Cậu ta vứt bộ máy đồng hồ lên mặt tủ kính của tôi rồi bảo cả phố nghe rằng ông thợ vỉa hè này vừa tráo đồ của một bà cụ tám mươi mốt tuổi

“Ông ngồi cái tủ kính vỉa hè mà ông dám đụng vào hàng của người ta à?”

“Cậu nói cái đồng hồ nào?”

“Cái đồng hồ vàng mặt trắng bà cụ gửi ông. Bộ máy trong đấy bị tráo rồi.”

“Cậu mở ra rồi à?”

“Tôi mở. Tôi làm nghề này, tôi nhìn phát biết.”

Tôi tên Ứng, sáu mươi tư tuổi, sửa đồng hồ ở góc phố này bốn mươi năm.

Cái tủ kính của tôi rộng bằng hai cánh cửa, trên mặt tủ có tấm nỉ xanh và cái kính lúp kẹp mắt.

Cậu đứng trước mặt tôi tên Trúc, hai mươi tám tuổi, con ông chủ tiệm đồng hồ lớn ngoài mặt phố kia.

“Bà cụ nào hả cậu?”

“Bà cụ tóc bạc, đi cái xe đạp cũ. Bà ấy vừa mang sang tiệm tôi kêu đồng hồ chạy sai.”

“Bà Lượt.”

“Ông còn nhớ tên.”

“Tôi nhớ.”

“Thế thì ông cũng nhớ ông đã làm gì với cái máy bên trong.”

“Tôi thay một cái chân kính vỡ.”

“Ông thay chân kính mà cả bộ máy đổi luôn à?”

“Cậu bảo bộ máy đổi là đổi thế nào?”

“Bộ máy nguyên bản của nó là máy cũ, đúng đời. Bây giờ trong đấy là một cái máy khác, hàng thường, giá bằng một phần mười.”

Tôi để cái nhíp xuống tấm nỉ.

Lúc ấy là chín giờ sáng, vỉa hè đang đông, hàng nước bên cạnh có bốn năm người ngồi.

“Bà cụ đâu?”

“Ngồi ngoài tiệm tôi. Bà ấy khóc từ nãy.”

“Bà ấy khóc thì cậu để bà ấy ngồi đấy à?”

“Chứ tôi làm gì? Tôi bảo bà ấy sự thật thôi.”

“Sự thật gì?”

“Rằng cái đồng hồ chồng bà ấy để lại giờ chỉ còn cái vỏ.”

Tôi đứng lên khỏi cái ghế gỗ.

Bốn mươi năm tôi ngồi cái ghế ấy, một ngày đứng lên chừng ba bốn lần, phần lớn là để lấy đồ trên nóc tủ.

“Cậu đưa bà ấy sang đây.”

“Ông định nói vòng vo cho bà cụ mềm lòng chứ gì.”

“Tôi định hỏi bà ấy một câu.”

“Câu gì?”

“Câu mà cậu chưa hỏi.”

Cậu ấy không đi.

Cậu ấy rút điện thoại ra, gọi ai đó, nói ngắn, rồi cất vào túi.

“Bố tôi sang bây giờ. Ông nói với bố tôi.”

“Vâng.”

“Ông ngồi cái chỗ này bao lâu rồi?”

“Trước tiệm nhà cậu tám năm.”

“Thì tám năm ngồi hè vẫn là ngồi hè.”

Hàng nước bên cạnh có tiếng cười.

Bà Lượt sang lúc gần mười giờ, dắt cái xe đạp bên cạnh.

Bà ấy tám mươi mốt tuổi, ở trong ngõ sau lưng tôi, một mình, chồng mất mười chín năm rồi.

“Bác Ứng ơi.”

“Bà ngồi xuống đã.”

“Bác ơi có phải bác…”

“Bà ngồi xuống cái ghế này.”

Bà ấy ngồi xuống, hai tay đặt lên đùi, mấy ngón tay run.

Cậu Trúc đứng chống nạnh cạnh cái tủ kính của tôi.

“Bà nói cho ông ấy nghe bà đã trả bao nhiêu.”

“Tôi trả bác Ứng ba trăm.”

“Ba trăm. Rồi trong ruột nó là cái máy hai trăm nghìn.”

“Bà Lượt, cái đồng hồ ấy, từ lúc ông nhà mất đến hôm bà mang sang tôi, bà có đưa cho ai mở ra chưa?”

Bà ấy nghĩ một lúc.

“Có bác ạ. Tôi mang ra tiệm ngoài phố hai lần.”

Cậu Trúc quay phắt lại.

“Bà mang ra tiệm nào?”

“Tiệm nhà cậu.”

“Không có chuyện đấy.”

“Có mà cậu. Lần đầu cách đây bốn năm, lần sau năm ngoái.”

“Bà nhầm rồi. Bà già rồi bà nhớ lộn tiệm.”

“Tôi nhớ cái cửa kính có dán con hươu.”

Cậu ấy im mất một nhịp.

Ngoài mặt phố kia, cửa kính tiệm nhà cậu ấy có dán một con hươu bằng giấy bóng, dán từ lâu, góc dưới đã bong.

“Bốn năm trước tôi còn đi học.”

“Vâng, cậu đi học. Nhưng tiệm cậu vẫn mở.”

“Ông đừng có lái sang nhà tôi.”

“Tôi không lái. Tôi hỏi bà cụ, bà cụ trả lời.”

Ông Bái, bố cậu Trúc, sang đến nơi lúc ấy, người to, đi giày da, tay cầm một cái hộp nhựa trong.

Trong hộp là cái đồng hồ mặt trắng của bà Lượt, đã tháo rời, vỏ một bên, bộ máy nằm trên miếng bọt biển.

“Chào bác Ứng. Việc này để tôi nói cho gọn.”

“Vâng.”

“Bà cụ mang sang chỗ tôi, kêu đồng hồ chạy nhanh. Cháu nó mở ra, thấy máy không đúng đời. Thế thôi.”

“Rồi sao ạ?”

“Cái máy nguyên bản bây giờ ngoài thị trường bảy triệu. Bác trả bà cụ bảy triệu là xong.”

Bà Lượt ngẩng lên.

“Ông ơi, tôi không đòi tiền ai cả.”

“Bà cứ để chúng tôi làm việc.”

“Tôi chỉ muốn biết cái đồng hồ nhà tôi nó thế nào thôi.”

“Đấy, bà cụ muốn biết. Bác Ứng, bác nói đi.”

Cậu Trúc giật cái hộp trong tay bố, đặt xuống mặt tủ của tôi, đẩy sang, cái hộp trượt trên kính kêu một tiếng.

“Ông nhìn đi. Ông nhìn cho kỹ.”

Tôi lau tay vào cái khăn vắt ở thành ghế, rồi tôi mới mở nắp hộp.

“Cậu tháo máy ra khỏi vỏ trước mặt bà cụ hay tháo trong buồng?”

“Trong buồng. Ngoài quầy bụi.”

“Vâng.”

Tôi kẹp cái kính lúp vào mắt phải.

Chuyện bên trong một cái đồng hồ thì thế này.

Bộ máy bắt vào vỏ bằng mấy con vít nhỏ bằng hạt vừng, đầu vít có một cái rãnh, muốn vặn thì phải có tua vít đúng cỡ.

Người dùng lưỡi hơi hẹp thì đầu vít toác ra một góc, như cái miệng cười lệch.

Người vặn quen tay thì vết nằm chính giữa, gọn, không tràn ra mép.

Cái vết ấy không xoá đi được, vì nó là kim loại bị miết.

Bốn mươi năm tôi nhìn vết vít nhiều hơn là tôi nhìn mặt người.

“Ông soi đến trưa thì cái máy nó cũng vẫn là máy giả.”

“Cậu vặn vít bằng tua vít cỡ mấy?”

“Ông hỏi cái đó làm gì?”

“Tôi hỏi thôi.”

“Một tám. Cả tiệm tôi dùng một tám.”

“Vâng. Tôi ghi nhận là cậu nói một tám.”

Ông Bái nhíu mày nhìn con.

“Trúc, mày nói ít thôi.”

“Bố cứ để con.”

Tôi soi bốn con vít bắt máy, rồi lật nghiêng bộ máy soi vào mặt lưng nó.

“Bà Lượt, hồi ông nhà còn sống, ông ấy có tháo đồng hồ ra lúc ngủ không?”

“Không bác ạ. Ông ấy đeo cả lúc ngủ, ông ấy bảo tháo ra là quên.”

“Vâng.”

Cậu Trúc bật cười.

“Ông hỏi chuyện ngủ nghê để làm gì? Đây là chuyện bộ máy.”

“Chính là chuyện bộ máy.”

“Ông nói cho ra nhẽ đi.”

“Chưa đến lúc.”

Ông Bái đặt tay lên mặt tủ kính của tôi, năm ngón xoè ra.

“Bác Ứng, nghề này bây giờ nó khác rồi. Giấy tờ, hoá đơn linh kiện, máy đo sai số.”

“Tôi không có mấy cái đó thật.”

“Thế thì bác lấy gì bác cãi cháu nó?”

“Tôi có bốn mươi năm.”

Cậu Trúc lại cười.

“Bốn mươi năm ngồi hè. Bà cụ đây tin ông, ông lấy của bà cụ cái máy đúng đời rồi ông nhét vào cái máy chợ.”

Bà Lượt cúi đầu xuống, hai tay bà ấy nắm lấy nhau.

“Bác Ứng ơi, thôi bác ạ. Tôi không hỏi nữa, cái đồng hồ ấy hỏng thì thôi.”

“Bà không được nói câu ấy.”

“Tôi già rồi bác ạ, tôi không muốn phiền ai. Người ta nói bác vì cái đồng hồ nhà tôi.”

“Người ta nói tôi thì kệ người ta.”

“Tôi ngồi ngoài tiệm ông kia từ tám giờ, người ra người vào người ta nhìn tôi.”

Tôi ngẩng lên nhìn cậu Trúc.

“Cậu để bà cụ ngồi ngoài quầy từ tám giờ, cậu không mời bà ấy vào trong à?”

“Trong là chỗ làm việc.”

“Vâng.”

“Ông lại vâng.”

“Tôi vâng vì tôi đang nhớ. Bà cụ này ngày trước bán rau ở đầu ngõ, bà ấy bán cho nhà cậu mười mấy năm.”

Ông Bái quay sang nhìn bà Lượt, và mặt ông ấy đổi một chút.

“Bà là bà Lượt bán rau?”

“Vâng ông. Ngày trước tôi hay để phần cho bà nhà ông mớ rau muống buổi sớm.”

Ông Bái không nói gì.

Cậu Trúc thì không biết chuyện ấy, cậu ấy vẫn đứng chống nạnh.

“Bố, cái đấy có liên quan gì đâu.”

“Mày im.”

“Con đang làm đúng mà.”

“Tao bảo mày im.”

Tôi gấp cái kính lúp lại, đặt xuống tấm nỉ.

“Ông Bái, tôi trả lời được rồi. Nhưng ông cho tôi hỏi cậu nhà ba câu, ông đừng ngắt.”

“Bác hỏi.”

“Cậu Trúc.”

“Ông hỏi đi.”

“Câu thứ nhất. Trước sáng nay, bộ máy này lần gần nhất được mở ra là hôm nào?”

“Là cái hôm ông mở, tuần trước. Bà cụ mang thẳng từ chỗ ông sang chỗ tôi.”

“Vâng. Ghi nhận.”

“Câu thứ hai. Cả tiệm cậu dùng tua vít cỡ một tám?”

“Cả tiệm. Bố tôi mua một bộ chung.”

“Ông Bái, đúng không ạ?”

“Đúng. Tôi mua bộ ấy năm kia.”

Tôi đẩy cái kính lúp về phía cậu Trúc.

“Câu thứ ba. Cậu soi hộ tôi bốn con vít bắt máy, đếm xem có mấy kiểu vết trên đầu vít.”

“Soi thì soi.”

Cậu ấy kẹp kính lúp vào mắt, cúi xuống, soi một lúc.

“Thì vết vặn chứ mấy kiểu.”

“Cậu đếm đi.”

“…”

“Có mấy kiểu?”

“Hai.”

“Cậu nói to lên.”

“Hai kiểu.”

Hàng nước bên cạnh im tiếng.

“Kiểu thứ nhất thế nào?”

“Vết nằm giữa, gọn.”

“Kiểu thứ hai?”

“Vết toác ra một bên, đầu vít mẻ một góc. Do lưỡi tua vít hẹp hơn cái rãnh.”

“Hẹp hơn thì là cỡ mấy?”

“Một tư. Hoặc một sáu.”

“Chứ không phải một tám.”

Cậu ấy bỏ cái kính lúp xuống.

“Ông định nói gì?”

“Tôi chưa nói gì cả. Cậu vừa nói đấy chứ.”

Ông Bái bước lại gần, cầm cái kính lúp lên, tự soi.

Ông ấy soi lâu hơn con ông ấy.

“Bốn con vít này có hai người vặn. Người thứ hai dùng lưỡi hẹp, và vặn sau, vì vết mới đè lên vết cũ.”

“Ông là thợ, ông nhìn ra.”

“Tôi nhìn ra.”

Tôi kéo ngăn kéo trên cùng, lấy cái hộp gỗ dẹt, mở nắp, trong có mười một cây tua vít cắm theo hàng.

“Cây một tư của tôi, ông cầm lên xem cái lưỡi.”

Ông Bái cầm lên, xoay ra ánh sáng.

“Lưỡi cùn. Cùn tù cả rồi.”

“Cùn từ năm ngoái, tôi để đấy cạy mấy cái nắp pin.”

“Cùn thế này thì nó không toác được đầu vít.”

“Không toác được. Nó trượt.”

Cậu Trúc bước lại.

“Ông tráo cây tua vít thì sao? Ai biết được.”

“Cậu nói đúng. Cây tua vít thì tôi tráo được.”

“Đấy.”

“Nên tôi không nói bằng cây tua vít.”

Tôi đặt tay lên bộ máy trong hộp nhựa, xoay nó lại một góc.

“Ông Bái, ông soi hộ tôi vào chỗ này. Chỗ mép cầu bánh xe, phía dưới.”

Ông ấy cúi xuống.

“Bụi.”

“Vâng, bụi.”

“Bụi bám thành một lớp mỏng, có vệt.”

“Ông thấy mấy lớp?”

Ông ấy soi lâu, xoay nghiêng cho ăn sáng.

“Hai lớp. Lớp dưới sẫm, bám chặt. Lớp trên xám, mới, phủ lên.”

“Lớp dưới bám bao lâu thì thành như thế?”

“Cái đó phải mấy năm.”

“Vâng. Thế tôi hỏi ông câu cuối.”

“Bác hỏi.”

“Một cái máy vừa được lắp vào vỏ tuần trước, thì trong nó có lớp bụi mấy năm không?”

Ông Bái đứng thẳng người lên.

Ông ấy không trả lời tôi, ông ấy quay sang con ông ấy.

“Trúc.”

“Bố…”

“Cái máy này nằm trong cái vỏ ấy mười mấy năm rồi.”

Cả vỉa hè không có ai nói câu nào.

Bà Lượt ngẩng lên, mắt bà ấy chớp mấy cái.

“Bác Ứng ơi, thế là thế nào hả bác?”

“Máy nhà bà bị thay đi rồi, nhưng không phải tôi thay, và thay từ lâu lắm rồi.”

“Lâu là bao lâu ạ?”

“Bà mang ra tiệm ngoài phố lần đầu là mấy năm trước?”

“Bốn năm.”

“Vâng. Bốn năm.”

Cậu Trúc lùi lại nửa bước.

“Ông vu cho nhà tôi?”

“Tôi chưa nói ai làm. Tôi nói cái bụi nó nằm được bao lâu.”

Ông Bái đặt cái kính lúp xuống mặt tủ, rất nhẹ.

“Bác Ứng nói đúng.”

