GIỮA Đ:ÁM G:IỖ NHÀ CHỒNG, MẸ CHỒNG TÔI NHÌN TỪ ĐẦU ĐẾN CHÂN RỒI MỈA MAI TRƯỚC M:ẶT HỌ HÀNG: “C:ON G:ÁI NHÀ NGHÈO, CHA MẸ KHÔNG CÓ T:IỀN DẠY DỖ, AI BIẾT TRƯỚC KHI LẤY CHỒNG ĐÃ SỐNG ĐÀNG HOÀNG HAY CHƯA? THẰNG BÉ MANG HỌ NHÀ NÀY, CHỨ CÓ MANG DÒNG M:ÁU NHÀ NÀY HAY KHÔNG THÌ CHƯA CHẮC!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

GIỮA Đ:ÁM G:IỖ NHÀ CHỒNG, MẸ CHỒNG TÔI NHÌN TỪ ĐẦU ĐẾN CHÂN RỒI MỈA MAI TRƯỚC M:ẶT HỌ HÀNG: “C:ON G:ÁI NHÀ NGHÈO, CHA MẸ KHÔNG CÓ T:IỀN DẠY DỖ, AI BIẾT TRƯỚC KHI LẤY CHỒNG ĐÃ SỐNG ĐÀNG HOÀNG HAY CHƯA? THẰNG BÉ MANG HỌ NHÀ NÀY, CHỨ CÓ MANG DÒNG M:ÁU NHÀ NÀY HAY KHÔNG THÌ CHƯA CHẮC!” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và văn bản

(Tiếp theo phần 1)

Bà Hòa lao tới định giật chiếc phong bì, nhưng cô Lệ đã đứng chắn trước mặt bà.

“Chị dâu đừng động vào. Anh Thịnh dặn phải mở trước mặt cả họ, không phải trước mặt riêng chị.”

“Các người dàn cảnh!” Bà Hòa gào lên, giọng the thé. “Anh Quý, anh định hùa với con đàn bà này à? Nó ng:oại t:ình, tôi có bằng chứng trong tay!”

“Bằng chứng nào?” Bác Quý hỏi, mắt không rời bà. “Cái phiếu khám của trường à? Đưa đây anh xem.”

Bà Hòa siết tờ giấy vào ngực. Bác Quý không đòi nữa. Bác chống gậy bước tới giữa nhà, bóc lớp băng keo vàng đã giòn ra từng mảnh. Cả gian nhà im đến mức tôi nghe rõ tiếng khói hương cháy tí tách trên bàn thờ.

Trong phong bì có ba thứ: một lá thư viết tay hai mặt giấy, một tờ giấy có dấu đỏ của bệnh viện, và một bản sao giấy khai sinh đã ngả màu.

Bác đưa lá thư cho cô Lệ. “Em đọc đi, mắt anh kém rồi.”

Cô Lệ đeo kính, mở thư, giọng run run nhưng rõ từng chữ:

“Gửi anh Quý và các em. Khi anh đọc những dòng này thì tôi đã không còn nữa. Tôi viết vì sợ một ngày nào đó có người đem chuyện dòng m:áu ra làm khổ thằng Khôi và mẹ nó. Thằng Khôi là cháu đích tôn nhà họ Nguyễn, mang đúng m:áu của tôi. Ai nghi ngờ mẹ con nó, tức là nghi ngờ tôi.”

Tôi ôm chặt Khôi. Thằng bé ngước lên nhìn tôi, hỏi khẽ: “Mẹ ơi, ông nội viết gì thế ạ?” Tôi chỉ vuốt tóc con, không trả lời được.

Cô Lệ nuốt khan, đọc tiếp:

“Tờ giấy bệnh viện kèm theo là xác nhận của bệnh viện huyện năm 2012. Phiếu khám nghĩa vụ trước đó ghi sai nhóm m:áu của thằng Dũng. Dũng nhóm O, không phải AB. Tôi đã xin giấy này để sau này nó không bị oan.”

Cả họ xôn xao. Anh Dũng đứng chết lặng cạnh bàn thờ. Tôi nhìn thấy bàn tay anh run lên, rồi thò vào túi quần, rút ra cái ví cũ, lật tấm thẻ hiến m:áu anh làm từ thời đại học. Anh đặt nó lên mâm, không nói gì. Trên thẻ ghi rõ: Nhóm O.

Tôi hít một hơi thật sâu. Đây là lúc tôi phải làm điều mà bảy năm qua tôi chưa từng làm: không nhịn nữa.

“Mẹ,” tôi nói, giọng bình tĩnh đến mức chính mình cũng ngạc nhiên. “Phiếu khám sức khỏe của Khôi, nhà trường phát cho con, con cất trong cặp của cháu. Mẹ lấy nó lúc nào?”

