ sơ. Chỉ có nhóm máu của mẹ là O.”
Bác Cả nhíu mày, rồi chợt đưa tay lên miệng. Ông là người duy nhất trong họ từng học y tá thời chiến. Chú Sáu cũng bắt đầu hiểu, vì ông quay phắt sang nhìn bà Thơm.
“Mẹ nhóm O, không thể sinh ra con nhóm AB, trừ khi ba của anh Dũng là nhóm AB hoặc B.” Tôi nói chậm. “Nhưng ông nội, theo hồ sơ quân đội con thấy trong hộp bánh đó, là nhóm m:áu O.”
Không ai nói gì. Ngay cả tiếng quạt trần cũng nghe thấy rõ.
“Mày… mày đừng có bịa!” Bà Thơm gào lên, giọng vỡ ra. “Cái giấy đó là giả!”
“Giấy giả thì bà sợ cái gì?” Cô Liên chen vào, mắt trợn tròn. “Chị Thơm, chị nói đi. Chị sợ cái gì mà bảy năm nay không dám ẵm cháu lâu?”
Anh Dũng bật ra một tiếng nghẹn:
“Mẹ… mẹ nói gì đi.”
Bà Thơm quay sang anh, mắt đỏ ngầu:
“Con tin cái con vợ này hơn tin mẹ à? Mẹ nuôi con ba mươi bốn năm, mẹ khổ cả đời vì con!”
“Mẹ trả lời con.” Anh nhìn bà, cổ họng lên xuống. “Con là con của ai?”
Bà Thơm im lặng. Rất lâu. Rồi bà ngồi phịch xuống ghế, hai vai sụp xuống, như vừa già đi hai chục tuổi.
“Con là con mẹ.” Bà nói, giọng khàn đặc. “Mẹ đẻ con ra. Chuyện đó không ai cãi được.”
“Nhưng ba con thì sao?”
Bà nhắm mắt.
“Ba con… không phải ông nội.”
Cả mâm cơm như vỡ tung. Có người thốt lên, có người đứng bật dậy, cô Liên hét lên: “Trời ơi!” Bác Cả lắc đầu nhìn bà, ánh mắt mà tôi chưa từng thấy ở ông. Anh Dũng đứng đó, mặt trắng bệch như tờ giấy.
Tôi cũng đứng yên. Tôi chưa từng định đẩy câu chuyện đến mức này. Tôi chỉ muốn bà thôi nghi ngờ con tôi. Nhưng đã mở ra thì không thể đóng lại.
“Vì vậy mẹ luôn sợ xét nghiệm huyết thống.” Tôi nói khẽ. “Mẹ sợ nếu bé Bơ làm xét nghiệm với ông nội, rồi so với anh Dũng, người ta sẽ hỏi tiếp tại sao anh Dũng lại không khớp với ông.”
“Mày biết hết từ bao giờ?” Bà Thơm hỏi, giọng gần như thì thầm.
“Từ hôm Bơ nhập viện. Mẹ không chịu hiến m:áu, vì mẹ sợ bác sĩ hỏi nhóm m:áu của mẹ và của anh Dũng. Hôm đó con thấy lạ, nhưng chưa dám nghĩ.” Tôi dừng lại. “Tuần trước con dọn tủ thuốc, con thấy cái hộp bánh. Trong đó không chỉ có phiếu xét nghiệm. Còn có cái này.”
Tôi lấy từ túi áo ra một tấm ảnh cũ, ố vàng ở mép. Trong ảnh là một thanh niên mặc áo sơ mi trắng, đứng cạnh một người phụ nữ trẻ mặc áo dài. Người phụ nữ đó là bà Thơm, hai mươi mấy tuổi, đang cười rất tươi. Mặt sau ảnh có dòng chữ viết tay: “Gửi Thơm, mãi nhớ. Hà Nội, tháng 5.”
Anh Dũng cầm tấm ảnh, tay run bần bật.