“Bố!”

“Mày im đi.”

“Bố nói thế thì…”

“Bốn năm trước tiệm nhà mình có một thằng thợ. Nó tráo máy hai cái đồng hồ của khách, tao bắt được, tao đền, tao đuổi nó.”

“Hai cái ông bắt được.”

“Hai cái tôi bắt được.”

“Còn những cái ông không bắt được thì bây giờ nó vẫn đang chạy trên tay người ta.”

Ông Bái nhìn cái bộ máy nằm trên miếng bọt biển, nhìn hơi lâu.

“Thằng ấy dùng tua vít cỡ mấy hả ông?”

“Nó mang bộ riêng tới. Có cây hẹp, nó vặn hay toác đầu vít, tôi mắng nó mấy lần.”

“Vâng.”

“Bác biết từ lúc nào?”

“Lúc tôi soi bốn con vít thì tôi mới nghi. Lúc tôi soi cái bụi thì tôi chắc.”

“Sao lúc nghi bác không nói?”

“Nghi thì tôi không nói, ông ạ.”

Bà Lượt ngồi trên ghế, hai tay vẫn nắm nhau.

“Bác Ứng ơi, thế cái đồng hồ nhà tôi bây giờ nó là cái gì?”

“Nó là cái vỏ ông nhà bà đeo hai mươi mấy năm, với một cái máy không phải của ông ấy.”

“Thế thì nó còn là của ông nhà tôi không hả bác?”

“Cái vỏ thì còn.”

“…”

“Bà Lượt này, tuần trước bà bảo nó chạy nhanh. Nhanh mỗi ngày nửa phút, mà chỉ nhanh khi bà để nó nằm ngửa trên bàn ban đêm.”

“Bác đo được cả cái đó ạ?”

“Đo được. Máy cơ nó chạy khác nhau theo tư thế nằm, mà chỉ máy mỏi mới lệch nhiều thế.”

“Tôi chả hiểu gì bác ạ.”

“Bà chỉ cần biết cái máy trong đấy nó cũ và nó mỏi, chứ không phải nó vừa bị tráo tuần trước.”

Cậu Trúc đứng đấy, hai tay buông xuống.

“Bố, con không biết chuyện thằng thợ ấy.”

“Mày không biết thì mày đi hỏi tao trước khi mày mở mồm.”

“Con thấy máy không đúng đời thì con nói.”

“Mày nói trước mặt ai?”

“…”

“Trước mặt bà cụ với mấy người khách đang đứng đợi. Rồi mày để bà cụ ngồi ngoài quầy hai tiếng đồng hồ.”

Ông Bái quay sang bà Lượt, và ông ấy làm một việc tôi không nghĩ ông ấy làm.

Ông ấy cúi người xuống ngang tầm cái ghế bà cụ ngồi.

“Bà Lượt, tôi xin lỗi bà.”

“Ông đừng ông ơi.”

“Cái máy trong đồng hồ nhà bà mất ở tiệm tôi. Tôi không biết, nhưng nó mất ở tiệm tôi.”

“Tôi có trách ai đâu.”

“Tôi tìm cho bà một cái máy đúng đời. Mất mấy tháng cũng được, tiền tôi chịu.”

“Tôi không có tiền trả ông đâu.”

“Bà không phải trả.”

Bà Lượt ngồi im một lúc, rồi bà ấy quay sang tôi.

“Bác Ứng, thế bác có phải đền gì không?”

“Tôi không phải đền gì cả.”

“Thật không bác?”

“Thật.”

“Tôi lo cho bác từ sáng.”

“Bà lo cho tôi mà bà ngồi ngoài kia hai tiếng.”

“Tôi sợ tôi về thì người ta nói bác nặng hơn.”

Tôi không đáp câu ấy được.

Ông Bái đứng lên, quay sang cậu Trúc.

“Mày xin lỗi bác Ứng đi.”

“Bố…”

“Ở ngay đây. Chỗ mày đứng chửi người ta lúc chín giờ sáng.”

Cậu Trúc quay về phía tôi.

“Cháu xin lỗi bác.”

“Cậu nói to lên một chút.”

“Cháu xin lỗi bác.”

“Tôi không tha cũng không phạt được cậu. Tôi chỉ nói với cậu một câu.”

“Bác nói.”

“Cậu mở cái máy ra, cậu thấy máy sai đời. Cái đó cậu nhìn đúng.”

“…”

“Nhưng cậu thấy có thế thôi rồi cậu đi kết luận, thì cậu mới làm nghề chứ cậu chưa biết nghề.”

“Vâng ạ.”

“Trong cái máy ấy còn bốn con vít với một lớp bụi, cậu bỏ qua cả hai.”

“Vâng ạ.”

“Cậu bỏ qua vì cậu nhìn cái tủ kính của tôi trước khi cậu nhìn vào cái máy.”

Ông Bái cầm cái hộp nhựa lên, rồi ông ấy lại đặt xuống.

“Bác lắp lại hộ tôi cái máy vào vỏ được không? Công bác bao nhiêu?”

“Không có công. Bà cụ trả tôi ba trăm tuần trước rồi.”

Họ về rồi thì vỉa hè lại đông như cũ.

Tôi lắp cái máy vào vỏ, siết bốn con vít, mỗi con ba phần tư vòng rồi lùi lại một chút cho ren khỏi cắn.

Bà Lượt ngồi đấy nhìn tôi làm, không nói gì.

“Bác Ứng ơi, tôi hỏi bác câu này bác đừng giận.”

“Bà hỏi.”

“Nếu hôm nay tôi không sang thì bác có sao không?”

“Không sao.”

“Thế sao bác cứ bắt cậu ấy soi đi soi lại?”

“Vì cậu ấy hỏi nhà bà ở đâu.”

“Cậu ấy hỏi lúc nào ạ?”

“Lúc cậu ấy sang đây, cậu ấy bảo bà đi cái xe đạp cũ.”

“Ừ nhỉ.”

“Người ta tả cái xe đạp cũ trước khi người ta tả cái đồng hồ, thì tôi biết trong đầu người ta đang xếp bà vào đâu.”

Bà ấy về lúc mười một giờ rưỡi, dắt xe đi chầm chậm ra đầu ngõ.

Ông Bái tìm được một cái máy đúng đời thật, bốn tháng sau, mua lại của một người trên tỉnh, và tiệm ông ấy tự lắp, không nhờ tôi.

Bà Lượt đeo vào cổ tay gầy, dây phải đục thêm hai lỗ, rồi bà ấy sang khoe tôi.

“Bác xem, nó chạy đúng rồi bác ạ. Bác soi hộ tôi cái.”

“Bà đeo đi, không phải soi.”

Còn chỗ tôi thì từ tháng ấy vắng hẳn.

Người ta nghe đoạn đầu — có ông thợ vỉa hè bị bắt quả tang tráo máy đồng hồ của bà cụ — rồi người ta không nghe đoạn sau.

Ba nhà trong ngõ trước gửi tôi lau dầu hằng năm, năm ấy không gửi nữa.

Cái quầy bán phụ kiện đầu chợ trước vẫn lấy hàng của tôi, cũng thôi.

Tôi ngồi hè, tôi không có cái bảng hiệu nào để mà treo cái sự thật lên đấy.

Ông Bái có bảo để ông ấy đi nói giúp một tiếng với mấy nhà kia.

Tôi bảo thôi, vì người ta tin mình là do người ta biết mình, chứ không phải do có ai đứng ra bảo lãnh.

Hàng nước bên cạnh khen tôi hôm ấy gỡ được cái tiếng, chả mất đồng nào, người ta còn phải cúi đầu xin lỗi ngay giữa hè.

Tôi nghe, tôi không cãi, nhưng trong bụng tôi đếm ngược lại.

Buổi sáng ấy tôi giữ được bốn con vít với một lớp bụi.

Buổi sáng ấy tôi để mất ba nhà khách quen với cái quầy đầu chợ, mà mỗi mối ấy tôi nhặt về từng năm một, nhặt suốt bốn mươi năm.

Có hôm cậu Trúc đi ngang qua tủ kính của tôi.

Cậu ấy đi chậm lại, rồi cậu ấy dừng hẳn.

“Bác Ứng.”

“Cậu Trúc.”

“Cháu hỏi bác một câu được không ạ.”

“Cậu hỏi.”

“Hôm ấy bác nhìn ra bụi hai lớp. Cháu cũng mở cái máy ấy ra, cháu soi cả buổi sáng.”

“Ừ.”

“Sao cháu không nhìn thấy ạ?”

“Vì cậu soi để tìm cái cậu đã tin là có.”

“…”

“Còn tôi soi để xem trong ấy có cái gì.”

Cậu ấy đứng thêm một lúc, rồi cậu ấy đi.

Từ hôm đó tháng nào cậu ấy cũng mang sang mấy cái máy khó, đưa tôi làm, trả công sòng phẳng.

Việc thì tôi nhận, tiền thì tôi lấy, mà cái mối tôi mất thì nó không quay về theo đường ấy.

Chiều nào tôi cũng lau mặt kính cái tủ một lượt, lau từ trái sang phải, bốn mươi năm nay vẫn lau kiểu ấy.

Lau xong thì kính trong veo, nhìn thấu được cả mấy cái hộp xếp bên trong.

Chỉ có điều người đi ngang thì người ta không nhìn vào trong tủ.

Người ta nhìn cái vỉa hè tôi ngồi.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Bài tiếp theo
Chị tám tuổi hâm cơm cho em ba tuổi trong căn trọ khoá ngoài — nồi cơm trào làm tắt bếp, và không ai trong phòng biết cái van vẫn mở
Truyện

Chị tám tuổi hâm cơm cho em ba tuổi trong căn trọ khoá ngoài — nồi cơm trào làm tắt bếp, và không ai trong phòng biết cái van vẫn mở

 · 35 phút đọc · Halab

Con bé tám tuổi bắc nồi cơm nguội lên bếp gas lúc bốn giờ hai mươi chiều, để hâm cho thằng em ba tuổi ăn trước khi trời tối.

Bốn giờ hai mươi bảy, nước cơm trào ra, chảy xuống, và ngọn lửa xanh dưới đáy nồi tắt ngấm.

Cái van bếp vẫn mở.

*

Phòng số bảy là phòng cuối dãy, và cũng là phòng rẻ nhất.

Nó rộng đúng bằng ba tấm chiếu đôi, trần lợp tôn, bên dưới đóng một lớp la-phông nhựa đã võng xuống ở giữa.

Có một cửa ra vào bằng gỗ, mở ra hẻm.

Có một cửa sổ nhìn ra bức tường sau của dãy bên cạnh, và cửa sổ đó có hoa sắt.

*

Hoa sắt là loại đơn giản nhất người ta làm cho nhà trọ: bảy thanh sắt tròn cỡ ngón tay út, hàn vào hai thanh ngang, hai thanh ngang hàn vào một cái khung vuông, và cái khung vuông chôn thẳng vào tường gạch rồi trám xi măng lại.

Không có bản lề. Không có chốt. Không có ổ khoá.

Không có gì để mở, vì nó không được làm ra để mở.

*

Bên trong hoa sắt có hai cánh cửa sổ gỗ, mở vào phía trong phòng, cài bằng một cái then gỗ nhỏ.

Chiều nay hai cánh ấy đóng, vì buổi trưa nắng hắt vào bức tường bên kia rồi dội ngược lại, nóng như lò.

*

Ba giờ bốn mươi, chị Duyên ra khỏi phòng.

Chị hai mươi bảy tuổi, phụ bếp cho một quán cơm ngoài mặt đường lớn, ca chiều từ bốn giờ tới bảy giờ, và tay chị cầm một cái khoá móc bằng đồng.

Con bé chị đang ngồi trên nệm, ôm thằng em trong lòng.

“Bí.”

“Dạ.”

“Cơm mẹ để trong nồi rồi đó. Con hâm lại chút cho nó ăn, đừng để nguội.”

“Dạ.”

“Hâm xong con nhớ vặn cái van lại nghen.”

“Dạ con nhớ.”

“Nhớ gì con? Nói mẹ nghe.”

“Vặn van, tắt bếp, xuống ghế.”

“Ừ. Với đừng có đụng cái hộp quẹt.”

“Dạ.”

“Bảy giờ mẹ về. Mẹ mua cho hai đứa cái bánh.”

Con bé gật.

*

Chị Duyên đóng cửa lại, quàng cái khoá móc qua hai khoen sắt bắt trên khung cửa gỗ, bấm xuống, và nghe một tiếng cách.

Rồi chị đứng đó thêm một nhịp thở, tay còn để trên cái khoá.

Cái khoá đó không phải để nhốt hai đứa nhỏ ở trong.

Nó là để hai đứa không ra được cái hẻm ngoài kia — cái hẻm mà chiều nào xe ba gác cũng chạy dọc, chở đá cây, chở sắt vụn, chạy nhanh vì tài xế còn chuyến khác.

Năm ngoái, ở dãy trọ bên kia bức tường, một đứa nhỏ hơn thằng Tủn một tuổi đã chạy ra hẻm.

Cả xóm ai cũng nhớ chuyện đó, và không ai kể lại nó thành lời.

*

Ngoài đầu dãy, bà Tám ngẩng lên khỏi cái rổ hành.

“Đi làm hả Duyên?”

“Dạ.”

“Hai đứa nhỏ đâu?”

“Con để trong phòng bà. Bảy giờ con về.”

“Ừ. Đi đi.”

Bà Tám nhìn theo cho tới khi cái áo thun xám khuất ở khúc quẹo.

Rồi bà cúi xuống lột tiếp mấy củ hành.

*

Bốn giờ mười, trong phòng số bảy, thằng Tủn đói.

Nó không nói là nó đói. Nó ba tuổi, và cái nó làm là bò tới chỗ cái nồi, gõ hai bàn tay lên nắp nồi.

Bí đang ngồi tô màu vào quyển vở tập viết cũ, mặt sau còn trắng, và con bé bỏ cây bút chì xuống, đứng dậy.

*

Cái bếp gas kê trên một cái kệ nhựa ba tầng, và từ bếp có một sợi dây cao su màu vàng chạy xuống, nối vào cái bình gas mười hai ký đặt sát chân tường.

Ở khúc gần chỗ cắm vào bình, chỗ sợi dây bị gấp lại vì cái bình kê sát tường quá, lớp cao su ngoài đã nứt ra một đường dọc bằng nửa đốt ngón tay.

Đường nứt ấy có từ mùa mưa năm ngoái. Mẹ đã biết nó, và mẹ đã lấy băng keo điện quấn quanh chỗ đó bốn vòng.

Dây gas mới bán ở tiệm đầu chợ giá bảy chục ngàn.

*

Bí kê cái ghế nhựa lại chân kệ, trèo lên, và con bé làm đúng cái thứ tự mẹ dạy.

Vặn van ở đầu bình trước. Rồi mới vặn núm bếp. Rồi bấm cái nút đánh lửa.

Có tiếng tách tách, và ngọn lửa xanh bùng lên vòng quanh họng bếp.

Con bé bắc cái nồi cơm lên, đậy nắp, rồi tụt xuống khỏi ghế.

*

Nó không đứng canh, vì thằng Tủn vừa lôi cuộn chỉ trong giỏ đồ khâu của mẹ ra và đang kéo chạy vòng quanh phòng, và hai chị em giằng nhau ở góc bên kia.

Nồi cơm trên bếp sôi lên, nước từ đáy nồi trào qua mép, chảy xuống họng lửa.

Ngọn lửa lụi xuống một nửa, cháy lay lắt thêm mươi giây, rồi tắt.

Không có tiếng động nào khi nó tắt.

*

Từ họng bếp bên trái, khí bắt đầu ra.

Nó không màu, và không có hình dạng nào để nhìn thấy.

Người ta pha vào nó một chất tạo mùi, thứ mùi hắc như hành thối, để mũi người biết trước khi mắt người biết.