Bà Hòa mím môi, quay mặt đi. Khôi lí nhí từ trong lòng tôi:

“Hôm thứ Bảy bà nội xem cặp con. Bà bảo bà xem hộ có tờ giấy gì không. Rồi bà cất đi.”

Mấy người họ hàng quay sang nhìn nhau. Có người ho khẽ, có người lắc đầu.

“Vậy là mẹ đã lục cặp một đứa trẻ sáu tuổi, lấy giấy tờ của cháu, mang đến đám giỗ bố, rồi nói con ng:oại t:ình,” tôi nói, từng chữ rõ ràng. “Con hỏi mẹ một câu thôi. Tại sao hôm nay? Tại sao không phải tháng trước, năm ngoái? Tờ giấy đó nằm trong cặp cả học kỳ nay.”

“Tôi… tôi thấy chướng thì nói!” Bà Hòa cãi, nhưng giọng đã yếu hẳn.

Bác Quý cười một tiếng khô khốc.

“Em nói dối. Em sợ. Từ khi chú Thịnh m:ất, ba năm nay em cứ khất lần chuyện sang tên nhà đất. Anh nhắc mấy lần, em đều bảo để từ từ. Hôm nay em muốn đuổi mẹ con nó đi trước khi anh kịp mở cái này, đúng không?”

Cả họ sững lại. Tôi nghe tiếng ai đó thở hắt ra. Anh Dũng quay phắt sang mẹ.

“Mẹ… chuyện sang tên nhà là sao? Mẹ nói với con là thủ tục rườm rà, cần thêm giấy tờ.”

Bà Hòa không đáp. Bác Quý đưa nốt tờ giấy còn lại cho tôi. “Con đọc đi. Cái này phải để con đọc.”

Tôi cầm lấy. Đó là bản sao giấy khai sinh, mực đã nhạt. Họ và tên: Nguyễn Tiến Dũng. Ngày sinh: ba mươi bốn năm trước. Dòng ghi họ tên mẹ không phải Hòa. Mà là Trần Thị Mai.

Tôi đọc to lên, giọng lạc đi. Anh Dũng giật lấy tờ giấy. Anh nhìn rất lâu, như thể chữ trên đó không phải tiếng Việt.

“Cái gì đây?” Anh nói, giọng khàn đặc. “Mẹ… mẹ tên Hòa. Con là con mẹ.”

Không ai trả lời. Bà Hòa ngồi sụp xuống ghế mây, hai tay che mặt.

Cô Lệ lật sang mặt sau lá thư, đọc tiếp, giọng đã nghẹn:

“Thằng Dũng là con tôi với chị Mai, người vợ đầu. Chị Mai bị đuổi khỏi nhà khi thằng bé chưa đầy hai tuổi, vì bà nội nó nói chị có người khác. Chuyện đó là vu oan, sau này tôi mới biết. Khi tôi cưới Hòa, thằng bé ba tuổi. Hòa nuôi nó như con ruột, tôi biết ơn. Nhưng tôi không dám nói thật vì sợ mất mẹ của nó. Tôi nhờ Hòa kể với thằng bé rằng mẹ ruột đã m:ất. Tôi tin ngày nào đó nó sẽ đủ lớn để nghe sự thật. Tôi viết lá thư này vì tôi sợ mình không kịp.”

Cả gian nhà đứng im như bị ai rút hết không khí. Tôi nhìn sang chồng. Anh Dũng đứng đó, tờ giấy rung bần bật trong tay, mắt dán chặt vào bà Hòa.

“Mẹ nói đi.” Giọng anh vỡ ra. “Mẹ nói với con là mẹ ruột con ch:ết rồi. Mẹ nói suốt ba mươi mấy năm.”

Bà Hòa ngẩng lên, nước mắt giàn giụa, nhưng tôi không thấy thương. Tôi chỉ thấy nhẹ nhõm, và cay.

“Mẹ nuôi con hai mươi mấy năm trời,” bà nức nở. “Mẹ lo từng bữa ăn, từng cái áo. Con nghĩ lại xem, mẹ có thiếu của con thứ gì không?”

“Mẹ không thiếu,” anh Dũng nói, mắt đỏ ngầu. “Nhưng mẹ nói dối con.”

“Mẹ sợ mất con!”

“Còn Ngọc?” Anh chỉ về phía tôi, tay vẫn run. “Còn vợ con, cháu con? Mẹ sợ mất con nên mẹ vu cho vợ con ng:oại t:ình giữa đám giỗ bố sao?”

Bà Hòa mở miệng, nhưng không thốt ra được chữ nào.

Tôi bước tới. Lần này tôi không còn đứng sau lưng chồng nữa.