“Người này là ai?”
“Là…” Bà Thơm nghẹn lại, nước mắt trào ra. “Là người mẹ yêu trước khi lấy ba… trước khi lấy ông nội con. Hồi đó ông ấy đi xa, mẹ lấy chồng rồi mới biết mình có… có con.”
Bà ôm mặt, khóc nức lên. Tiếng khóc của bà khiến cả họ lặng đi, không ai biết nên thương hay nên giận.
“Ông nội con biết không?” Anh Dũng hỏi.
“Ông ấy biết.” Bà ngẩng lên, mắt sưng húp. “Ngay từ ngày con chào đời, ông ấy nhìn nhóm máu của con là biết. Nhưng ông ấy bảo mẹ: con của em thì là con của anh. Ông nuôi con như con ruột, đến lúc ông mất. Ông dặn mẹ đừng bao giờ nói, vì ông sợ con tủi.”
Cả phòng im lặng. Bác Cả gục đầu, tay xoa mặt. Chú Sáu thở dài một hơi thật dài.
Tôi nhìn anh Dũng. Anh ngồi sụp xuống ghế, mắt đỏ hoe, nhưng không khóc. Tôi bước tới, đặt tay lên vai anh. Anh giật mình, rồi nắm lấy tay tôi, siết rất chặt.
“Em xin lỗi.” Tôi nói. “Em không muốn nói ra trước mặt cả họ. Nhưng mẹ đã nói con em không phải cháu mẹ, em không thể im được.”
“Anh biết.” Anh nghẹn ngào. “Anh sai. Anh cúi đầu cho mẹ sỉ nhục em, sỉ nhục con. Anh sai quá.”
Anh quay sang nhìn mẹ, giọng run run nhưng rõ:
“Mẹ, từ nay mẹ không được nói thằng Bơ không phải cháu mẹ. Nó là con con. Con là con của ông nội, vì ông nuôi con ba mươi mấy năm. Còn bé Bơ là máu mủ của con, ai cũng không được nghi ngờ.”
Bà Thơm nhìn anh, rồi nhìn tôi. Lần đầu tiên sau bảy năm, bà cúi đầu trước tôi.
“Mẹ… mẹ xin lỗi con. Mẹ sợ, mẹ cứ sợ người ta biết… nên mẹ đẩy hết lên đầu con.”
Tôi không đáp ngay. Cơn giận trong tôi vẫn chưa nguội, nhưng nhìn người phụ nữ sáu mươi hai tuổi đang khóc nấc trước mặt cả họ, tôi chợt thấy cổ họng nghẹn lại.
“Mẹ có thể xin lỗi con.” Tôi nói. “Nhưng mẹ phải xin lỗi bé Bơ nữa. Nó đã nghe mẹ nói mẹ không nhận nó.”
Bà Thơm quay sang thằng bé. Thằng Bơ nép sau lưng tôi, mắt vẫn đỏ. Bà cúi xuống, giọng run run:
“Bơ ơi, bà xin lỗi con. Con là cháu bà. Con là cháu ruột của bà.”
Thằng bé nhìn bà một lúc, rồi chìa chiếc bánh quy ra:
“Bà ăn bánh đi, bà đừng khóc.”
Cả phòng bật lên tiếng nấc nghẹn. Bà Thơm ôm chầm lấy cháu, khóc đến run cả người.
Bữa giỗ hôm đó kết thúc trong im lặng. Họ hàng lần lượt ra về, không ai nói thêm lời nào. Tôi dọn mâm, anh Dũng phụ tôi rửa bát, hai vợ chồng không ai nói chuyện, nhưng tay anh cứ chạm vào tay tôi mỗi lần đưa chén.
Tối đó, sau khi cho Bơ ngủ, tôi ra phòng khách. Bà Thơm đang ngồi một mình dưới ánh đèn vàng, tay cầm tấm ảnh cũ. Tôi định quay vào thì bà gọi:
“Ngân.”