Nhưng khi nó ra chậm và ra đều trong một căn phòng đóng kín, mũi người ở trong phòng sẽ quen với cái mùi ấy sau chừng mười lăm phút, quen tới mức không ngửi thấy nữa.

*

Còn một điều nữa về thứ khí này: nó nặng hơn không khí.

Nó không bay lên trần như khói. Nó đổ xuống, chảy dọc theo mặt kệ, rơi xuống nền gạch bông, rồi lan ra như nước.

Nó tìm chỗ thấp nhất trong phòng và nằm ở đó.

*

Chỗ thấp nhất trong phòng số bảy là cái góc bên trái, và ngay cạnh nó là tấm nệm cao su mỏng dày chừng năm phân hai mẹ con vẫn trải xuống nền để ngủ.

Nằm trên tấm nệm đó, mặt một đứa trẻ ba tuổi cách mặt nền đúng một gang tay người lớn.

*

Bốn giờ bốn mươi, Bí trèo lên ghế mở nắp nồi ra.

Cơm trong nồi vẫn nguội.

Con bé đưa tay lại gần họng bếp, và nó thấy họng bếp lạnh.

*

Bí không hiểu tại sao.

Nó biết nó đã bấm nút, và nó nhớ rõ cái vòng lửa xanh.

Nên nó làm cái việc mà bất cứ ai cũng làm.

Nó bấm lại cái nút đánh lửa.

*

Tách.

Không có gì.

Cái bộ đánh lửa của bếp này hư từ tháng trước — mẹ vẫn châm bằng cái hộp quẹt gas để trên nóc kệ, còn cái nút thì thỉnh thoảng lên tiếng, thỉnh thoảng không.

Chiều nay nó chịu lên tiếng ba lần liền lúc bốn giờ hai mươi, rồi thôi.

Bí bấm thêm bốn lần nữa, và mỗi lần bấm, ở đầu điện cực trong họng bếp, không có tia lửa nào bật ra.

*

Con bé nhìn cái hộp quẹt màu đỏ trên nóc kệ.

Đừng có đụng cái hộp quẹt — mẹ dặn câu đó bằng cái giọng mẹ chỉ dùng khi mẹ nói thật, và con bé nhớ cái giọng đó hơn là nhớ câu nói.

Nó nhìn cái hộp quẹt chừng bốn giây.

Rồi nó tụt xuống, không lấy.

Nó cũng không vặn cái núm bếp ngược trở lại, vì trong đầu nó, cái núm ấy đang ở nấc “có lửa”, mà lửa thì đã tắt rồi, nên nó cho là cái bếp hỏng.

*

Cái van ở đầu bình gas vẫn mở. Cái núm bếp bên trái vẫn mở.

Và chỗ nứt trên sợi dây cao su vàng, dưới bốn vòng băng keo điện đã bở ra vì hai mùa nắng, cũng đang rỉ.

*

Bí xúc cơm nguội ra một tô, chan nước tương, rồi kéo thằng em vào lòng đút cho nó.

“Ăn đi Tủn.”

“Không.”

“Ăn đi rồi chị cho coi cái này.”

“Không ăn.”

“Ăn ba muỗng nữa thôi. Ba muỗng à.”

“Không.”

Bí đút thêm hai muỗng nữa rồi thôi, và con bé ăn nốt chỗ cơm còn lại.

*

Năm giờ kém mười lăm, ngoài hẻm, anh Ràng đi làm về.

Anh ba mươi hai tuổi, thợ hồ, ở phòng số bốn, cách phòng số bảy ba cái cửa.

Anh dựng chiếc xe đạp cà tàng vào tường và xách cái thùng đồ nghề bằng gỗ vào phòng.

Trong cái thùng đó có: một cây búa tạ nhỏ, ba cây đục sắt, một cây xà beng ngắn, và một cái khung cưa sắt.

Cái khung cưa sắt đó không có lưỡi.

Lưỡi cuối cùng gãy làm đôi hôm thứ Ba, và anh chưa mua lưỡi mới vì tiệm sắt ngoài chợ nghỉ ba ngày có đám.

*

Anh Ràng đi ngang cửa phòng số bảy, và anh nghe trong đó có tiếng thằng nhỏ cười.

Anh không nhìn vào cái khoá móc treo trên cửa, vì cái khoá đó treo ở đó chiều nào cũng vậy, và mắt anh đã quen tới mức không còn thấy nó nữa.

*

Trong phòng, lớp khí dưới nền đã dày lên.

Lúc bốn giờ rưỡi nó mỏng bằng bề dày một quyển vở. Năm giờ, nó đã ngang miệng cái ca nhựa đựng bàn chải để ở góc.

Nó vẫn còn thấp hơn đầu gối một đứa trẻ tám tuổi đang đứng.

Nó cao đúng bằng mặt một đứa trẻ ba tuổi đang nằm.

*

Năm giờ mười, thằng Tủn nằm sấp xuống nệm, một má áp xuống, hai tay duỗi ra, và nó ngủ.

Bí lấy cái khăn mỏng đắp ngang lưng em, rồi con bé quay lại tô tiếp bức tranh dở.

*

Năm giờ hai mươi, Bí thấy hai bên thái dương có gì đó ép vào, và mắt nó bắt đầu cay như bị khói bếp.

Nó ngồi thẳng lên, và nó thấy đỡ hơn một chút.

Nó cúi xuống tô tiếp, và cái ép ở thái dương quay lại.

*

Năm giờ hai mươi lăm, con bé buông bút chì và đứng dậy.

Cái nó muốn là mở cửa sổ, vì đó là điều mẹ vẫn làm khi trong phòng ngộp.

Bí đưa hai tay lên rút cái then gỗ, và cái then bị kẹt.

*

Nó kẹt vì buổi trưa gỗ nở ra vì nóng, và vì cái then này vốn đã cong.

Con bé kéo, lắc, đẩy ngược lên rồi giật xuống.

Cái then nhúc nhích được một chút rồi đứng lại.

Bí quay đi lấy cái muỗng inox trong tô cơm, chèn cán muỗng vào khe, dùng cả người bẩy.

Cái then bật ra.

*

Hai cánh cửa sổ gỗ mở vào trong.

Ngay sau chúng là hoa sắt, và ngay sau hoa sắt là bức tường sau của dãy bên cạnh, cách một mét hai, xám, không có cửa nào.

Cái khoảng đó là một cái khe chạy dài suốt dãy trọ, chỗ người ta để mấy cái chậu bể và một đống ống nhựa cũ, và không có gió trong đó.

*

Nhưng vẫn có một chút không khí đi vào.

Bí đứng ở cửa sổ, hai tay bám vào hai thanh sắt, hít ba hơi dài, và cái ép ở thái dương lỏng ra.

*

Con bé đứng đó chừng một phút, rồi nó quay lại nhìn vào trong phòng.

Thằng Tủn vẫn nằm sấp trên nệm, và tấm khăn mỏng đã tuột khỏi lưng nó.

*

Bệ cửa sổ đó cách nền gạch một mét ba, còn lớp khí thì nằm ở dưới, cách bệ cửa cả mét.

Cái mà cửa sổ mở làm được, là cho không khí sạch tràn vào ở tầng trên.

Cái mà nó không làm được, là hút cái lớp nằm dưới sàn kia ra ngoài.

*

Năm giờ ba mươi lăm, ngoài đầu dãy, bà Tám dọn hàng vào trong.

Bà sáu mươi mốt tuổi, và cái tiệm của bà rộng bằng một cái giường đôi, bán đủ thứ: mì gói, nước mắm, dầu gió, kim chỉ, pin tiểu, dây thun, đinh, và một xấp lưỡi cưa sắt treo trên vách bằng một sợi kẽm.

Xấp lưỡi cưa đó bà nhập mười cây từ ba năm trước, bán được bốn, và sáu cây còn lại đã lên một lớp gỉ mỏng ở mấy chỗ răng cưa.

*

Năm giờ bốn mươi, trời bắt đầu tối, và Bí đi tới chỗ công tắc đèn bên cạnh cửa ra vào — loại công tắc nhựa cũ bật lên bật xuống, gắn trên tường cách nền một mét mốt.

Con bé đưa tay lên.

*

Ở khoảng cách một mét mốt tính từ nền, lớp khí gas lúc ấy chưa dâng tới.

Nhưng bên trong cái vỏ nhựa của công tắc đó, mỗi lần lá đồng rời khỏi lá đồng, có một tia lửa nhỏ bằng đầu kim.

Tia lửa ấy không cần lớp khí dâng tới một mét mốt. Nó chỉ cần một luồng khí đi ngang qua đó.

*

Ngón tay con bé chạm vào cái cần nhựa, và nó gạt xuống.

Cách.

*

Đèn không sáng.

*

Bí gạt lên. Gạt xuống. Gạt lên.

Bóng đèn tuýp treo giữa phòng không nhấp nháy lấy một lần.

*

Cả dãy trọ đang cúp điện từ năm giờ mười lăm, vì bên kia đường lớn người ta đang kéo lại đường dây và đã báo trước bằng một tờ giấy dán ở cột điện đầu hẻm — tờ giấy mà nhà nào cũng đi ngang, và nhà nào cũng không đọc.

Bà Tám có đọc, và bà đã lấy sẵn cây đèn dầu ra để trên quầy.

*

Bí gạt thêm ba lần nữa, rồi con bé thôi.

Nó quay đi, và nó không biết là nó vừa đi qua một chỗ nào.

*

Bí biết mẹ để cái đèn pin nhỏ ở đầu nệm, và nó cúi xuống lục dưới gối.

Trong lúc cúi, mặt nó xuống thấp, và cái ép ở thái dương quay lại ngay lập tức, mạnh hơn trước.

Bí đứng bật dậy, một tay chống lên tường.

*

Rồi con bé cúi xuống lần nữa, nhưng lần này nó nín thở trước khi cúi.

Nó mò được cái đèn pin, bật lên, và đứng thẳng dậy mới thở ra.

Nó không biết vì sao nó làm vậy. Nó chỉ biết là ở dưới thấp thì khó chịu, ở trên cao thì đỡ.

Đó là điều đầu tiên trong buổi chiều đó mà con bé tự hiểu ra, và nó là điều đúng.

*

Bí soi quanh phòng, rồi nó soi xuống tấm nệm.

*

Thằng Tủn vẫn nằm sấp, ở nguyên tư thế lúc nó ngủ.

Bí ngồi thụp xuống bên cạnh em, ngồi mà không nín thở, vì lúc này nó chưa nghĩ tới chuyện đó nữa.

Con bé lay vai em.

“Tủn. Dậy đi Tủn.”

Thằng nhỏ không nhúc nhích.

*

Bí lay mạnh hơn, lay cả hai vai, rồi nó lật em nằm ngửa ra.

Dưới ánh đèn pin, mặt thằng Tủn đỏ ở hai gò má, môi hơi hé, và nó vẫn thở — thở nhanh, nông, ngực nhô lên hạ xuống rất gấp.

Bí gọi thêm hai lần, rồi con bé đứng lên và lùi lại một bước.

*

Nó lùi lại vì đầu nó đau nhói khi nó vừa quỳ xuống.

Và ngay lúc đứng lên ấy, nó ngửi lại được cái mùi hắc như hành thối — cái mùi mà nó đã ngửi thấy lúc bốn giờ rưỡi rồi quen đi, bây giờ ngửi lại được vì nó vừa hít mấy hơi không khí sạch ở cửa sổ.

Mẹ đã một lần bảo nó: nếu ngửi thấy mùi này thì kêu mẹ liền, đừng bật cái gì hết.

*

Con bé trèo lên ghế, vặn cái núm bếp ngược lại hết cỡ, tới khi nghe một tiếng tách.

Rồi nó trèo xuống, đi vòng ra sau kệ, và nó vặn cái van trên đầu bình gas theo chiều mẹ vẫn vặn khi nấu xong, vặn tới khi cứng tay không vặn được nữa.

*

Sáu giờ kém mười, cái nguồn khí trong phòng số bảy đóng lại.

Nhưng cái lớp đã ra rồi thì vẫn nằm đó: một tiếng hai mươi phút xả, trong một căn phòng đóng kín rộng ba tấm chiếu, không có quạt vì cúp điện, không có cửa nào ở dưới thấp để nó chảy ra.

Nó nằm dưới sàn, dày ngang bắp chân một người lớn.

*

Bí luồn hai tay vào nách thằng Tủn và nó kéo lê em trên nệm.

Thằng nhỏ ba tuổi nặng mười ba ký. Bí tám tuổi, nặng mười chín ký.

Nó kéo được em ra tới nền gạch, và tới đó thì nó phải ngồi xuống thở.

*

Ngồi xuống là sai.

Con bé ngồi được ba hơi thì mắt nó tối sầm và tai nó ù đi.

Nó chống hai tay xuống nền, đứng dậy, rồi vịn vào thành cái giường sắt dựng ở góc cho tới khi tiếng ù trong tai lui đi.

*

Rồi Bí nhìn quanh phòng, và nó tìm một chỗ cao.

Cái giường sắt thì dựng đứng, không mở ra được vì góc phòng chật. Cái kệ nhựa ba tầng thì đầy đồ. Cái bàn học của Bí chỉ cao ba tấc.

Còn lại là cái tủ vải.

*

Cái tủ vải cao một mét sáu, khung sắt ống, có một ngăn dưới cùng để đồ nặng, cách nền năm tấc.

Bí lôi hết đồ trong ngăn đó ra, quăng xuống nền.

Rồi con bé quay lại chỗ em, luồn tay vào nách nó lần nữa, và kéo.

*

Ba mét từ chỗ thằng Tủn nằm tới chân tủ vải, Bí đi hết gần hai phút, cứ kéo ba nhịp lại phải đứng thẳng lên thở một lần.

Tới nơi, nó xốc em lên bằng cả hai tay ôm ngang bụng, và nó đẩy.

Lần thứ nhất không lên. Lần thứ hai được nửa người.

Lần thứ ba, con bé kê một bên vai xuống dưới lưng em, dùng cả cái vai đó hất lên, và thằng nhỏ lăn vào trong ngăn tủ.

*

Bí đứng đó, hai tay chống lên thành ngăn, thở.

Thằng em nằm nghiêng, mặt quay ra ngoài, và mặt nó bây giờ cách nền năm tấc rưỡi.

Cao hơn lúc nãy đúng bốn tấc.

*

Bốn tấc đó là cái con bé làm được cho em nó chiều hôm ấy.

*

Sáu giờ lẻ năm, Bí xoay cái nắm đấm cửa ra vào.

Cửa nhúc nhích được nửa phân rồi khựng lại — cái khoá móc bên ngoài giữ nó lại ở đó.

Bí đập vào cánh cửa gỗ bằng cả hai bàn tay.

“Bà Tám ơi!”

“Bà Tám ơi bà Tám!”

*

Từ phòng số bảy tới cái tiệm tạp hoá ở đầu dãy là bốn mươi hai mét, và giữa quãng đó có cái ti vi nhà phòng số hai đang chạy bằng bình ắc quy, mở lớn, chiếu một chương trình có tiếng cười ghi sẵn.

*

Bí đập bằng lòng bàn tay, rồi bằng nắm đấm, rồi nó lấy cái ca nhựa gõ vào cánh cửa gỗ.

Tiếng gõ vào gỗ thì đục, và nó đi được chừng mươi mét trong hẻm rồi tan.

*

Con bé bỏ cửa, chạy tới cửa sổ, bám hai thanh hoa sắt và hét ra cái khe giữa hai bức tường.

“Có ai không!”

“Cứu em con với!”

“Có ai ngoài đó không!”

*

Cái khe đó không thông ra hẻm. Một đầu bị bịt bằng bức tường xây của nhà cuối dãy, đầu kia ăn ra một cái sân sau, và cái sân sau ấy chiều nay không có ai.

Tiếng con bé dội vào hai bức tường song song, quay trở lại, và ở lại trong cái khe đó.