“Mẹ ơi,” tôi nói, “mẹ vừa nói thằng bé mang họ nhà này nhưng chưa chắc mang dòng m:áu nhà này. Giờ sự thật là, người không mang dòng m:áu nhà này chính là mẹ. Con không nói để làm mẹ đau. Con nói để mẹ hiểu, mẹ đã dùng câu đó làm tổn thương một đứa trẻ sáu tuổi vô tội như thế nào.”

Tôi quay sang Khôi, quỳ xuống ngang tầm mắt con.

“Khôi, ông nội đã viết thư để bảo vệ con. Con nhớ chưa? Con là cháu ngoan của ông. Hôm nay có người nói sai, nhưng không phải lỗi của con.”

Thằng bé gật đầu, nước mắt chảy dài. Nó chạy tới ôm chân bố, giọng non nớt: “Bố ơi, bố đừng buồn.”

Anh Dũng cúi xuống bế con lên. Vai anh rung lên từng nhịp, và lần đầu tiên sau bảy năm, tôi thấy anh khóc trước mặt người khác.

Bác Quý hắng giọng, giọng nghiêm hẳn:

“Còn một việc nữa. Chú Thịnh để lại di chúc, anh giữ bản gốc. Căn nhà này và mảnh đất sau vườn để lại cho Dũng và thằng Khôi. Hòa được ở lại đến hết đời, với điều kiện không được gây khó dễ cho con dâu cháu nội. Em đã vi phạm điều kiện đó ngay hôm nay, trước mặt hai chục người.”

Bà Hòa ngồi chết lặng. Có tiếng thì thầm lan ra khắp phòng. Một bà cô nói nhỏ nhưng ai cũng nghe: “Ra là vậy. Bao năm nay chị ấy cứ khất cái chuyện sang tên.”

Tôi nhìn bà Hòa, rồi nhìn chồng. Anh vẫn bế Khôi, nhưng ánh mắt anh đã khác. Anh đặt con xuống, đứng thẳng người, và nói bằng giọng tôi chưa từng nghe:

“Mẹ. Con xin lỗi vì hôm nay mẹ phải nghe những chuyện này trước mặt cả họ. Nhưng con còn xin lỗi nhiều hơn với Ngọc. Bảy năm, mỗi lần mẹ nặng lời, con đều im. Con cứ nghĩ im là hiếu. Hôm nay con mới hiểu im lặng là để mẹ làm tổn thương vợ con.”

Anh quay sang tôi, nắm lấy tay tôi trước mặt mọi người.

“Ngọc, anh xin lỗi em. Anh không xứng làm chồng em hôm nay. Nhưng anh sẽ sửa.”

Tôi không nói gì. Có những lời xin lỗi không cần trả lời ngay.

Bà Hòa đứng dậy, bước tới, định nói gì đó. Anh Dũng giơ tay ngăn.

“Mẹ khoan. Con cần thời gian. Mẹ ở lại nhà. Con đưa vợ con về nhà con. Khi nào con bình tĩnh, con sẽ gọi mẹ.”

“Dũng…” Bà bật khóc nức nở. “Con không thể bỏ mẹ…”

“Con không bỏ mẹ. Nhưng con cần biết sự thật. Mẹ nói dối con ba mươi mấy năm, con cần thời gian.”

Bà Hòa khuỵu xuống. Cô Lệ đỡ bà ngồi lên ghế. Cả họ im lặng, không ai nói thêm.

Chúng tôi dọn dẹp qua loa, rồi ra về. Anh Dũng xách túi, tôi nắm tay Khôi. Bước qua cổng, tôi quay lại nhìn lần cuối. Bà Hòa ngồi bất động bên bàn thờ ông Thịnh, nhỏ bé hẳn đi giữa gian nhà đông người.

Bác Quý chống gậy tiễn chúng tôi ra tận cổng. Bác nhìn anh Dũng, rồi nói rất khẽ:

“Dũng. Lá thư chú con viết còn một dòng cuối, bác chưa cho cô Lệ đọc.”

Anh Dũng khựng lại. “Dòng gì ạ?”

Bác Quý lấy từ trong áo ra một mảnh giấy nhỏ gấp làm tư, đưa cho anh. Anh mở ra, đọc, và tôi thấy mặt anh trắng bệch.

“Mẹ ruột con không m:ất. Bà ấy vẫn sống, ở quê ngoại con. Bố gửi t:iền cho bà ấy mỗi tháng đến ngày bố đi.”

Anh ngẩng lên, giọng lạc đi: “Bác… sao bác không nói sớm?”

“Bác không nói được,” bác Quý đáp, mắt nhìn ra phía đầu ngõ. “Vì ba năm nay, người ta gửi t:iền đó, không phải bố con.”