Tôi dừng lại.
“Mẹ còn một chuyện muốn nói với con. Chuyện này mẹ chưa nói với ai.”
Bà đưa cho tôi một chiếc phong bì cũ, mép giấy đã sờn, trong đó là một lá thư viết tay và một xấp ảnh chụp.
“Người đàn ông trong ảnh, mẹ không nói hết sự thật. Ông ấy không bỏ đi. Ông ấy vẫn sống. Mười năm nay, ông ấy vẫn gửi tiền cho mẹ mỗi tháng, qua một người lạ.” Bà nhìn thẳng vào tôi, mắt đầy hoảng sợ. “Và tháng trước, ông ấy nhắn rằng ông ấy đã biết mặt cháu nội. Ông ấy đang ở thành phố này.”
Tôi cầm phong bì, bàn tay lạnh toát. Lá thư đầu tiên có chữ ký, và dưới chữ ký là một cái tên mà tôi đã nghe rất nhiều lần, ở một nơi tôi không ngờ tới: tên của giám đốc công ty nơi tôi làm kế toán suốt tám năm nay.
Tôi đọc dòng chữ ký đó ba lần. Không nhầm được. Ông Trần Quang Hải, giám đốc công ty tôi, người tám năm nay vẫn gật đầu chào tôi mỗi sáng ở thang máy, người từng ký quyết định tăng lương cho tôi năm ngoái.
Bà Thơm ngồi đối diện, hai tay đan chặt vào nhau, run lên từng đợt.
“Mẹ nói thật đi.” Tôi đặt lá thư xuống bàn. “Ông ấy là ai với mẹ, và ông ấy muốn gì ở nhà mình?”
“Ông ấy là người mẹ yêu hồi hai mươi ba tuổi.” Bà nói khẽ. “Ông ấy đi du học, hẹn ba năm về cưới mẹ. Mẹ chờ, chờ mãi không thư từ. Ông nội con ngỏ lời, nhà mẹ nghèo, mẹ nhận lời. Cưới được hai tháng thì mẹ biết mình có thai. Đến lúc ông ấy về nước thì mẹ đã là vợ người ta.”
“Rồi sao nữa?”
“Mười năm trước, ông ấy tìm được mẹ. Ông ấy bảo biết hết rồi, biết Dũng là con ông ấy. Ông ấy không đòi nhận, chỉ gửi tiền mỗi tháng, bảo là trả nợ cho mẹ. Mẹ không dám đụng vào, cứ để trong tài khoản. Mẹ sợ.”
“Sợ cái gì?”
“Sợ ông ấy đến nhận con. Sợ ông nội con dưới suối vàng biết được. Sợ cả cái nhà này tan.” Bà nhìn tôi, mắt đỏ. “Tháng trước ông ấy nhắn, bảo thấy cháu nội ở cổng trường mẫu giáo, giống hệt ông ấy hồi nhỏ. Ngân, mẹ không biết ông ấy làm ở công ty con. Mẹ thề.”
Tôi ngồi lặng. Bao nhiêu mảnh ghép tự ghép lại. Ông Hải từng hỏi tôi con trai mấy tuổi, học trường nào, rồi cười bảo trẻ con bây giờ khôn lắm. Tôi cứ tưởng đó là câu xã giao của một ông sếp tốt bụng.
Tôi gấp lá thư lại, đứng lên.
“Mẹ đưa con xem sổ tài khoản ông ấy gửi tiền.”
Bà Thơm sững người. “Con định làm gì?”
“Con làm kế toán. Con cần biết có bao nhiêu tiền, từ đâu ra, và có sạch không.” Tôi nói. “Con không tin ai trước khi nhìn thấy số liệu.”
Bà lục trong ngăn tủ, đưa tôi cuốn sổ tiết kiệm đã cũ. Mỗi tháng đúng hai mươi triệu, đều đặn mười năm, tổng hơn hai tỷ bốn trăm triệu. Người gửi là một cái tên công ty lạ, không phải tên ông Hải.