*

Sáu giờ mười ba, chị Thắm về.

Chị ba mươi tám tuổi, đẩy xe bánh mì đi bán từ sáng, và chiều nào cũng đẩy cái xe ấy về dựng ở khoảng trống cuối dãy, ngay chỗ đối diện phòng số bảy.

*

Bí nghe tiếng bánh xe, và con bé lao tới cửa, đập cả hai tay.

“Cô ơi!”

“Cô ơi cứu con với!”

“Cô Thắm ơi!”

*

“Ai kêu đó?”

“Con nè cô! Con Bí nè!”

“Bí hả con? Sao vậy con?”

“Cô ơi em con nó không dậy!”

*

Chị Thắm bước tới cửa phòng số bảy.

“Nó sao? Nó bệnh hả con?”

“Nó nằm nó không dậy cô ơi!”

“Mẹ con đâu?”

“Mẹ con đi làm.”

“Mấy giờ mẹ con về?”

“Bảy giờ.”

*

Chị Thắm nắm cái khoá móc giật hai cái, rồi chị áp mặt vào khe hở giữa hai cánh cửa gỗ.

“Bí. Con nghe cô nói nè. Con mở cửa được không?”

“Không được cô ơi. Mẹ khoá ngoài.”

“Cô biết rồi. Cô hỏi lại thôi.”

*

Chị Thắm hít vào để nói câu tiếp theo, và chị dừng lại giữa chừng.

*

Từ cái khe hở dưới chân cánh cửa gỗ — cái khe cao chừng một phân rưỡi, chỗ gỗ đã bào mòn với nền xi măng — có một luồng khí đang chảy ra ngoài, chảy chậm, sát mặt đất, mang theo cái mùi.

Chị Thắm ngồi thụp xuống để nghe cho rõ, và khi mặt chị xuống ngang cái khe đó, chị bật dậy ngay lập tức.

*

“Bí!”

“Dạ.”

“Trong nhà có mùi gì không con?”

“Có cô.”

“Mùi gì?”

“Mùi gas cô ơi. Con khoá bình rồi.”

*

Chị Thắm đứng đó một giây rưỡi, rồi chị quay người và chị chạy.

*

Chị chạy ra đầu dãy, vừa chạy vừa gọi tên chứ không gọi cứu.

“Bà Tám ơi!”

“Anh Ràng! Anh Ràng ơi!”

“Anh Ràng ra đây coi giùm cái!”

*

Cánh cửa phòng số bốn mở ra, và anh Ràng bước ra, ở trần, tay còn cầm cái khăn ướt.

“Gì đó chị Thắm?”

“Phòng con Duyên! Xì gas!”

“Xì gas?”

“Hai đứa nhỏ ở trỏng! Thằng nhỏ nó xỉu rồi!”

*

Anh Ràng quăng cái khăn xuống ghế và anh chạy, chạy được ba bước thì anh quay lại, chồm vào cửa phòng, xách cái thùng đồ nghề bằng gỗ theo.

*

Bà Tám ra tới trước cửa tiệm, một tay cầm cây đèn dầu vừa thắp.

“Cái gì mà xì gas?”

“Phòng số bảy bà ơi!”

Bà Tám nhìn cây đèn dầu trong tay mình.

Rồi bà thổi tắt nó, đặt nó xuống bậc thềm, và bà đi theo.

*

Anh Ràng tới trước cửa phòng số bảy lúc sáu giờ mười tám.

Anh ngồi xuống, ghé mũi vào khe dưới chân cửa, rồi anh lùi ra ngay và anh nói bằng cái giọng bình thường, không lớn hơn lúc nãy.

“Nặng lắm.”

“Anh phá cửa đi anh Ràng.”

“Chị lùi ra chút.”

*

Anh Ràng đặt cái thùng đồ nghề xuống đất, mở nắp, và anh cầm cây búa tạ lên.

Cái khoá móc treo trên hai khoen sắt. Muốn phá nó thì phải đập vào nó, hoặc lấy đục chèn vào rồi nện.

Cả hai cách đều là sắt đập vào sắt.

*

Anh Ràng cầm cây búa tạ trong tay khoảng bốn giây, rồi anh đặt nó trở lại vào thùng, rất chậm, đặt nghiêng để nó không va vào mấy cây đục.

“Anh làm gì vậy? Sao anh không phá?”

“Không phá được chị.”

“Sao lại không phá được! Hai đứa nhỏ ở trỏng anh Ràng ơi!”

“Chị Thắm.”

“Anh cứ đập cái khoá đi! Đập mạnh vô!”

“Sắt gõ vô sắt là ra lửa chị.”

*

Chị Thắm đứng im.

“Ra lửa cỡ nào?”

“Nhỏ xíu. Bằng con đom đóm.”

“Nhỏ xíu thì…”

“Trong đó nó chờ có nhiêu đó thôi chị.”

*

Bà Tám tới nơi, thở ra đằng miệng.

“Cái cửa gỗ đó. Đạp cái cửa gỗ đi.”

“Đạp thì được. Mà cái khoen sắt nó bung ra là nó cạ vô cái khoá.”

“Rồi sao?”

“Cũng vậy à bà.”

*

Bà Tám nhìn cánh cửa gỗ. Rồi bà nhìn dọc bức tường.

“Còn cái cửa sổ.”

“Cửa sổ có hoa sắt bà.”

“Thì cưa.”

“Cưa cũng ra lửa bà ơi.”

“Ra ít hơn cái búa không?”

*

Anh Ràng không trả lời ngay.

Anh cúi xuống, lấy cái khung cưa sắt ra, giơ lên.

“Bà coi. Không có lưỡi.”

*

Bà Tám nhìn cái khung cưa rỗng đó chừng một giây, rồi bà quay người và bà đi.

Bà đi nhanh hơn cái tốc độ bà vẫn đi, nhưng bà không chạy, vì bà sáu mươi mốt tuổi và bà biết nếu bà chạy thì bà sẽ phải dừng.

*

Bốn mươi hai mét ra, bốn mươi hai mét vào, hết ba phút mười giây.

Bà quay lại với sáu cây lưỡi cưa sắt còn xâu trong sợi kẽm, và với một cái xô nhựa đỏ.

*

Trong khi đó, chị Thắm đã vòng ra cái khe một mét hai giữa hai bức tường, lách người qua đống ống nhựa cũ, và chị đứng ngay bên ngoài cửa sổ.

Mặt chị cách mặt con bé hai gang tay, giữa hai người là bảy thanh sắt tròn.

“Bí. Con nghe cô.”

“Dạ.”

“Em con nằm đâu?”

“Con để nó trong cái tủ vải rồi cô.”

*

Chị Thắm nghe không kịp hiểu.

“Con để nó đâu?”

“Trong cái ngăn dưới cái tủ vải. Con lấy đồ ra hết rồi con để nó vô.”

“Sao con để nó vô đó?”

“Tại ở dưới đất nó nặng đầu cô ơi. Lên cao thì đỡ.”

*

Chị Thắm đứng đó, hai tay nắm hai thanh sắt, và chị không nói gì trong ba giây.

Rồi chị nói, và chị phải hắng giọng một cái trước khi nói được.

“Con giỏi lắm. Con giỏi lắm Bí.”

“Cô ơi nó thở gấp lắm.”

“Cô biết rồi. Cô biết rồi con.”

*

Anh Ràng lách vào cái khe, tới sau lưng chị Thắm, và anh rọi đèn pin qua hoa sắt vào trong phòng.

Luồng sáng quét qua nền gạch, qua cái nồi cơm, rồi dừng lại ở cái tủ vải.

Trong ngăn dưới cùng của tủ, có một thằng nhỏ nằm nghiêng, mặt quay ra ngoài.

*

“Bí.”

“Dạ chú.”

“Chú hỏi con cái này. Con trả lời cho đúng nghen.”

“Dạ.”

“Cái van trên đầu bình gas, con vặn tới đâu?”

“Con vặn tới lúc nó cứng ngắc luôn.”

“Con vặn chiều nào?”

“Chiều mẹ con vặn hồi nấu xong.”

“Giỏi.”

“Chú ơi.”

“Gì con.”

“Con mở cửa sổ rồi mà nó không bớt.”

“Ừ. Tại nó nằm ở dưới. Nó không lên tới cửa sổ đâu con.”

*

Anh Ràng lùi ra, quay sang chị Thắm.

“Cái khe dưới chân cửa cái. Nó đang chảy ra ngoài ở đó.”

“Rồi sao?”

“Chảy ra là mừng. Mình đừng bịt nó lại là được.”

*

Bà Tám tới đầu khe, đưa xâu lưỡi cưa vào.

Anh Ràng rút ra một cây, đưa lên ngắm trong ánh đèn pin.

Cây thứ nhất gỉ ở khúc giữa, răng cưa đã bở. Cây thứ hai cũng gỉ. Cây thứ ba còn sáng ở phần lớn chiều dài.

*

Anh Ràng lắp cây thứ ba vào khung cưa, xoay con tán kéo căng lưỡi, rồi anh đưa cái xô nhựa đỏ cho chị Thắm.

“Chị đi hứng nước.”

“Nước gì?”

“Nước gì cũng được. Đầy xô.”

*

Chị Thắm chạy về xe bánh mì, xách cái thùng nhựa đựng nước rửa tay đổ hết vào xô, rồi chạy sang phòng số năm xin thêm một ca.

Chị quay lại với cái xô đầy hai phần ba và một cái khăn lau.

*

Anh Ràng chọn thanh sắt chính giữa, vì cưa đứt thanh giữa thì khoảng hở sẽ mở đều về hai phía, và anh đặt lưỡi cưa vào chỗ thanh đó hàn xuống thanh ngang dưới.

Rồi anh dừng lại.

“Chị nghe kỹ. Tôi cưa, chị dội nước.”

“Dội vô đâu?”

“Vô ngay chỗ lưỡi cưa. Dội hoài, đừng ngưng.”

“Ướt hết cưa sao mà cưa?”

“Ướt mới cưa được chị.”

“Ướt thì nó không ra tia lửa. Với lại chỗ cưa nó nóng. Nóng cũng đủ.”

*

Sáu giờ hai mươi lăm, cây cưa sắt bắt đầu chạy.

*

Tiếng cưa sắt tay là một tiếng rít khô kéo dài, rồi im, rồi lại rít.

Anh Ràng kéo chừng bảy mươi nhát một phút, và anh không đổi nhịp.

Chị Thắm ngồi xổm bên cạnh, múc nước trong xô dội xuống chỗ lưỡi cưa ăn vào sắt, và nước chảy xuống chân tường thành một vệt đen.

*

Bà Tám đứng ở đầu khe, tay vịn vào bức tường, nhìn ra hẻm, canh chừng.

*

Trong phòng, Bí bám hoa sắt, mặt sát vào chỗ anh Ràng đang cưa.

“Con lùi ra chút Bí. Mạt sắt nó văng vô mắt.”

“Dạ.”

Con bé lùi hai bước, rồi nó không lùi thêm được nữa, vì lùi thêm thì nó không nhìn thấy cây cưa.

*

Sáu giờ hai mươi chín, lưỡi cưa ăn được nửa đường kính thanh sắt. Sáu giờ ba mươi mốt, nó gãy.

*

Tiếng gãy của một lưỡi cưa sắt là một tiếng “chát” khô, rất gọn, và nửa lưỡi văng ra rơi xuống nền khe, nằm giữa vũng nước.

Anh Ràng ngồi im hai giây, hai tay còn cầm cái khung cưa.

“Đưa cây nữa.”

*

Bà Tám đưa xâu lưỡi cưa vào. Còn năm cây.

Anh Ràng rút cây sáng nhất, lắp vào, căng lại, và anh cưa tiếp vào đúng cái rãnh cũ.

*

Sáu giờ ba mươi sáu, thanh sắt đứt hẳn ở chỗ hàn dưới.

Anh Ràng nắm lấy thân thanh sắt bằng cả hai tay và kéo.

Nó nhúc nhích được một chút ở đầu dưới, và đứng nguyên ở đầu trên.

*

“Còn dính ở trên.”

“Cưa luôn đi anh.”

“Cưa nữa thì lâu.”

“Bà Tám ơi. Cái khúc gỗ vuông bà kê thùng nước mắm còn không bà?”

“Còn. Để tao lấy.”

*

Ba phút sau bà Tám quay lại với một khúc gỗ vuông dài chừng nửa mét, một đầu đã sứt.

Anh Ràng lấy cây xà beng ra, nhưng anh không thọc đầu xà beng vào giữa hai thanh sắt.

Anh kê khúc gỗ vuông áp vào hai thanh sắt bên cạnh, rồi luồn đầu xà beng qua, tì lên khúc gỗ.

Sắt không chạm sắt. Sắt tì lên gỗ.

*

“Chị Thắm. Chị dội nước lên chỗ này giùm.”

“Chỗ nào?”

“Chỗ đầu cây xà beng với khúc gỗ. Dội cho ướt hết.”

*

Anh Ràng dồn cả người xuống đuôi cây xà beng, và thanh sắt đã đứt ở dưới bắt đầu cong ra, cong chậm, từng chút một, kêu một tiếng ken két rất dài.

Anh bẩy ba lần, và sau lần thứ ba, thanh sắt gập hẳn về một bên, nằm ép vào thanh bên cạnh.

*

Anh Ràng đo cái khoảng hở bằng cách đưa vai mình vào. Vai anh không lọt. Anh đưa cái đầu vào. Đầu lọt.

“Chị lọt không?”

Chị Thắm đưa vai vào thử.

Vai chị kẹt.

*

“Bí. Con lại đây.”

Con bé bước tới sát cửa sổ.

“Con đưa hai tay ra đây coi.”

Bí đưa hai tay qua khoảng hở mới mở ra.

Anh Ràng nắm lấy hai cổ tay nó, và anh ngắm chiều rộng của hai vai con bé so với cái khoảng hở đó.

Rồi anh buông tay ra.

*

“Bí.”

“Dạ.”

“Con ẵm em con ra đây được không?”

*

Con bé quay đầu nhìn về phía cái tủ vải, chỗ ngăn dưới cùng.

Rồi nó quay lại.

“Dạ được.”

*

Nó không nói được. Nó nói dạ được.

*

Anh Ràng nói tiếp, và anh nói từng câu ngắn, cách nhau, để con bé kịp nhớ.

“Con nghe kỹ nghen.”

“Dạ.”

“Con hít một hơi thiệt sâu ở đây trước. Ngay chỗ cửa sổ này.”

“Dạ.”

“Rồi con nín hơi, con đi qua đó, con ẵm nó lên.”

“Dạ.”

“Đừng có ngồi xuống. Ngồi xuống là con xỉu.”

“Dạ.”

“Ẵm được thì con đứng thẳng lên liền. Đứng thẳng rồi mới đi.”

“Dạ.”

“Về tới đây con mới thở. Nghe chưa con.”

“Dạ.”

*

Bí đứng ở cửa sổ, hít vào ba hơi, hơi thứ ba hít cho đầy tới mức hai vai nó nhô lên.

Rồi nó quay người.

*

Ba mét rưỡi từ cửa sổ tới cái tủ vải. Con bé đi bảy bước.

Tới nơi, nó luồn hai tay vào ngăn tủ, xốc em lên ôm ngang bụng, và nó đứng thẳng dậy được.

*

Nhưng thằng Tủn nặng mười ba ký, và mười ba ký ôm ngang bụng thì đầu và hai chân thõng xuống hai bên.

Bí đi được ba bước thì đầu thằng nhỏ tuột xuống thấp, và con bé phải dừng lại giữa phòng xốc lại.

*

Ba giây đó là ba giây nó phải thở ra, và hít vào ngay giữa phòng, ở độ cao một mét của một đứa trẻ tám tuổi đang đứng thẳng.

*

“Đi con. Đi tiếp. Bốn bước nữa thôi.”