Tôi nhìn theo ánh mắt bác. Ở góc cây đa đầu ngõ, một người phụ nữ gầy gò đội nón lá cũ đang đứng đó từ bao giờ, hai tay nắm chặt quai chiếc túi vải. Bà đang nhìn thẳng về phía chồng tôi, môi mấp máy như muốn gọi một cái tên đã nín nhịn suốt ba mươi mấy năm.

Anh Dũng đứng chôn chân giữa cổng, mảnh giấy nhỏ vẫn run trong tay. Khôi kéo tay áo tôi, thì thầm: “Mẹ ơi, bà kia là ai thế ạ?”

Tôi không trả lời được. Cổ họng tôi nghẹn cứng.

Bác Quý chống gậy tiến lên một bước, giọng khàn đi: “Dũng. Đó là mẹ con. Chị Mai.”

Người phụ nữ ở gốc đa nghe thấy tên mình thì giật bắn, tay đưa lên kéo thấp vành nón như muốn giấu đi cả khuôn mặt. Bà gầy, lưng hơi còng, chiếc áo bà ba nâu bạc màu giặt đến sờn cổ. Nhưng khi bà ngẩng lên, tôi giật mình. Đôi mắt ấy, cái cách khóe mắt xệ nhẹ về phía thái dương, tôi đã nhìn thấy mỗi sáng trên gương mặt chồng mình suốt bảy năm.

Anh Dũng bước đi, từng bước một, như người đang lội qua nước sâu. Đến cách bà ba bước chân thì anh dừng lại. Bà cũng đứng im, hai tay siết chặt quai túi, môi mím đến trắng bệch.

“Dũng…” Bà gọi, giọng vỡ ra từng mảnh. “Con… con lớn thế này rồi…”

Anh không đáp. Cổ anh chuyển động khó nhọc.

“Con tưởng mẹ ch:ết rồi,” anh nói, từng chữ rơi xuống như đá. “Ba mươi mấy năm, con thắp hương cho mẹ mỗi dịp rằm. Con khấn mẹ phù hộ cho con.”

Bà Mai bật khóc, không thành tiếng, chỉ có vai run bần bật.

“Mẹ chưa ch:ết. Mẹ chỉ không được lại gần con.” Bà lau mặt bằng vạt áo. “Hồi đó con chưa đầy hai tuổi. Bà nội con bảo mẹ có người khác, đuổi mẹ ra khỏi nhà ngay trong đêm. Mẹ xin ẵm con theo, bà không cho. Mẹ quỳ ngoài cổng ba ngày ba đêm. Bố con đứng trên thềm, nhìn mẹ, không nói một lời.”

Tôi nghe đến đó mà thấy lạnh sống lưng. Đứng trên thềm, nhìn, không nói một lời. Tôi liếc sang chồng mình, thấy mặt anh cũng tái đi. Có lẽ anh vừa nhận ra điều tôi nhận ra. Cái im lặng ấy, anh được thừa hưởng từ cha.

Bà Mai nói tiếp, giọng đều đều như thể câu chuyện đã được kể thầm cả chục nghìn lần trong đầu:

“Về quê, mẹ khóc đến mờ cả mắt. Mấy năm sau bố con mới biết mẹ bị oan, ông ấy nhờ bác Quý đưa t:iền cho mẹ mỗi tháng. Mẹ không dám đến gặp con. Mẹ sợ con thấy mẹ rồi đòi đi theo, lại làm khổ con với bà Hòa. Chị ấy nuôi con tử tế, mẹ biết, mẹ không dám phá.”

Tôi ngạc nhiên khi nghe bà nhắc đến bà Hòa bằng giọng không hằn học. Từ sau lưng chúng tôi, tiếng bước chân gấp gáp vang lên.

Bà Hòa đã chạy ra tới cổng. Tóc bà rối, nước mắt còn vương trên má. Có lẽ bà vừa nghe được những câu cuối. Bà đứng sững, hai bàn tay bấu vào cánh cổng sắt.

Cả bốn người nhìn nhau. Hai người đàn bà tuổi gần sáu mươi, một người nuôi lớn đứa trẻ, một người sinh ra nó, đứng đối diện nhau lần đầu tiên sau ba mươi bốn năm.

“Chị Hòa,” bà Mai lên tiếng trước, giọng nhẹ như gió. “Lâu rồi mới gặp.”

Bà Hòa không đáp. Môi bà mấp máy, mắt lảng đi chỗ khác.

Bác Quý hắng giọng, phá vỡ sự im lặng.

“Em Hòa, anh hỏi em một câu, em trả lời cho thật. Ba năm nay, từ ngày chú Thịnh m:ất, ai gửi t:iền cho chị Mai mỗi tháng?”

Bà Hòa mở miệng, rồi khép lại.

“Tháng nào cũng ba triệu,” bác Quý nói tiếp. “Anh hỏi ngân hàng, người ta cho anh xem tên người chuyển. Nguyễn Thị Hòa. Là em.”