Tôi chụp ảnh từng trang, lòng lạnh dần. Số tiền lớn thế này, nếu đi qua công ty thì đã có dấu vết. Mà tôi là người giữ sổ sách công ty.
Sáng hôm sau, tôi đến công ty sớm hơn thường lệ. Văn phòng còn vắng, tôi mở dữ liệu kế toán, tìm tên công ty gửi tiền. Chưa đến mười phút, tôi thấy nó. Một nhà cung cấp ảo, hóa đơn khống, chuyển tiền đều mỗi tháng từ quỹ công ty. Hai mươi triệu, đúng ngày mười lăm hằng tháng.
Tay tôi tê đi. Ông Hải đã dùng tiền công ty để gửi cho bà Thơm suốt mười năm. Và người ký duyệt chi mỗi tháng là kế toán trưởng cũ, người tôi thay thế cách đây tám năm.
Ông ấy không chỉ muốn nhận con. Ông ấy đã biến tôi thành người giữ hộ một khoản chi sai phạm mà tôi chưa hề hay biết. Chỉ cần một đợt kiểm toán, người ngồi ghế kế toán là tôi sẽ bị réo tên đầu tiên.
Mười giờ, tôi gõ cửa phòng giám đốc.
“Em vào đi.” Ông Hải ngẩng lên, nụ cười quen thuộc.
Tôi đóng cửa, đặt lên bàn ông cuốn sổ tiết kiệm cùng bản in dữ liệu chi tiết.
“Anh Hải. Em muốn nói chuyện về chuyện này.”
Nụ cười của ông tắt hẳn. Ông nhìn cuốn sổ rất lâu rồi dựa lưng vào ghế.
“Mẹ chồng em nói với em rồi.”
“Mẹ nói hết. Nhưng em muốn nghe từ anh.” Tôi nhìn thẳng vào ông. “Anh biết Dũng là con anh từ khi nào, và vì sao anh để em làm việc dưới quyền anh tám năm mà không nói gì?”
“Anh biết từ mười năm trước. Còn chuyện em vào công ty…” Ông lắc đầu. “Là trùng hợp thật. Khi anh phát hiện Dũng là chồng em thì em đã làm ở đây ba năm. Anh không nói, vì anh không có quyền phá vỡ cuộc sống của ba người.”
“Vậy hai mươi triệu mỗi tháng từ quỹ công ty thì sao?” Tôi đẩy bản in về phía ông. “Em là người giữ sổ sách. Anh có nghĩ nếu bị kiểm toán thì ai sẽ chịu trách nhiệm không?”
Mặt ông tái đi. “Anh định hoàn trả. Anh có làm giấy ghi nợ nội bộ.”
“Giấy ghi nợ nội bộ không thay được hóa đơn khống.” Tôi nói, giọng đều đều dù tim đập như muốn vỡ. “Em cho anh hai lựa chọn. Một, anh tự điều chỉnh sổ sách, hoàn trả toàn bộ số tiền vào quỹ công ty bằng tài sản cá nhân, ký văn bản xác nhận khoản chi đó là của anh, không dính tới em. Hai, em báo cáo hội đồng quản trị ngay hôm nay.”
Ông nhìn tôi, im lặng. Rồi ông bật cười khẽ, không phải cười nhạo.
“Em giống mẹ chồng em hồi trẻ. Cứng, không chịu cúi.”
“Em giống chính em.” Tôi đáp. “Anh chọn đi.”
Ông Hải gọi luật sư của công ty ngay trong chiều. Ba ngày sau, ông hoàn trả hai tỷ bốn trăm triệu bằng việc bán một căn nhà ở quận Ba. Văn bản xác nhận ký tên ông, có công chứng, nói rõ đây là khoản chi cá nhân sai quy định, không liên quan đến bất cứ nhân viên nào. Ông còn ký quyết định cho tôi nghỉ việc có thời hạn, đủ ba tháng lương, để tôi tự chọn rời đi hay ở lại.