Chị Thắm không nói gì. Chị đưa cả hai bàn tay qua khoảng hở, giơ ra phía trước, sẵn đó.

*

Bí đi bốn bước, nâng em lên ngang ngực, và chị Thắm luồn hai tay qua khoảng hở, đỡ lấy đầu và vai thằng nhỏ.

“Đưa cô. Đưa cô đầu nó trước.”

“Dạ.”

“Từ từ. Từ từ con.”

*

Đầu qua được. Hai vai phải xoay chéo. Tới hông thì kẹt, và chị Thắm phải rút một tay ra, luồn xuống dưới, xoay người nó nghiêng hẳn đi, còn anh Ràng đỡ hai chân từ bên dưới.

Trong bốn mươi giây đó không ai nói một tiếng nào, ngoài tiếng thở của ba người lớn và tiếng nước trong cái xô sóng sánh khi ai đó đá phải nó.

*

Sáu giờ bốn mươi hai, thằng nhỏ ba tuổi ra khỏi phòng số bảy.

Chị Thắm ôm nó lách ngược ra khỏi cái khe, đặt nó nằm xuống nền hẻm chỗ thoáng nhất, và bà Tám quỳ ngay xuống bên cạnh.

*

Bà đặt bàn tay lên ngực thằng nhỏ và giữ ở đó, và cả ba người còn lại không ai hỏi.

Rồi bà rút tay về.

“Nó còn thở.”

“Bà chắc không bà?”

“Tôi chắc. Tay tôi còn tốt.”

*

Bà Tám lật nghiêng thằng nhỏ, cho mặt nó quay ra ngoài, kê một tay dưới cằm nó.

Rồi bà tháo cái nón vải trên đầu xuống và quạt vào mặt nó, quạt đều, không mạnh.

*

“Bí. Tới con.”

“Dạ.”

“Con leo lên bệ cửa. Chú kéo.”

*

Bí trèo lên bệ cửa sổ, đưa một tay ra trước, rồi đưa cả cái đầu qua khoảng hở, rồi tới vai.

Vai trái qua được. Vai phải kẹt.

*

Anh Ràng luồn một tay vào, đặt lên bả vai phải nó, ấn xuống chéo.

“Xoay người con. Xoay như chú đang đẩy nè.”

“Dạ.”

“Thở ra hết đi con. Thở ra hết rồi ép người lại.”

*

Con bé thở ra hết.

Lồng ngực nó xẹp xuống, cái vai phải trượt qua cạnh thanh sắt, và rồi cả người nó tuột ra ngoài, rơi vào hai cánh tay anh Ràng.

*

Sáu giờ bốn mươi lăm.

*

Anh Ràng ôm con bé lách ngược ra khỏi khe, đặt nó xuống cạnh chỗ thằng em nằm.

Con bé không ngồi xuống. Nó quỳ, và nó nhìn xuống mặt thằng nhỏ.

*

Sáu giờ bốn mươi chín, thằng Tủn cựa một cái ở vai, rồi nó ho, rồi nó khóc.

Tiếng khóc của một đứa trẻ ba tuổi vừa tỉnh dậy ở một chỗ lạ, giữa mấy cái mặt lạ, dưới ánh đèn pin.

*

Bà Tám ngồi thụp xuống, đỡ nó dậy, và bà nói với nó cái câu người già hay nói.

“Ừ. Khóc đi con. Khóc đi.”

*

Chị Thắm quay đi, bước ba bước ra chỗ cái xe bánh mì, đứng quay lưng lại chừng năm giây.

Rồi chị quay lại, và tay chị bưng theo hai ổ bánh mì ế.

*

Anh Ràng không ngồi xuống với mấy người kia.

Anh quay vào cái khe, lấy cái khăn lau nhúng nước vắt lên chỗ thanh sắt vừa cưa đứt, chỗ vết cắt còn sắc.

Rồi anh đứng ở đó, tay bám thành cửa sổ, nhìn vào trong căn phòng tối.

Trong đó có một cái nồi cơm nguội đặt trên nền gạch, một quyển vở tô dở, và một cái tủ vải mở toang ngăn dưới cùng, đồ đạc bị lôi ra quăng vương vãi khắp nền.

*

Bảy giờ mười lăm, chị Duyên về.

Chị quẹo vào đầu hẻm, và cái đầu tiên chị thấy là bốn năm cái đèn pin điện thoại chụm lại ở khoảng trống cuối dãy.

*

Chị Duyên chạy hết bốn mươi hai mét đó, tay vẫn cầm cái bịch ni lông đựng hai cái bánh bò mua ở cổng quán.

*

Người ta dạt ra.

Ở giữa vòng người, thằng Tủn ngồi trong lòng bà Tám, quấn trong cái khăn lông của ai đó, đang cầm một khúc bánh mì gặm, còn con bé thì ngồi bệt trên nền hẻm, hai tay ôm hai đầu gối.

*

Chị Duyên khuỵu xuống trước mặt hai đứa.

Chị đưa tay ra chạm vào mặt thằng nhỏ, rồi chị rụt tay lại, rồi chị lại chạm.

Chị hỏi một câu, rồi hỏi lại đúng câu đó, rồi hỏi lại lần nữa.

“Sao vậy? Sao vậy con? Sao vậy?”

*

Không ai trả lời chị ngay.

Bà Tám nói trước, và bà nói cái câu cần nói trước nhất.

“Hai đứa không sao Duyên.”

“Nó sao vậy bà? Nó sao vậy?”

“Xì gas. Hai đứa hít phải. Giờ ra ngoài rồi.”

*

Chị Duyên ngẩng lên nhìn về phía cửa phòng số bảy.

Cánh cửa gỗ vẫn đóng, và cái khoá móc bằng đồng vẫn treo nguyên trên hai khoen sắt, y như lúc chị bấm nó xuống lúc ba giờ bốn mươi chiều.

*

Chị đưa tay vào túi quần, lấy ra chùm chìa khoá.

Chị không đi ra mở.

Chị ngồi sụp xuống nền hẻm và chị nắm cái chùm chìa khoá đó rất chặt.

*

Anh Ràng lên tiếng.

“Duyên.”

“Dạ anh.”

“Đừng có mở cửa cái. Để tới sáng.”

“Dạ.”

“Sáng mai mở hết cửa nẻo ra, để một hai tiếng cho nó bay hết rồi hẵng vô.”

“Dạ.”

“Với cái dây gas. Bỏ luôn cái dây đó đi. Đừng có quấn keo nữa.”

“Dạ anh.”

*

Chị Duyên nói dạ bốn lần, và chị không nghe được một chữ nào trong đó.

*

Đêm ấy ba mẹ con ngủ ở cái tiệm tạp hoá đầu dãy, trên cái sạp gỗ bà Tám vẫn để hàng.

Thằng Tủn ngủ trước, ngủ mê mệt, và cứ chừng mười lăm phút nó lại giật mình một cái rồi ngủ tiếp.

Chị Duyên ngồi cạnh nó suốt, một tay để trên ngực nó.

Cứ mỗi lần nó giật mình, tay chị lại ấn xuống một chút.

*

Bí không ngủ.

Con bé nằm quay mặt vào vách, mắt mở.

*

Khuya, chị Duyên nằm xuống cạnh con, nằm im một lúc lâu, rồi chị đưa tay qua đặt lên vai con bé.

“Bí.”

“Dạ.”

“Con ngủ chưa?”

“Chưa mẹ.”

*

Chị định hỏi: sao con biết để em lên cao?

Nhưng chị không hỏi được câu đó, vì hỏi câu đó thì chị sẽ phải nghe câu trả lời, và trong câu trả lời sẽ có một buổi chiều dài ba tiếng đồng hồ mà chị không có mặt.

Nên chị hỏi câu khác.

“Con có đói không?”

*

Con bé nằm im chừng ba nhịp thở.

Rồi nó nói, vẫn quay mặt vào vách.

“Mẹ ơi.”

“Gì con.”

“Con làm tắt cái bếp.”

*

Chị Duyên nhổm dậy.

“Con nói gì?”

“Cơm nó trào ra nó làm tắt lửa. Mà con tưởng cái bếp hư.”

“Bí…”

“Con bấm nút hoài mà nó không lên lửa. Con tưởng nó hư mẹ à.”

*

Con bé nói tới đó thì nó ngừng, và hai vai nó bắt đầu rung.

Nó khóc quay mặt vào vách, và nó lấy hai tay bịt lấy miệng mình để tiếng khóc không làm thằng em thức.

*

Nó đã không khóc lúc kéo em ra khỏi nệm, cũng không khóc lúc đẩy em vào ngăn tủ.

Nó đã không khóc lúc nín hơi đi ba mét rưỡi qua căn phòng đó, cũng không khóc lúc cái vai phải của nó kẹt lại giữa hai thanh sắt.

Nó khóc lúc này, vì tới lúc này nó mới hiểu ra cái mà nó vừa làm là để sửa một chuyện do chính nó gây ra.

*

Chị Duyên kéo con bé úp mặt vào ngực mình, và chị áp cả bàn tay lên gáy nó, ấn xuống, giữ nó ở đó.

Chị không nói không phải lỗi của con. Chị không nói con giỏi lắm.

Chị nói một câu khác.

*

“Bí. Mẹ nghe nè. Mẹ đang nghe nè.”

“Con làm tắt cái bếp mẹ ơi.”

“Ừ. Mẹ nghe rồi.”

“Con làm tắt cái bếp.”

“Ừ. Con nói nữa đi. Mẹ còn nghe.”

*

Con bé nói lại câu đó chín lần trong đêm ấy.

Lần nào mẹ nó cũng ừ.

*

Sáng hôm sau, tám giờ, anh Ràng mở khoá phòng số bảy, đẩy hết cửa nẻo ra, rồi bắt mọi người đứng ngoài hẻm đợi bốn mươi lăm phút.

Chị Duyên vào trước, ôm cái bình gas mười hai ký ra để ngoài nắng, tháo hẳn sợi dây cao su vàng ra khỏi bình.

Chị cầm sợi dây đó ra chỗ thùng rác đầu dãy, và chị không bỏ vào thùng ngay.

Chị lật lên nhìn cái chỗ có bốn vòng băng keo điện chị quấn hồi mùa mưa năm ngoái, băng keo đã bong ra một đầu, cuộn lại như cái vỏ ốc.

*

Chiều hôm ấy chị ra quán xin đổi qua ca sáng, miễn là chị về trước lúc trời tối.

“Quán chỉ đông buổi chiều tối thôi Duyên.”

“Dạ em biết. Mà em kẹt hai đứa nhỏ.”

“Ca sáng có người rồi em.”

“Dạ.”

“Em ráng thu xếp coi. Chỗ này chị giữ cho em tới cuối tuần.”

“Dạ thôi chị. Chị kiếm người đi chị.”

*

Chị Duyên đứng ở cửa bếp quán một lúc, rồi chị cảm ơn, rồi chị đi về.

*

Số tiền chị dành được trong sáu tháng — hai triệu tám — là để đóng cho cái nhóm trẻ của bà Chín ở cuối hẻm, giữ thằng Tủn buổi chiều, ba trăm ngàn một tháng. Chị đã tính rồi: đóng tám tháng, còn dư bốn trăm.

*

Số tiền đó, hai hôm sau, chị đưa cho bệnh viện.

Người ta giữ thằng Tủn lại hai ngày để theo dõi và cho thở ô-xy một đêm.

Chị Duyên ngồi ở hành lang cả hai ngày ấy, và Bí ngồi cạnh mẹ, ôm cái cặp đi học vì nó nghỉ học hai buổi.

*

Ngày thứ ba, hai mẹ con đưa thằng nhỏ về.

Về tới đầu dãy trọ, có một thứ khác đi.

*

Trên vách gỗ của cái tiệm tạp hoá, ngay chỗ bà Tám vẫn treo xâu lưỡi cưa sắt, bây giờ có đóng thêm một cây đinh.

Trên cây đinh đó treo một chùm chìa khoá, và chùm chìa khoá đó là của phòng số bảy.

*

“Bà giữ giùm con hả bà?”

“Ừ. Chi mà con đi làm mày cứ khoá rồi ôm chìa khoá theo hoài vậy.”

“Con sợ phiền bà.”

“Phiền gì. Cái đinh với sợi kẽm chớ mấy.”

“Lỡ bà đi chợ thì sao bà?”

“Tao có đi thì cũng có con Thắm. Mày lo cái thân mày đi.”

*

Bà Tám không nói thêm câu nào về chuyện đó nữa.

Nhưng ba hôm sau, có thêm hai cây đinh nữa đóng trên cái vách gỗ ấy.

Rồi tới cuối tháng thì cái vách gỗ có bảy cây đinh, và bà Tám phải lấy bút lông ghi số phòng lên vách bên dưới mỗi cây, vì bà bắt đầu lẫn.

*

Còn cái ô hoa sắt ở cửa sổ phòng số bảy thì không ai hàn lại.

Anh Ràng có nói tới chuyện đó một lần.

“Tôi xin được mấy khúc sắt phi mười ở công trình. Hàn lại một buổi là xong à Duyên.”

“Thôi anh.”

“Để vậy nó trống lắm.”

“Dạ. Em biết.”

“Trộm nó chui vô thì sao?”

“Nhà em có gì đâu mà trộm anh.”

*

Cái thanh sắt bị cưa đứt vẫn nằm đó, gập về một bên, và chỗ vết cưa anh Ràng có mài lại cho hết cạnh sắc rồi quấn mấy vòng dây nhựa buộc hàng.

Từ đó, ô cửa sổ phòng số bảy có sáu thanh sắt thẳng và một thanh cong.

Cái khoảng hở ấy rộng chừng ba gang tay. Đủ lọt một đứa nhỏ.

*

Bây giờ chị Duyên chỉ còn nhận rửa chén theo giờ ở hai ba chỗ, sáng một chỗ, trưa một chỗ.

Trước khi đi, chị đều làm một việc.

Chị mở hai cánh cửa sổ gỗ ra và cài chúng vào hai cái móc trên tường, cài để chúng không tự đóng lại được nữa.

*

Bí thì có một việc riêng.

Con bé đi học buổi sáng, về lúc mười một giờ, và việc đầu tiên nó làm khi mở cửa phòng là ngồi thụp xuống nền gạch, mặt gần sát nền, hít một hơi.

Rồi nó mới đứng lên và bỏ cặp xuống.

*

Mấy lần đầu chị Duyên không nói gì. Tới lần thứ tư, chị hỏi.

“Con ngồi chi vậy Bí?”

“Con ngửi.”

“Ngửi gì con?”

“Ở dưới đó mới ngửi được mẹ. Ở trên không ngửi được đâu.”

*

Chị Duyên đứng nhìn con bé tám tuổi của mình ngồi xổm trên nền gạch bông, mũi cách mặt gạch một gang tay.

Chị không bảo nó thôi đi.

Từ hôm sau, mỗi lần đi làm về, chị cũng ngồi xuống hít một hơi như vậy.

Hai mẹ con không bàn với nhau chuyện đó bao giờ.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Bài tiếp theo
Thằng bé khiếm thính chui xuống miệng cống mất nắp lấy lại cái máy trợ thính — trên đầu nó, cơn giông đã tới rìa khu
Truyện

Thằng bé khiếm thính chui xuống miệng cống mất nắp lấy lại cái máy trợ thính — trên đầu nó, cơn giông đã tới rìa khu

 · 32 phút đọc · Halab

Thằng bé chín tuổi thò cả hai chân xuống cái miệng cống mất nắp ở cuối con hẻm, lúc bốn giờ hai mươi chiều, để mò lại cái máy nhỏ bằng hạt đậu vừa rơi khỏi tai nó.

Cách đó chừng hai cây số về phía tây, một khối mây màu chì đã ăn hết đường chân trời, và tiếng sấm đầu tiên vừa đổ xuống mái tôn cả khu.

Nó không nghe thấy tiếng sấm đó.