Anh Dũng quay phắt sang mẹ nuôi. Tôi thấy ánh mắt anh hoang mang như người lạc đường, không biết nên giận hay nên thương.

“Mẹ?” Anh nói, giọng khàn khàn. “Mẹ gửi t:iền cho mẹ ruột con? Vậy mà mẹ bảo mẹ ruột con ch:ết rồi?”

Bà Hòa ngồi thụp xuống bậc cổng, hai tay ôm đầu gối. Sau một lúc rất lâu, bà mới nói, từng đoạn đứt quãng:

“Mẹ đọc cuốn sổ của bố con, sau khi bố con đi. Trong đó có số tài khoản, có địa chỉ, có ghi tháng nào cũng phải gửi. Mẹ ngồi cả đêm. Mẹ nghĩ, nếu mẹ ngừng thì chị ấy sống làm sao? Mẹ cứ gửi. Mẹ tự nhủ gửi cho đỡ tội.”

“Đỡ tội gì?” Tôi hỏi, lần đầu tiên chen vào. Giọng tôi bình tĩnh, nhưng tim đập dồn dập. “Mẹ, con hỏi thật. Mẹ gửi t:iền cho mẹ ruột anh Dũng suốt ba năm, nghĩa là mẹ biết mình có tội. Vậy sao hôm nay mẹ còn đem tội ấy đổ lên đầu con?”

Bà Hòa ngẩng lên nhìn tôi. Lần đầu tiên, trong ánh mắt bà không còn vẻ cao ngạo. Chỉ còn sự cùng quẫn của một người bị dồn vào chân tường.

“Vì mẹ sợ,” bà nói. “Mẹ sợ cái chuyện sang tên nhà. Bác Quý nhắc mẹ mấy lần. Muốn sang tên phải có giấy khai sinh đầy đủ của Dũng, trên đó ghi tên mẹ ruột nó. Mẹ giấu tờ giấy đó trong tủ ba năm nay. Mẹ viện cớ thủ tục rườm rà, cớ này cớ nọ. Nhưng bác Quý không bỏ, mẹ biết sớm muộn cũng lộ.”

“Nên mẹ chọn đúng ngày giỗ bố,” tôi nói chậm rãi, “chọn lúc cả họ có mặt, vu cho con ng:oại t:ình, để anh Dũng quay sang giận con. Anh ấy lo giải quyết chuyện vợ chồng, thì mẹ có thời gian kéo dài. Mẹ cũng nghĩ, nếu con bị đuổi đi, bác Quý sẽ chẳng còn ai để bênh, chuyện giấy tờ chìm xuống?”

Bà Hòa không nói gì. Im lặng của bà là câu trả lời.

Tôi hít một hơi sâu. Trong người tôi chẳng còn tiếng nói nào của một cô con dâu nhẫn nhịn. Chỉ có cơn giận đã lắng thành một thứ gì đó lạnh và rõ ràng.

“Mẹ có biết điều làm con đau nhất hôm nay không?” Tôi nói. “Không phải vì mẹ bảo nhà con nghèo. Con nghèo thật, con không giận. Mà vì mẹ dùng chính câu chuyện mẹ ruột anh Dũng từng gánh để làm với con. Người ta vu bà ấy có người khác rồi đuổi đi. Mẹ biết nó đau thế nào, vậy mà mẹ làm lại với một người đàn bà khác, trước mặt cả họ, trước mặt con trai con.”

Bà Hòa bật khóc nấc lên, bàn tay che miệng.

“Mẹ… mẹ cũng từng bị bà nội con nói như thế,” bà lắp bắp. “Hồi mẹ mới về làm dâu, bà bảo mẹ là đồ nhà quê, đồ không có dòng giống. Mẹ khóc suốt hai năm. Mẹ nghĩ làm dâu thì phải thế…”

“Phải thế ạ?” Tôi hỏi lại, không to, nhưng cả cổng im lặng nghe rõ. “Chính mẹ từng bị đối xử như vậy, mẹ hiểu nó đau, vậy mà mẹ không dừng lại. Mẹ đem đúng cái đau đó truyền cho con.”

Tôi nghe tiếng cô Lệ thở dài phía sau. Cả họ hàng đã kéo ra đứng đầy trước cổng, ai nấy lặng thinh.

Bà Mai khẽ bước lại gần bà Hòa. Tôi tưởng bà sẽ nổi giận, sẽ quát mắng, sẽ tát vào mặt người đàn bà đã chiếm chỗ của mình. Nhưng bà chỉ đứng đó, nhìn bà Hòa rất lâu rồi nói:

“Chị Hòa, tôi biết chị nuôi Dũng. Chuyện đó tôi cảm ơn chị cả đời. Tôi cũng biết chị gửi t:iền cho tôi. Chuyện đó tôi cũng nhớ ơn.”