Tối đó, tôi kể hết cho anh Dũng. Anh ngồi nghe, không ngắt lời. Khi tôi nói xong, anh im lặng rất lâu.
“Ông ấy muốn gặp anh.” Tôi nói. “Nhưng em bảo ông ấy chờ anh quyết định.”
“Em lo cho công ty, lo cho cả anh, mà không nói với anh trước.” Anh nói khẽ.
“Em nói với anh bây giờ.” Tôi đáp. “Vì lần trước, khi mẹ sỉ nhục em, anh đã im lặng. Em không muốn giữ thêm chuyện nào mà anh phải im lặng lần nữa.”
Anh cúi đầu. Rồi anh nắm tay tôi, rất chặt.
“Anh xin lỗi. Anh sẽ không im nữa.”
Tuần sau, anh Dũng gặp ông Hải ở một quán cà phê nhỏ, không có tôi, không có bà Thơm. Anh về nhà, mắt đỏ nhưng giọng bình thản. Anh bảo hai người đàn ông, mỗi người một ly cà phê, nói chuyện hơn hai tiếng. Ông Hải không đòi nhận con, chỉ xin được thỉnh thoảng gặp. Anh Dũng không hứa gì, chỉ nói:
“Cha tôi là người đã nuôi tôi ba mươi mấy năm. Ông ấy mất rồi. Còn ông, ông là người tôi sẽ học cách biết.”
Tôi nghe mà thấy lòng nhẹ đi. Không phải tất cả mọi chuyện đều có đáp án gọn gàng.
Về phía bà Thơm, bà không còn đẩy sợ hãi lên đầu ai nữa. Ngày đầu tiên sau giỗ, bà tự dậy sớm nấu cháo cho thằng Bơ, tự tay buộc dây giày cho nó đi học. Bà không xin tôi tha thứ thêm lần nào, nhưng mỗi lần tôi đi làm về muộn, bà đều để lại một phần cơm trong nồi cơm điện, đậy nắp cẩn thận.
Một buổi chiều, tôi đón Bơ ở cổng trường. Thằng bé chạy ra, cầm một bức tranh vẽ cả nhà: có bố, có mẹ, có bà, có cả một người đàn ông cao cao đứng bên cạnh, không rõ mặt.
“Ai đây con?” Tôi hỏi.
“Con không biết.” Bơ nhìn bức tranh, nghiêng đầu. “Nhưng con thấy có người đứng đó, nên con vẽ vào.”
Tôi cười, xoa đầu con. Rồi tôi nhìn về phía cuối đường, nơi một chiếc xe màu đen đang đậu, cửa kính hạ xuống một nửa, người ngồi bên trong khẽ gật đầu chào, rồi ung dung lái đi.
Tôi không đuổi theo. Tôi nắm tay Bơ, cùng con đi về nhà, nơi bà Thơm đang đứng ở cửa, tay cầm khăn lau, mắt hướng ra đầu ngõ đón hai mẹ con.
Bữa cơm tối hôm đó, bà gắp cho tôi miếng cá to nhất.
“Ăn đi con. Dạo này con gầy.”
Hai chữ “con” ấy, bảy năm làm dâu tôi chưa từng nghe bà gọi.
Tôi nhìn anh Dũng, nhìn thằng Bơ đang cắm cúi bới cơm, nhìn người phụ nữ sáu mươi hai tuổi từng khiến tôi nuốt nước mắt suốt bảy năm. Mọi bí mật đã được nói ra, mọi cái giá đã được trả. Ngôi nhà không hoàn hảo, nhưng không còn ai phải sống trong sợ hãi.
Tôi cầm đũa lên, gắp miếng cá vào bát, và ăn bữa cơm đầu tiên thật sự thuộc về mình.
–HẾT–