Nó cũng chưa bao giờ nghe thấy.

*

Con hẻm này rộng vừa đủ hai xe máy tránh nhau, hai bên là dãy nhà trọ lợp tôn.

Cuối hẻm, chỗ giáp đường lớn, có quán nước của bà Bảy: một tấm bạt xanh căng vào bốn cây tre, dưới bạt kê tủ kính bán thuốc lá với kẹo, một thùng đá xốp, bốn cái ghế nhựa đỏ đã bạc thành hồng.

Trên mặt tủ kính có một cái ly thuỷ tinh úp ngược.

Dưới cái ly đó, bà Bảy cất tiền lẻ.

Và cạnh cái ly, có một hộp nhựa tròn nhỏ bằng hộp thuốc, nắp xanh, bên trong lót một mẩu bông gòn.

Cái hộp đó để trống từ sáng.

*

Thằng bé tên Đậu.

Nó ngồi trên cái ghế nhựa thấp nhất, sát mép bạt, quay mặt ra hẻm, vì từ đó nó nhìn được cả con hẻm cùng lúc.

Người nghe được thì ngồi đâu cũng biết ai đang tới. Nó thì phải nhìn.

Trong lòng nó là một cái hũ đựng chao đã rửa sạch, trong hũ có nước, một cọng rong đuôi chó, và một con cá lia thia đỏ tía.

*

Bốn giờ kém mười lăm, bà Bảy ra ngồi ở cái ghế bên kia tủ kính.

Bà bảy mươi hai tuổi. Đầu gối trái có một cái đai vải màu da bò, đeo từ mùa mưa năm ngoái.

Bà đi được. Bà chỉ không đi nhanh được.

Từ quán tới đầu hẻm là bốn mươi tám bước chân người thường. Bà đi hết chín mươi mấy bước.

Bà nhìn ra đường lớn.

Nắng vẫn còn, nhưng đã đổi màu — thứ nắng vàng đục, không có bóng, nắng của buổi chiều sắp có giông.

Có tiếng người đàn bà nói vọng từ nhà bên.

“Bà Bảy ơi, dọn đi bà. Trời đen kìa.”

“Ừ. Tôi ngó rồi.”

“Bà dọn sớm đi. Bữa nay nó mưa lớn đó.”

Bà quay vào, kéo tấm bạt xuống thấp thêm một nấc, rồi buộc lại góc dây.

*

Đậu đặt cái hũ cá xuống nền xi măng, giữa hai bàn chân.

Nó đưa tay lên vành tai phải.

Ở đó có một cái máy nhỏ màu be, hình móc câu, nối vào cái nút nhựa trong lỗ tai.

Nó chỉ có một cái. Tai trái không có gì.

Cái máy đó bà Bảy mua lại của một bà bán ve chai, sáu trăm ngàn, trả làm ba lần.

Nó không làm Đậu nghe được như người ta. Nó chỉ biến tiếng động lớn thành một cái rung ù ù trong đầu — đủ để nó biết có xe sau lưng, biết bà nó vừa đánh rơi cái gì.

Sáng nay cái rung ù ù đó yếu dần rồi mất.

Bà Bảy đã mở nắp pin, lau bằng vạt áo, thổi vào, lắp lại. Bà làm ba lần.

Cái máy im.

*

Bốn giờ, bà Bảy đưa cho Đậu một tờ hai chục ngàn.

Bà không nói. Bà chỉ giơ tờ tiền, giơ hai ngón tay, rồi chỉ vào tai nó.

Đậu hiểu ngay. Hai viên pin. Tiệm sửa đồng hồ ngoài đầu đường có bán.

Nó gật, nhét tờ tiền vào túi quần bên phải, rồi nó gỡ cái máy trợ thính ra khỏi tai, vì lần trước, lúc chạy ra đầu đường, cái máy bị tuột và suýt rơi xuống rãnh.

Nó cầm cái máy trong lòng bàn tay trái, khép ngón lại, và nó chạy.

*

Con hẻm này có ba cái miệng cống.

Cái thứ nhất ở giữa hẻm, nắp gang, mặt nắp mòn nhẵn.

Cái thứ hai ở chỗ ngã ba, nắp bê tông nứt một đường chéo.

Cái thứ ba nằm ở cuối hẻm, dưới gốc cây bàng, và cái thứ ba không còn nắp.

Nó mất nắp từ mùa mưa năm ngoái. Người ta đậy tạm lên một tấm ván ép, chèn bốn viên gạch bốn góc.

Ván đã mủn ra vì mưa nắng. Bốn viên gạch bị mấy đứa nhỏ lấy đi làm cầu môn đá banh, còn hai.

Bây giờ nó chỉ còn che được nửa cái miệng cống.

Nửa còn lại là một khoảng vuông đen, rộng chừng bốn mươi phân mỗi cạnh.

Không ai gọi ai tới sửa, vì cái hẻm này chưa từng có ai tới sửa cái gì.

*

Đậu chạy tới đó lúc bốn giờ mười tám.

Nó chạy sát mép tường bên phải, đúng như bà nó dạy, và nó né tấm ván ép như đã né hàng ngàn lần.

Nhưng lần này ở đó có một vũng nước xà bông đùng đục chảy ra từ ống xả máy giặt nhà bà Tư.

Bàn chân trái nó trượt.

Nó không ngã. Nó chỉ khuỵu xuống một bên, chống tay phải xuống nền.

Bàn tay trái bung ra.

*

Cái máy trợ thính bay khỏi lòng bàn tay nó, đập vào mép bê tông miệng cống, nảy lên, rồi rơi thẳng xuống khoảng vuông đen.

Đậu không nghe thấy tiếng nó rơi.

Nó bò tới miệng cống, ghé đầu xuống, nhìn.

*

Bên dưới là một cái hộp bê tông.

Không phải ống tròn như nó tưởng. Một đường cống hộp, lòng vuông tám tấc, chạy dọc dưới con hẻm ra phía đường lớn.

Đáy cống có một lớp nước đen đứng yên, dày chừng một gang tay, phủ trên lớp bùn.

Từ miệng cống xuống mặt nước là chừng một mét bảy.

Trên vách bên phải có ba thanh sắt tròn so le làm bậc leo.

Đậu nằm sấp, thò cả đầu và hai vai xuống.

Ánh sáng chiều lọt qua miệng cống thành một khối vuông nằm nghiêng trên mặt nước đen.

Trong khối sáng ấy, cách hai bước chân người lớn, có một chấm màu be nằm trên gờ bùn.

*

Nó ngóc dậy, và nó quay đầu nhìn về phía quán nước.

Cách bốn chục mét, dưới tấm bạt xanh, bà Bảy đang cúi xuống thùng xốp.

Đậu nhìn cái lưng còng đó chừng ba giây.

Rồi nó nhìn xuống miệng cống.

Rồi nó nhìn lại cái lưng còng.

Sáu trăm ngàn — ba buổi tối bà ngồi đếm tiền lẻ dưới cái ly thuỷ tinh lâu hơn bình thường.

*

Đậu cởi dép, xếp hai chiếc ngay ngắn cạnh gốc cây bàng, mũi quay vào tường.

Nó lấy tờ hai chục ngàn trong túi ra, gấp làm tư, nhét vào trong chiếc dép trái.

Rồi nó xoay người, ngồi thõng hai chân xuống khoảng vuông đen, hai tay bám mép bê tông.

Đầu ngón chân trái nó chạm vào thanh sắt thứ nhất.

*

Ở đầu bên kia hẻm, một tấm tôn vừa bị gió lật lên rồi đập xuống.

Trong quán, bà Bảy ngẩng lên.

Bà nhìn ra ngoài đường lớn, chỗ mấy ngọn cây me bên kia đang lật trắng cả mặt lá.

Bà chống tay lên đầu gối, đứng dậy, và bà bắt đầu thu mấy cái ghế nhựa.

*

Đậu tụt xuống hết ba thanh sắt, buông tay, nhảy.

Nước lạnh, ngập tới gần đầu gối nó, và dưới lớp nước là bùn mềm hút lấy bàn chân.

Mùi thì nó ngửi được. Mùi bùn nguội, mùi kim loại, mùi thứ nước đứng yên quá lâu.

Miệng cống bây giờ là một ô vuông sáng trên đầu, cao hơn nó hai cái đầu người.

*

Trong lòng cống, ánh sáng chỉ đi được chừng ba bước.

Quá ba bước là bóng tối, và bóng tối trong cái hộp bê tông này không giống bóng tối trong nhà. Nó đặc, phẳng, không có chiều sâu.

Đậu bước tới hai bước, cúi xuống, quờ dọc gờ bùn.

Ngón tay nó chạm một cái nắp chai, một mẩu xốp, rồi chạm một vật nhỏ, cứng, cong.

Cái máy trợ thính nằm trong lòng bàn tay nó, dính bùn.

Đậu ngồi thụp xuống trên gót chân, giữa lòng cống, và nó cười.

Nó lấy vạt áo lau cái máy, lau cả cái nút nhựa nhỏ.

Rồi nó nhét cái máy vào túi quần bên phải, và nó vỗ lên túi ba cái.

*

Bên trên mặt đất, lúc ấy là bốn giờ hai mươi bảy.

Cơn giông đã tới rìa khu.

Gió đổi chiều, thổi ngược từ đường lớn vào hẻm, cuốn theo bụi và giấy gói xôi.

Bà Bảy ôm chồng ghế nhựa vào trong, rồi bà quay ra nhìn dọc con hẻm.

Bà nhìn chỗ Đậu vẫn hay đứng đợi bà ở gốc cây bàng.

Chỗ đó có hai chiếc dép nhựa xếp ngay ngắn, mũi quay vào tường.

Bà đứng nhìn hai chiếc dép đó rất lâu, rồi bà bước ra khỏi bạt.

*

Trong lòng cống, Đậu quay lại phía ba thanh sắt.

Nó vịn thanh thấp nhất, đặt bàn chân phải lên, và nó đu người lên.

Thanh sắt thứ hai nó nắm được.

Thanh sắt thứ ba, nó với tay lên, các ngón chạm vào — và nó tuột.

Bùn từ dưới đáy trộn với nước thành một lớp nhờn trong lòng bàn tay nó.

Nó rơi trở lại xuống nước.

Nó đứng dậy, chùi hai lòng bàn tay vào ngực áo tới khi áo ướt một mảng, rồi leo lại.

Lần thứ hai nó lên được tới thanh thứ ba, và nó đưa được cả hai tay lên mép miệng cống.

Và ngay lúc đó, cả người nó tụt xuống nửa gang.

Thanh sắt thứ ba dưới bàn chân nó vừa xoay trong lỗ bê tông. Đầu thanh đã mục.

Nó treo trên mép miệng cống bằng mười đầu ngón tay dính bùn.

*

Đậu bám như vậy chừng bốn nhịp thở.

Rồi nó buông.

Bên trên, ô vuông sáng đã đổi màu. Lúc nó tụt xuống, ô ấy màu vàng đục. Bây giờ nó màu xám.

*

Đậu đứng dậy, và nó làm một việc rất bình tĩnh.

Nó lội tới sát vách, đặt cả hai lòng bàn tay lên bê tông, và nó úp má vào đó.

Nó không nghe. Nó cảm.

Qua lớp bê tông lạnh áp vào má, nó thấy một thứ rung rất nhỏ và rất đều chạy dọc bức vách, từ phía đường lớn về.

Đó là bánh xe chạy trên mặt đường bên trên.

Nó biết cái rung đó. Ở nhà, nó vẫn đặt tay lên tường để biết bên ngoài có xe ba gác đi qua.

Nó rời má khỏi vách, và nó quay đầu về phía có rung.

Đường lớn ở phía đó.

*

Nó bắt đầu lội.

Đậu cao chừng một mét hai, nên trong lòng cống tám tấc nó đi thẳng được, chỉ hơi cúi đầu.

Nó lội được năm bước thì hết chỗ sáng.

Phía trước không có gì. Không phải tối. Là không có gì.

Đậu đưa tay phải ra, chạm vào vách, và nó đi tiếp bằng cách miết bàn tay dọc theo đó.

*

Trên mặt đất, bà Bảy đã đi được hai mươi bước, chống tay lên đùi mỗi ba bước.

Bà gọi.

“Đậu.”

Bà gọi, rồi bà im, rồi bà tự lắc đầu.

Bà đã sống với thằng nhỏ này chín năm. Bà biết gọi là vô ích. Nhưng miệng bà cứ gọi trước cái đầu bà.

Tới gốc cây bàng, bà đứng lại, nhìn hai chiếc dép.

Rồi bà nhìn sang bên trái, chỗ khoảng vuông đen bên cạnh tấm ván ép.

Bà Bảy đứng thẳng người lên.

*

Bà quay lại, và lần này bà không đi. Bà chạy.

Bảy tám bước thì đầu gối trái khuỵu. Bà đổ người vào bức tường bên phải, đứng lại thở.

Rồi bà đấm vào cánh cửa sắt gần nhất.

“Chú Tòng! Chú Tòng ơi!”

“Cô Hảo! Có ai ở nhà không!”

“Thằng Đậu nó lọt xuống cống rồi!”

*

Cánh cửa sắt mở ra.

Chú Tòng bốn mươi mấy tuổi, ở trần, tay còn cầm cái khăn lau.

Chú chạy xe ba gác chở hàng cho mấy vựa trái cây ngoài chợ đầu mối, và chiều nào cũng về sớm hơn khi trời sắp mưa.

“Cái gì bà Bảy? Bà nói gì?”

“Thằng Đậu! Nó xuống cái cống đầu hẻm!”

“Cống nào?”

“Cái cống mất nắp! Chỗ gốc bàng!”

“Bà thấy nó xuống hả?”

“Tôi không thấy. Dép nó còn ngoài đó.”

“Dép thì ăn thua gì bà. Nó chạy chơi rớt dép hoài mà.”

“Nó xếp dép chú ơi. Nó xếp hai chiếc sát nhau, mũi quay vô tường.”

Chú Tòng đứng im nửa giây.

“Bà chắc không?”

“Rớt thì dép nó văng mỗi chiếc một nơi. Nó xếp là nó cởi ra. Nó cởi ra là nó đi xuống.”

“Nó xuống đó chi?”

“Cái máy đeo tai của nó. Từ sáng tới giờ nó cứ sờ cái tai hoài.”

“Trời đất ơi.”

“Chú Tòng ơi.”

Chú Tòng quăng cái khăn xuống đất và chú chạy.

*

Trời tối thêm một nấc.

Không phải tối dần. Tối một nhát, kiểu có ai kéo một tấm bạt ngang qua bầu trời.

Và ngay sau đó, hạt mưa đầu tiên rơi xuống mái tôn dãy trọ.

*

Chú Tòng tới miệng cống trước bà Bảy chừng nửa phút.

Chú quỳ một chân xuống, thò đầu vào khoảng vuông đen, và chú gọi.

“Đậu! Đậu ơi!”

“Đậu! Có dưới đó không con!”

Chú gọi ba lần.

Rồi chú ngồi thẳng lên, và chú đưa tay lên vuốt mặt.

Chú vừa nhớ ra.

*

Bà Bảy tới nơi, chống hai tay lên đầu gối.

“Có thấy gì không chú?”

“Tối thui bà ơi. Xuống chừng hai thước là hết thấy.”

“Chú gọi đi.”

“Tôi gọi rồi.”

“Chú gọi lớn lên. Chú gọi lớn nữa vô.”

“Bà Bảy.”

“Chú gọi đi mà!”

“Bà Bảy. Nó có nghe được đâu.”

Bà Bảy ngẩng lên nhìn chú.

“Ừ.”

“Bà…”

“Ừ. Tôi biết mà. Tôi quên.”

“Bà đứng lùi ra chút. Nền trơn.”

“Chín năm rồi tôi vẫn quên chú à.”

*

Bà Bảy đứng đó, dưới gốc cây bàng, dưới những hạt mưa đầu tiên.