Bà Hòa ngẩng lên, mắt đỏ hoe, gần như không tin vào tai mình.

“Nhưng chuyện hôm nay chị làm với con dâu tôi,” bà Mai nói tiếp, giọng vẫn nhẹ mà rắn như thép, “thì tôi không thể cảm ơn được. Tôi là người từng bị đuổi ra khỏi cái nhà này vì một lời vu oan. Tôi biết người ta nhìn mình bằng ánh mắt gì. Tôi nhìn con bé Ngọc cầm tay thằng bé, đứng chắn trước mặt chị, tôi thấy chính mình hồi hai mươi hai tuổi. Chỉ khác là nó không quỳ.”

Câu nói ấy làm tôi nghẹn ngào. Bà quay sang nhìn tôi, nở một nụ cười run run.

“Con bé này giỏi hơn mẹ nhiều.”

Tôi không kìm được nữa. Nước mắt tôi chảy xuống, ấm nóng trên má. Khôi ôm chặt chân tôi, nhìn bà Mai bằng đôi mắt tròn xoe, rồi thò tay ra nắm lấy vạt áo bà. Bà Mai cúi xuống, ngập ngừng đặt bàn tay xương xẩu lên đầu thằng bé.

“Con tên là Khôi phải không?” Bà hỏi. “Giống ông nội con lúc nhỏ lắm.”

Anh Dũng đứng nhìn cảnh đó, bờ vai chùng xuống. Rồi anh quỳ xuống giữa sân, ngay trước mặt mẹ ruột mình, hai tay ôm lấy đôi bàn tay chai sạn của bà.

“Mẹ…” anh gọi, tiếng gọi rách cả cổ họng. “Con xin lỗi. Con xin lỗi vì ba mươi mấy năm không tìm mẹ.”

“Không phải lỗi của con,” bà Mai nức nở, vuốt tóc anh như vuốt tóc một đứa trẻ. “Không phải lỗi của con đâu.”

Tôi lùi lại để dành chỗ cho mẹ con họ. Bác Quý lau mắt bằng ống tay áo, quay mặt đi chỗ khác. Không ai ở đó nói thêm điều gì. Cả sân im lặng, chỉ có tiếng chim sẻ nhảy trên mái ngói.

Một lúc sau, bà Mai móc trong túi vải ra một thứ gói trong chiếc khăn tay đã ngả màu. Bà mở từng nếp gấp, đưa cho anh Dũng.

Là một cuốn sổ tiết kiệm.

Anh mở ra, và tôi thấy tay anh run lên. Từng dòng, từng tháng, từng khoản ba triệu, rồi sáu triệu, rồi chín triệu, cộng dồn suốt mấy chục năm. Không một lần rút.

“Mẹ không dám tiêu,” bà Mai nói. “Bố con gửi mẹ, mẹ bảo mẹ nuôi thân được, số này là của con. Mẹ tích lại, tính đợi một ngày con lớn, con cần lấy vợ, cần mua nhà. Ai ngờ con lớn từ lúc nào mẹ cũng không biết.”

Anh Dũng gục xuống vai bà, khóc không thành tiếng. Tôi cũng khóc, và lần đầu tiên trong cả buổi sáng, tôi thấy lòng nhẹ đi.

Một lúc rất lâu, anh mới đứng dậy. Anh quay sang bà Hòa, vẫn ngồi bệt trên bậc cổng.

“Mẹ.”

Bà Hòa ngẩng lên, hai mắt sưng húp.

“Con nợ mẹ chuyện nuôi con lớn,” anh nói chậm rãi, từng chữ như đã cân nhắc rất kỹ. “Con không quên ơn đó. Nhưng mẹ nợ vợ con một lời xin lỗi, và mẹ nợ mẹ Mai ba mươi mấy năm. Con không để mẹ bỏ qua cả hai chuyện đó.”

Anh quay sang tôi, giọng nhẹ hơn:

“Ngọc, em quyết đi. Em muốn mẹ làm gì thì làm. Anh sẽ không bảo em nhịn nữa.”

Tất cả mọi người nhìn về phía tôi. Tôi đứng đó, giữa sân, trong tiếng thở nén của hai chục người họ hàng. Tôi nghĩ đến chiếc đĩa xôi bưng bằng tay trái, đến câu nói nhà nghèo không ai dạy dỗ, đến tờ phiếu khám trong cặp con tôi.

“Con không muốn đuổi mẹ đi,” tôi nói. “Bố đã để lại di chúc cho mẹ ở lại căn nhà này đến hết đời, con không muốn làm trái lời bố. Nhưng con có ba điều kiện.”

Bà Hòa nhìn tôi, hơi thở nặng nhọc.

“Một. Mẹ xin lỗi con trai con trước. Không phải xin lỗi con. Xin lỗi Khôi. Vì thằng bé sáu tuổi, hôm nay đứng giữa cả họ nghe người ta nghi ngờ mình có phải con của bố nó hay không. Cái đó nó sẽ nhớ cả đời.”

Bà Hòa gật đầu, rất khẽ.

“Hai. Chuyện sang tên nhà đất làm ngay tuần này, đủ giấy tờ, ghi rõ ràng, có bác Quý chứng kiến. Giấy khai sinh của anh Dũng trả về cho anh Dũng. Từ nay không còn tờ giấy nào bị giấu trong tủ nữa.”

Bác Quý gật đầu mạnh một cái.

“Ba.” Tôi dừng lại, quay sang bà Mai. “Mẹ Mai được ghi tên vào gia phả nhà này, là vợ cả của bố Thịnh và là mẹ đẻ của anh Dũng. Từ nay giỗ chạp, Tết nhất, mẹ phải được mời về, ngồi đúng chỗ của mẹ. Danh dự của mẹ bị người ta lấy đi ba mươi bốn năm, cả họ phải trả lại.”

Cô Lệ òa khóc. Bác Quý bước lên, quỳ một chân xuống trước mặt bà Mai dù tuổi đã cao, hai tay chắp lại.

“Chị Mai, em xin lỗi chị. Ngày đó cả họ biết chị bị oan mà không ai dám nói. Em cũng là một trong những người im lặng.”

Bà Mai vội đỡ bác dậy: “Bác đứng lên đi, bác đừng làm thế.”

“Không,” bác Quý lắc đầu. “Để em quỳ. Em nợ chị ba mươi mấy năm.”

Tôi nhìn cảnh đó, thấy cổ họng mình khô khốc. Hóa ra không chỉ một mình bà Hòa có lỗi. Cả cái họ này, từ trên xuống dưới, đã im lặng quá lâu. Cái im lặng ấy, giống y như cái im lặng của chồng tôi suốt bảy năm qua.

Chúng tôi quay vào nhà. Cả họ lần lượt trở lại gian giữa, nơi bàn thờ ông Thịnh vẫn nghi ngút khói hương. Khôi đứng cạnh tôi, tay nắm chặt vạt áo.

Bà Hòa bước lên. Bà không nhìn tôi, mà quay sang thằng bé. Hai đầu gối bà chạm xuống nền gạch lạnh.

“Khôi,” bà nói, giọng run đến mức tôi tưởng bà không nói nổi. “Bà nội xin lỗi con. Bà nói sai rồi. Con là cháu bà, là cháu ông nội, không ai được nghi ngờ con. Bà xin lỗi vì đã làm con sợ.”

Khôi nhìn mẹ, rồi nhìn bà nội. Thằng bé lúng túng một lúc rồi đáp lí nhí, đúng cái giọng đã học được từ ngày bé:

“Dạ… bà nội đứng lên đi ạ. Đau chân đấy ạ.”

Bà Hòa bật khóc, ôm chầm lấy cháu. Tôi không ngăn. Dù sao thì thằng bé vẫn là cháu nội của bà.

Một lúc sau, bà ngẩng lên nhìn tôi. Tôi biết bà đang chờ.

“Con nhận lời xin lỗi của mẹ,” tôi nói. “Nhưng nhận không có nghĩa là con quên. Mẹ ở lại nhà này, tụi con ở nhà tụi con. Mỗi cuối tuần tụi con về thăm mẹ. Khi nào mẹ chứng minh được mẹ khác đi, thì mình tính tiếp.”

Bà Hòa gật đầu, lau nước mắt.

“Còn một chuyện nữa,” tôi nói thêm. “Hôm nay con đã nói mai con cho cháu đi xét nghiệm ADN. Con không rút lời. Con không làm để chứng minh với mẹ. Con làm để sau này, khi Khôi lớn lên, cháu có trong tay một tờ giấy không ai dám hỏi lại.”

Anh Dũng nhìn tôi, rồi quay sang mẹ ruột và mẹ nuôi.

“Em nói đúng,” anh nói. “Ngày mai, anh dẫn hai mẹ con đi. Anh làm cùng.”

Mười ngày sau, kết quả xét nghiệm được gửi về. Anh Dũng mở phong bì trong căn bếp nhỏ nhà chúng tôi, tay hơi run. Anh đọc to dòng chữ cuối: xác suất quan hệ cha con, chín mươi chín phẩy chín mươi chín phần trăm. Anh gấp tờ giấy lại, cất vào chiếc phong bì cũ đã sờn mép, chính chiếc phong bì từng dán băng keo vàng của ông Thịnh, nằm cạnh lá thư viết tay hai mặt giấy.