Bà không nói gì trong bốn năm giây.

Rồi bà quỳ xuống, chống hai tay lên nền xi măng ướt, và bà chồm mặt vào miệng cống.

“Đậu ơi. Bà đây con.”

Bà nói vào cái lỗ vuông đen.

Bà biết nó không nghe. Bà vẫn nói.

*

Dưới lòng cống, cách đó ba mươi mét, Đậu đang miết tay dọc vách.

Nó đi được chừng ba chục bước.

Ở đây tối hoàn toàn.

Nó không nhìn thấy bàn tay của chính nó khi đưa lên trước mặt.

Nhưng bàn chân nó cảm được: nước đã lên cao hơn lúc nãy.

Lúc mới xuống, nước tới gần đầu gối nó.

Bây giờ nước tới trên đầu gối.

*

Trên mặt đất, mưa bắt đầu thật.

Nó đổ thẳng, và trong nửa phút mặt hẻm đã có một lớp nước chảy về phía thấp nhất, là gốc cây bàng.

Từ khoảng vuông đen bên cạnh tấm ván ép, nước bắt đầu đổ xuống thành một cái vòi.

Chú Tòng chồm tới, gạt tấm ván ép trượt qua, đậy kín cái miệng cống lại.

“Bà Bảy! Lấy gì chèn lên đây! Lấy gì cũng được!”

Bà Bảy quờ tay, lôi được hai viên gạch, đặt lên hai góc ván.

Cái vòi nước ngưng.

Nhưng dọc hai bên hẻm, nước vẫn chảy — xuống hai miệng cống có nắp phía trong, qua khe nắp bê tông nứt ở ngã ba, và từ ngoài đường lớn vào qua cửa cống hàm ếch ven lề.

*

Chú Tòng đứng dậy, quay mặt vào trong hẻm, và chú hét.

“Bà con ơi! Có thằng nhỏ dưới cống!”

“Ai có đèn pin mang ra đây giùm tôi!”

“Anh Ròm! Anh Ròm đâu rồi! Mang cây xà beng ra đây anh ơi!”

*

Cửa bắt đầu mở dọc hai bên hẻm.

Cô Hảo bán bún chạy ra, đầu đội cái rổ nhựa.

“Thằng nào? Thằng nào dưới cống?”

“Thằng Đậu cô ơi!”

“Thằng Đậu nhà bà Bảy hả?”

“Ừ!”

“Trời ơi. Nó xuống hồi nào?”

“Không biết! Bà Bảy thấy đôi dép nó thôi!”

“Mấy đứa nhỏ vô nhà hết! Vô hết đi!”

Anh Ròm, thợ hàn, người gầy đúng như cái tên, chạy ra với cây xà beng trên vai và cái đèn pin đội đầu còn đeo trên trán.

“Đâu chú Tòng?”

“Cái cống gốc bàng.”

“Thằng Đậu hả?”

“Ừ.”

“Thằng Đậu điếc đó hả chú?”

“Ừ.”

Anh Ròm không hỏi thêm câu nào nữa.

*

Trong khi đó, dưới lòng cống, bàn tay phải Đậu đang miết dọc vách vừa hụt.

Nó quờ ra trước, quờ sang phải, quờ lên trên.

Đây là một chỗ giao. Một đường cống khác đổ vào đường cống nó đang đứng, miệng nằm ngay bên hông phải nó, thấp hơn, nhỏ hơn.

Từ trong cái miệng đó, nước đang chảy ra.

Đậu đặt bàn tay vào luồng nước ấy.

Nước đẩy vào lòng bàn tay nó.

*

Lúc nãy, nước trong cống đứng yên.

Bây giờ nó chảy.

*

Đậu ngồi thụp xuống, đặt cả hai lòng bàn tay lên mặt nước, và nó giữ yên như thế.

Nước chảy từ phía sau nó — phía cái miệng cống mất nắp — về phía trước, phía đường lớn.

Nghĩa là nếu nó đi tiếp theo hướng cũ, nó đi xuôi dòng.

Nó đứng dậy và nó đi tiếp.

Nó không biết một điều: đường cống này ra tới đường lớn thì đổ vào một cái hố ga sâu, và từ đó chạy tiếp bằng ống tròn chìm dưới mặt đường, không có miệng nào lên tới trời trong suốt hai trăm mét.

*

Trên mặt đất, anh Ròm quỳ xuống, gạt hai viên gạch, lật tấm ván ép ra.

Nước hẻm lập tức đổ ào xuống.

Anh chúc cái đèn pin đội đầu vào trong.

Luồng sáng đi xuống, chạm mặt nước đen, và trong luồng sáng đó có thể thấy: mặt nước không còn đứng yên. Nó chảy về một phía, đều, và trên mặt nó có bọt.

“Có thấy nó không anh Ròm?”

“Không thấy. Nước chảy rồi chú ơi.”

“Chảy mạnh không?”

“Có bọt. Có bọt là chảy mạnh.”

“Sâu không?”

“Ngang bụng tôi là cùng.”

“Vậy anh xuống được.”

“Ngang bụng tôi là ngang cổ nó chú.”

Anh Ròm ngẩng lên, và anh nói câu tiếp theo bằng cái giọng của người vừa đo bằng mắt xong.

“Mà tôi xuống không lọt đâu.”

Cái miệng cống rộng bốn mươi phân. Vai anh Ròm rộng hơn thế.

*

Chú Tòng tự thò đầu vai mình vào thử. Vai chú kẹt ngay ở mép.

Chú rút ra, đứng dậy, và chú quay tìm.

“Cái nắp! Cái nắp cống này đâu rồi!”

“Bà con ơi! Ai lấy cái nắp cống chỗ này!”

Không ai trả lời câu đó.

Cái nắp gang ấy biến mất từ mùa mưa năm ngoái. Trong hẻm ai cũng đoán được nó đi đâu, nhưng không ai từng nói ra.

“Chú Tòng, mở nắp thì được cái gì?”

“Rộng ra. Rộng ra là tôi chui xuống.”

“Chú chui xuống rồi chú đi hướng nào? Chú biết nó đi hướng nào không?”

Chú Tòng đứng im.

“Chú không biết. Tôi cũng không biết.”

*

Bà Bảy ngồi bệt xuống nền, cạnh miệng cống, dưới mưa.

Bà thò tay vào khoảng vuông đen và vẫy bàn tay trong không khí bên dưới, như thể ở đó có thể có một bàn tay nhỏ đưa lên.

“Đậu ơi.”

“Đậu ơi con.”

Cô Hảo ngồi xuống cạnh bà, quàng cái rổ nhựa che lên đầu bà.

*

Anh Ròm đứng dậy, và anh hỏi một câu làm cả nhóm im.

“Cái cống này chạy đi đâu?”

*

Không ai trả lời ngay.

Rồi chú Tòng chỉ tay ra phía đường lớn.

“Ra ngoài kia. Ra chỗ cái hố ga trước tiệm sửa đồng hồ.”

“Rồi từ đó?”

“Từ đó nó chui xuống dưới đường. Chạy tuốt ra cái mương sau khu chợ.”

“Xa không?”

“Hai trăm mét là ít.”

“Hai trăm mét đó có lỗ nào lên không?”

“Không có. Ống tròn, chôn dưới đường. Tôi chở đá cho người ta làm khúc đó hồi năm kia.”

“Ống tròn cỡ nào?”

“Cỡ này nè.”

Chú Tòng vòng hai cánh tay thành một vòng trước bụng.

Anh Ròm nhìn cái vòng tay đó.

“Nó lọt.”

“Nó lọt.”

*

Anh Ròm quay đầu nhìn về phía đường lớn.

Rồi anh nhìn xuống miệng cống dưới chân.

Rồi anh nhìn dọc con hẻm, chỗ hai cái miệng cống còn có nắp.

*

“Chú Tòng.”

“Gì?”

“Cái nắp gang giữa hẻm. Với cái nắp bê tông chỗ ngã ba.”

“Sao?”

“Nó cũng ăn xuống cái cống này chứ gì.”

“Ừ. Một đường hết.”

“Vậy mình mở hết ra.”

*

Chú Tòng hiểu ngay.

Nhưng chú vẫn hỏi lại, vì cái điều anh Ròm vừa nói dựa trên một thứ mà chú chưa dám tin.

“Mở ra chi? Nó có nghe được đâu mà mình gọi.”

“Không gọi. Mình rọi đèn.”

“Rọi đèn?”

“Nó không nghe. Mà nó thấy.”

*

Anh Ròm vừa nói vừa vác cây xà beng chạy ngược vào trong hẻm.

“Chú nghĩ coi. Dưới đó tối thui, tối như nhắm mắt. Mà mình mở nắp ra là có một cục sáng đổ xuống.”

“Rồi sao?”

“Trong chỗ tối thui mà có một cục sáng thì con mắt nó dính vô đó liền. Nó đi tới là chuyện chắc.”

“Lỡ nó đi qua rồi thì sao?”

“Thì nó ngó lại. Chú đi trong hầm tối chú có ngó lại không?”

Chú Tòng không đáp.

“Còn cái nữa chú.”

“Cái gì?”

“Nó đang sờ tường.”

“Sao anh biết?”

“Tối thui thì ai cũng sờ tường. Chú với tôi cũng sờ tường.”

Anh Ròm dừng lại giữa hẻm, dộng cây xà beng xuống nền.

“Mình đập vô nắp cống. Đập bằng sắt, đập cho mạnh.”

“Nó có nghe đâu.”

“Nó không nghe. Nhưng cái tường nó rung.”

“Rung thì sao?”

“Tay nó đang để trên cái tường đó chú ơi.”

*

Chú Tòng đứng im một nhịp.

“Anh Ròm.”

“Gì chú.”

“Anh chắc nó sờ tường không.”

“Không chắc.”

“Vậy mà anh làm.”

“Chứ giờ chú kêu tôi làm cái gì khác.”

Chú Tòng chạy theo.

*

Cái nắp gang giữa hẻm nặng bốn mươi mấy ký.

Anh Ròm chèn đầu xà beng vào khe, chú Tòng ngồi lên đuôi xà beng, và cái nắp nhấc lên được một bên.

“Chèn! Chèn cái gì vô đi cô Hảo!”

“Chèn cái gì?”

“Cục gạch! Cục gạch cô đang đứng đó!”

Cô Hảo chèn viên gạch vào.

Ba người xoay cái nắp, đẩy nó trượt sang một bên trên nền xi măng ướt.

Một khoảng tròn đen mở ra giữa hẻm.

*

Ở cái nắp bê tông nứt chỗ ngã ba thì dễ hơn. Hai người khiêng ra được.

“Đèn! Nhà ai có đèn mang hết ra đây!”

Người trong dãy trọ mang đèn ra: đèn pin điện thoại, đèn pin sạc, một cái đèn bão dầu hoả của ông cụ nhà số bảy.

*

Bốn giờ bốn mươi hai.

Ba miệng cống trên con hẻm đều mở, và ba luồng sáng chọc thẳng xuống, in trên mặt nước đen bên dưới ba khoảng sáng cách nhau chừng hai chục mét.

Rồi dọc theo đường cống, người ta bắt đầu đập.

*

Chú Tòng đập bằng cái búa tạ nhỏ, gõ vào nắp gang, đều đặn, ba tiếng một.

Anh Ròm thọc cây xà beng xuống miệng cống, gõ đầu xà beng vào vách bê tông bên trong, gõ mạnh, gõ liên tục.

Cô Hảo cầm cái chày giã cua đập xuống nền xi măng ngay trên đường cống.

Ba đứa nhỏ, không ai bảo, ôm ba cái nồi nhôm ra và đập.

*

Cô Hảo vừa đập vừa đếm, và cứ ba tiếng lại nói một câu, không nói với ai.

“Ba cái nè con.”

“Ba cái nữa nè.”

“Con để tay lên tường đi con. Để tay lên tường giùm cô.”

Có bà cụ nhà số bảy chống gậy ra tới, đứng nhìn một lúc rồi hỏi.

“Mấy đứa đập chi vậy?”

“Kêu thằng Đậu bà ơi.”

“Nó điếc mà kêu gì được.”

“Không kêu bà. Đập cho nó rung cái tường.”

Bà cụ đứng im.

Rồi bà cụ đưa cây gậy ra, dộng xuống nền xi măng, ba cái một, đúng nhịp mọi người.

*

Bà Bảy không đập.

Bà đã bò về chỗ miệng cống đầu hẻm và bà làm một việc khác.

Bà tháo cái đai vải ở đầu gối trái ra.

Bà cởi áo khoác ngoài, buộc hai tay áo vào cái đai vải, thành một sợi dây dài chừng một mét.

Rồi bà buộc đầu kia vào quai một cái đèn pin sạc đang bật, thả xuống từ từ, cho tới khi nó treo lơ lửng cách mặt nước một gang tay.

Luồng sáng quét qua quét lại trên mặt nước chảy, in một vệt sáng chạy dài vào trong lòng cống.

Bà giữ đầu dây bằng cả hai tay, và bà ngồi im như thế dưới mưa.

*

Dưới lòng cống, nước đã tới ngang đùi Đậu, và nó chảy đủ mạnh để đẩy vào mặt sau đầu gối mỗi khi nó nhấc chân.

Nó vẫn đi theo hướng cũ — hướng có cái rung bánh xe, hướng xuôi dòng.

Nó đã đi được chừng năm mươi bước, bàn tay phải vẫn miết trên vách.

*

Và rồi lòng bàn tay nó cảm thấy một thứ mới.

Không phải cái rung đều đều của xe chạy bên trên.

Cái này khác. Nó ngắn. Nó dứt. Nó đi thành từng cụm ba.

Rung. Rung. Rung.

Ngừng.

Rung. Rung. Rung.

*

Đậu đứng khựng lại giữa dòng nước.

Nó áp cả hai bàn tay lên vách bê tông, và nó nhắm mắt.

Cụm ba lại tới. Rồi cụm ba nữa.

Và ở giữa những cụm ba đó, có một thứ rung khác — dày hơn, loạn hơn, không thành nhịp — chạy trên trần cống ngay trên đầu nó.

Đó là mấy cái nồi nhôm.

*

Đậu quay đầu lại, nhìn về phía sau lưng.

Trong bóng tối tuyệt đối ấy, xa chừng hai chục mét, có một khoảng sáng tròn đổ thẳng từ trần cống xuống mặt nước.

Cái khoảng sáng đó không có ở đây lúc nó vừa đi qua.

*

Nó xoay người lại, và nó bắt đầu lội ngược dòng.

*

Lội ngược dòng khó hơn nhiều.

Nước ép vào hai ống chân nó, và mỗi bước nó phải nhấc chân cao khỏi mặt nước rồi mới đặt xuống được.

Đi được mười bước, nó vấp một mảnh bê tông vỡ dưới đáy và ngã chúi về phía trước.

Nước ập qua đầu nó.

Nó chống tay, ngoi lên, ho.

Khi đứng dậy được, nó đưa tay xuống túi quần bên phải.

Cái túi trống.

*

Đậu quỳ ngay xuống chỗ vừa ngã, thò cả hai tay xuống nước, quờ trên đáy bùn.

Nó quờ vòng tròn quanh chỗ đó, quờ rộng ra, quờ ngược lên phía trên dòng.

Tay nó chạm bùn, chạm mảnh bê tông, chạm một cái vỏ lon.

Rồi nó rút hai tay lên, đứng dậy, và nó quay lưng lại chỗ đó.

*

Trên mặt đất, mưa đã đổ được mười lăm phút.

Trên miệng cống giữa hẻm, anh Ròm nằm sấp, đầu và hai vai thò hẳn xuống dưới, một tay cầm đèn pin quét dọc lòng cống.

Chú Tòng ngồi giữ hai chân anh.

“Thấy gì chưa?”

“Chưa.”

“Anh rọi hướng ngoài đường đi.”