Anh nhìn tôi, nói khẽ: “Không ai hỏi lại nữa rồi em.”

Tôi chỉ gật đầu. Có những thứ chẳng cần chứng minh với ai, nhưng có một tờ giấy trong tay vẫn khiến lòng nhẹ hơn.

Tuần sau, thủ tục sang tên hoàn tất. Bác Quý đứng ra chứng kiến, bà Hòa tự tay đưa chiếc giấy khai sinh đầy đủ ra khỏi ngăn tủ giấu kín suốt ba năm. Tờ giấy ấy hơi ố vàng, mép góc quăn lại, nhưng trên đó, tên bà Mai nằm đúng chỗ của nó. Cô Lệ còn tự tay chép lại gia phả, thêm dòng chữ ngay ngắn: Trần Thị Mai, vợ cả của ông Nguyễn Văn Thịnh, mẹ đẻ của Nguyễn Tiến Dũng.

Bà Mai nhìn dòng chữ ấy rất lâu, rồi bật khóc, lần đầu tiên không phải vì tủi.

Anh Dũng chuyển hết số tiền trong cuốn sổ tiết kiệm sang một tài khoản mới đứng tên bà, dù bà nhất quyết từ chối. Anh nói: “Đây là tiền của bố gửi cho mẹ. Mẹ cứ giữ, đừng lo cho con.” Bà im lặng mãi, cuối cùng chỉ nhận một nửa, bảo nửa còn lại để dành cho thằng Khôi sau này đi học.

Bà Hòa ở lại căn nhà cũ một mình. Mấy tuần đầu bà ít nói, ăn cơm cũng chẳng còn nhiều. Nhưng cuối tuần nào chúng tôi về, tôi cũng thấy trong bếp có thêm một thứ gì đó: nồi canh nấu sẵn, đĩa nem rán còn nóng, lọ dưa muối bà tự làm. Bà không nói gì, chỉ đặt lên bàn rồi lui ra ngoài, như sợ làm phiền.

Một chiều chủ nhật, tôi thấy bà đứng ở cửa bếp, tay cầm chiếc muôi, lúng túng nói:

“Ngọc này, mẹ… mẹ để muối hơi nhiều, con nếm thử xem.”

Đó là lần đầu tiên bà hỏi ý kiến tôi về bất cứ chuyện gì.

Tôi nếm thử, gật đầu: “Vừa ạ. Mẹ nấu ngon.”

Bà quay mặt đi, nhưng tôi thấy khóe mắt bà long lanh.

Đến tháng Mười hai, dịp giỗ thứ ba mươi sáu ngày mất của ông bà nội chồng, cả họ lại tề tựu. Lần này, bà Mai ngồi ở vị trí đầu bàn thờ bên nữ, đúng chỗ của người vợ cả. Bà vẫn mặc chiếc áo bà ba nâu, nhưng lưng đã thẳng hơn nhiều. Khôi ngồi sát bên bà, líu lo kể chuyện lớp Một, bà nghe say sưa như nghe chuyện cổ tích.

Sáng hôm đó, tôi vào bếp từ năm giờ, như mọi năm. Bà Hòa đã dậy từ lâu. Bà đang đồ xôi, tay phải vén tóc, nghe tiếng tôi vào thì quay lại.

“Ngọc,” bà nói, rất khẽ. “Hôm nay để mẹ bưng đĩa xôi lên bàn thờ nhé.”

Tôi nhìn bà. Bà đứng đó, hai bàn tay nắm chặt tạp dề, ánh mắt không còn cao ngạo, cũng không còn sợ hãi.

“Dạ,” tôi mỉm cười. “Mẹ bưng đi ạ.”

Bà đỡ đĩa xôi bằng cả hai tay, bước từng bước chậm rãi về phía gian giữa. Trên bàn thờ, ông Thịnh vẫn mỉm cười trong khung ảnh cũ.

Còn tôi quay lại cạnh bà Mai, ngồi xuống chiếc ghế nhựa nhỏ, nhặt từng cọng rau thơm. Khôi chạy lại, nhét vào tay tôi một viên kẹo, thì thầm: “Mẹ ơi, hôm nay nhà mình vui nhỉ.”

Tôi nhìn con, nhìn người đàn bà tóc bạc bên cạnh, nhìn chồng đang cùng bác Quý đặt mâm cúng ở phía xa, rồi nhìn chiếc cổng nhà họ Nguyễn mở toang đón nắng sớm.

Bảy năm qua, tôi từng nghĩ bước chân vào cánh cổng này là đi vào một cuộc chịu đựng không có hồi kết. Hóa ra có những cánh cổng chỉ cần một người dám đứng thẳng lưng, là cả một gia đình bắt đầu đứng thẳng theo.

–HẾT–