“Rọi rồi. Đèn tôi có được chừng hai chục thước là hết.”

“Nước sao rồi?”

“Lên.”

“Lên bao nhiêu.”

“Hồi nãy tôi thấy cái gờ dưới vách. Giờ hết thấy cái gờ.”

“Ngang ngực tôi rồi chú ơi.”

“Ngang ngực anh là ngang đâu của nó?”

Anh Ròm không trả lời câu đó.

“Anh Ròm. Tôi hỏi anh mà.”

“Chú giữ chân tôi cho chắc đi.”

*

Rồi anh hét.

Anh hét lên một tiếng làm cả con hẻm ngừng đập.

“CÓ! CÓ! NÓ ĐÂY NÈ!”

*

Luồng đèn pin của anh Ròm đang chiếu vào một cái đầu.

Cách đó chừng mười lăm mét, một thằng bé đang lội ngược dòng, một tay miết vách, mặt ngước lên nhìn về phía ánh sáng.

Mặt nó đen nhẻm bùn.

Nước đã lên tới ngang bụng nó.

*

“Đậu! Đậu ơi!”

Anh Ròm gọi, rồi anh tự dừng lại giữa chừng.

Anh đổi cách.

Anh chúc luồng sáng xuống, chiếu thẳng vào bức vách ngay bên cạnh chỗ thằng bé đang đứng, rồi anh vẫy luồng sáng ấy về phía miệng cống — vẫy đi, vẫy lại, vẽ một đường sáng chạy trên vách bê tông từ chỗ nó tới chỗ có ánh sáng.

*

Đậu nhìn đường sáng chạy trên vách.

Rồi nó lội theo đường sáng đó.

*

Mười lăm mét ấy, nó đi hết gần ba phút.

Nước đã tới thắt lưng nó, và dòng chảy đẩy nó về phía sau.

Chỗ nào vách nhẵn thì nó chống hai tay vào hai bên vách, ép người vào giữa, nhích từng bước.

*

Còn cách miệng cống chừng ba mét, chân nó hụt.

Đáy cống có một cái rãnh chạy dọc, sâu hơn chừng hai tấc, và nó bước đúng vào rãnh ấy.

Dòng nước bắt lấy nó ngay lập tức và kéo nó về phía sau.

Nó bị đẩy đi hết ba mét vừa đi được, rồi thêm hai mét nữa, cho tới khi lưng nó đập vào một cái gờ nhô ra trên vách.

Nó ôm ngang cái gờ đó bằng cả hai cánh tay, và nó ghì lại.

*

Trên miệng cống, anh Ròm nhoài xuống thêm nửa người.

“Nó trôi! Chú Tòng, nó bị nước cuốn ngược lại rồi!”

“Nó còn bám không?”

“Còn. Nó ôm được cái gờ.”

“Ôm được bao lâu?”

“Chú hỏi tôi cái gì kỳ vậy chú.”

Anh Ròm rút đầu lên, và anh bắt đầu cởi áo.

“Tôi tụt xuống.”

“Anh không lọt đâu!”

“Tôi lọt.”

“Vai anh hồi nãy kẹt rồi mà!”

“Hồi nãy tôi mặc áo.”

“Anh Ròm!”

“Chú giữ hai chân tôi. Tôi ra hiệu là chú thả.”

“Rồi lên bằng gì?”

“Chú thảy cây xà beng xuống. Bắc ngang cái miệng cống.”

“Ròm!”

“Chú giữ đi!”

*

Anh Ròm thò hai chân xuống trước, xoay vai chéo đi, ép người qua cái miệng cống tròn.

Vai anh kẹt ở đúng chỗ xương bả.

Anh thở hết hơi ra, ép ngực lại, và anh tụt xuống, lưng miết dọc mép bê tông suốt cả chiều dài ấy.

*

Nước tới ngang ngực anh, và nó chảy mạnh hơn anh tưởng — anh phải chống ngay một tay lên vách để khỏi bị đẩy đi.

Anh quay đèn pin về phía thằng bé.

Đậu vẫn ở đó, hai tay ôm cái gờ bê tông, chân không chạm được đáy nữa, người nổi ngang theo dòng nước như một cái lá bám vào hòn đá.

*

Anh Ròm đi mất bốn mươi giây cho năm mét, bằng cách chống hai tay lên hai bên vách, xoạc chân, và nhích ngang.

Tới nơi, anh vòng một tay qua ngực thằng bé.

Đậu buông cái gờ bê tông, và cả trọng lượng nó dồn vào cánh tay anh.

*

Anh Ròm quay ngược lại, đi từng bước một, lưng ép vào dòng nước, thằng bé kẹp trước ngực.

Về tới dưới miệng cống, anh ngẩng lên.

Trên đó là một vòng người, và mưa rơi xuyên qua giữa vòng người ấy.

“Chú Tòng! Đưa xà beng xuống! Bắc ngang cái miệng!”

“Rồi! Rồi! Giữ chưa?”

“Giữ cho chắc! Bốn người giữ!”

Cây xà beng được đặt ngang qua miệng cống, hai đầu gác lên hai mép.

*

Anh Ròm dựng thằng bé lên trên hai vai mình.

“Đứng lên vai anh. Đứng lên.”

Anh không nói cho nó nghe. Anh nói vì miệng anh cứ nói.

Anh vỗ vào bắp đùi nó hai cái, rồi anh đỡ hai bàn chân nó, nâng lên.

*

Đậu hiểu.

Nó chống hai tay lên đầu anh Ròm, rút một chân lên đặt lên vai anh, rồi rút nốt chân kia.

Nó đứng thẳng người trên hai vai anh, hai tay quờ lên trên.

Bàn tay nó chạm vào cây xà beng, và nó nắm lấy.

*

Bàn tay nó trơn bùn, và nó tuột ngay lần đầu.

Anh Ròm đỡ nó lại từ dưới.

Đậu chùi hai lòng bàn tay vào ngực áo mình — cái động tác nó đã làm dưới đáy cống nửa tiếng trước — rồi nó nắm lại.

Lần này nó giữ được.

*

“Tay nó! Nắm cổ tay nó đi!”

“Được rồi! Được rồi!”

“Kéo!”

Sáu bàn tay từ trên thò xuống.

Người ta kéo.

*

Thằng bé chín tuổi trồi lên khỏi khoảng tròn đen giữa con hẻm lúc năm giờ lẻ chín phút.

Trước tiên là hai bàn tay. Rồi cái đầu bết bùn.

Rồi cả người nó được lôi ra, đặt nằm ngửa trên nền xi măng ướt, giữa vòng người.

Mưa rơi thẳng vào mặt nó.

Nó nhắm mắt lại, và nó thở.

*

Cô Hảo quỳ xuống, đưa cái rổ nhựa che lên mặt nó.

“Lấy cái chăn! Ai có chăn không!”

“Có! Có đây!”

Anh Ròm được kéo lên sau đó hai phút, lưng xước một đường dài từ vai xuống thắt lưng.

*

Bà Bảy không có ở đó.

Bà vẫn ngồi ở miệng cống đầu hẻm, cách bốn chục mét, hai tay giữ sợi dây buộc cái đèn pin.

Bà không nghe thấy tiếng người reo, vì mưa đang đổ trên mái tôn cả khu và bà đã bảy mươi hai tuổi.

Cô Hảo phải chạy xuống, nắm lấy hai vai bà mà lay.

“Bà Bảy! Bà Bảy ơi!”

“Được rồi! Nó lên rồi bà ơi!”

“Lên rồi hả?”

“Lên rồi! Nó ngồi dậy được rồi bà!”

*

Bà Bảy không thả sợi dây ngay.

Bà nhìn cô Hảo, rồi bà nhìn xuống cái miệng cống, rồi bà nhìn cô Hảo lần nữa.

Rồi bà mới buông tay.

Cái đèn pin rơi tõm xuống nước, chìm xuống, và ánh sáng của nó còn nhìn thấy được thêm hai giây dưới làn nước đục trước khi tắt hẳn.

*

Bà Bảy đi bốn chục mét ấy hết bao lâu thì không ai đếm. Người ta chỉ nhớ là bà đi giữa hẻm, dưới mưa, không chống tay lên đùi lần nào.

*

Đậu ngồi dậy được khi bà tới nơi.

Nó ngồi quấn trong cái chăn của nhà ai đó, nhìn cái vòng người quanh mình — nhìn từng mặt một, từ trái sang phải, kiểu nó vẫn nhìn.

Bà Bảy quỳ xuống trước mặt nó.

Bà không ôm nó ngay.

Bà đưa hai bàn tay lên, đặt vào hai bên má nó, xoay mặt nó về phía mặt bà.

Rồi bà mới nói, chậm, môi mở rõ từng chữ, để nó đọc được.

“Con làm bà sợ.”

*

Đậu nhìn miệng bà, và nó đọc được câu đó.

Nó gật đầu.

Rồi nó đưa tay xuống, sờ vào túi quần bên phải.

Nó sờ lần thứ nhất. Rồi nó sờ lại, kỹ hơn, luồn cả bàn tay vào trong, lộn cái túi ra ngoài.

Cái túi trống, dính bùn, và có một cọng rác nhỏ mắc ở đường chỉ.

*

Thằng bé ngồi im.

Rồi hai vai nó bắt đầu rung.

Nó khóc không thành tiếng — thứ khóc của đứa trẻ chưa từng nghe tiếng khóc của chính mình, nên nó không biết phải khóc to hay nhỏ.

Nó chỉ há miệng, và nước mắt chảy ra, và hai vai nó giật từng cái.

*

Cả con hẻm im.

Chú Tòng đứng dậy, quay mặt đi.

*

Bà Bảy kéo thằng bé vào lòng, và bà đặt bàn tay phải vào giữa lưng nó.

Rồi bà bắt đầu vỗ.

Vỗ ba cái, ngừng. Vỗ ba cái, ngừng.

Đó là cách bà ru nó ngủ từ hồi nó còn nằm nôi, hồi bà chưa biết nó không nghe được, hồi bà còn hát.

Bà đã bỏ hát từ lâu.

Bà không bỏ vỗ.

*

Bảy giờ tối, mưa ngớt.

Nước rút khỏi mặt hẻm, để lại một vệt bùn mỏng chạy dọc theo rìa tường hai bên.

Người ta đậy lại hai cái nắp trong hẻm.

Còn cái miệng cống mất nắp cuối hẻm thì không ai đậy tấm ván ép lên nữa.

Chú Tòng chở về hai tấm vỉ sắt cũ xin được ở vựa phế liệu quen, anh Ròm hàn chúng lại thành một tấm, và hai người đặt lên cái miệng cống ấy, đóng bốn cái nêm vào bốn góc.

Rồi anh Ròm hàn thêm hai thanh ngang ở giữa.

“Chi nữa vậy anh? Đậy được rồi mà.”

“Khe nó còn rộng.”

“Rộng thì rộng, người đâu có lọt.”

“Người thì không lọt.”

Anh Ròm cúi xuống, gõ ngón tay vào cái khe.

“Mà cái gì rơi xuống là nó lọt chú à.”

Chú Tòng ngồi xuống giữ tấm vỉ cho anh hàn nốt.

*

Ba hôm sau, thằng Tí nhà cuối dãy mang sang cho Đậu một cái hũ chao rửa sạch, trong hũ có nước, một cọng rong đuôi chó, và một con cá lia thia màu xanh.

Con cá đỏ tía của Đậu, cái hũ đặt dưới chân ghế ở quán chiều hôm đó, đã bị đá đổ trong lúc người ta chạy đi chạy lại.

Đậu nhận cái hũ mới bằng hai tay, rồi nó bưng đặt lên mặt tủ kính, cạnh cái ly thuỷ tinh úp ngược.

Nó không đặt dưới chân ghế nữa.

*

Cái máy trợ thính thì không tìm lại được.

Sáng hôm sau cái đêm ấy, lúc nước rút hết, anh Ròm đã xuống một lần nữa, mang theo đèn và một cái vợt lưới, đi hết đoạn cống từ đầu hẻm ra tới hố ga ngoài đường lớn.

Anh vớt lên được ba cái nắp chai, một chiếc dép, hai cái vỏ lon và một con búp bê nhựa cụt tay.

Anh về, đứng ở quán nước.

“Con tìm rồi bà.”

“Có không con?”

“Không có.”

“Con đi tới đâu?”

“Tới cái hố ga ngoài kia. Hết đoạn rồi bà.”

“Ngoài đó nữa thì sao?”

“Ngoài đó là ống tròn. Nó ra tuốt cái mương sau chợ.”

Bà Bảy gật đầu.

“Ừ.”

“Bà.”

“Gì con.”

“Con xin lỗi bà.”

“Con xin lỗi cái gì.”

Anh Ròm không trả lời được.

Bà rót cho anh một ly trà đá, và bà không lấy tiền.

*

Chiều hôm đó, bà Bảy lấy cái hộp nhựa nắp xanh trên mặt tủ kính xuống.

Bà mở ra. Bên trong vẫn là mẩu bông gòn, đã ngả vàng ở một góc.

Bà đóng nắp lại, cất cái hộp vào ngăn dưới cùng, chỗ để mấy thứ không bán.

Rồi bà kéo cái ly thuỷ tinh ra và bà bắt đầu đếm tiền lẻ.

Bà đếm chỗ tiền dưới ly, chỗ tiền trong túi áo, chỗ tiền trong cái bọc ni lông cất dưới đáy thùng đá.

Bà đếm ba lượt, lượt nào cũng ra một con số như nhau.

Bà ngồi nhìn con số đó.

*

Đậu ngồi ở cái ghế nhựa thấp nhất, quay mặt ra hẻm, như mọi chiều.

Trước mặt nó, con hẻm chạy dài ra tới gốc cây bàng, và ở đó có một tấm vỉ sắt mới hàn còn sáng nước thép ở bốn mối.

Nó nhìn tấm vỉ sắt ấy.

Rồi nó quay lại nhìn bà nó đang cúi trên chồng tiền lẻ.

Nó đứng dậy, đi vòng qua tủ kính, tới đứng cạnh bà.

Nó đặt tay lên mu bàn tay bà, ấn nhẹ xuống cho bà ngừng đếm.

Bà Bảy ngẩng lên.

*

Thằng bé đưa một ngón tay lên, chỉ vào tai phải của mình — cái tai không còn gì đeo.

Rồi nó lắc đầu.

Rồi nó chỉ vào chồng tiền lẻ trên mặt tủ kính.

Rồi nó lại lắc đầu.

Rồi nó úp hai bàn tay vào nhau, đặt nghiêng bên má, nhắm mắt lại — cái điệu bộ mà bà vẫn làm cho nó xem mỗi tối để bảo nó đi ngủ.

Nghĩa là: thôi bà. Không mua. Cất đi. Đi ngủ.

*

Bà Bảy nhìn hai bàn tay úp vào nhau bên má thằng nhỏ.

Rồi bà gom chồng tiền lẻ lại, vuốt phẳng từng tờ, và bà cất vào cái bọc ni lông buộc dây thun.

Bà úp cái ly thuỷ tinh trở lại chỗ cũ.

Rồi bà kéo thằng bé ngồi xuống cái ghế nhựa cạnh bà.

*

Ngoài kia trời lại có mây.

Bà Bảy nhìn ra hướng đường lớn, nhìn màu trời, rồi bà quay sang thằng bé và bà giơ tay chỉ lên trời, rồi bà xoè năm ngón tay, rung rung, hạ dần xuống.

Mưa.

Đậu gật đầu.

Nó hiểu.

*

Từ hôm đó, mỗi chiều trước khi trời chuyển màu, bà Bảy đều làm cái động tác ấy — chỉ lên trời, xoè năm ngón tay, rung rung, hạ xuống — dù thằng bé đang ngồi ngay trước mặt bà.

Bà làm nó vì bà không còn cách nào khác để bảo nó rằng trời sắp mưa.

Và bà làm nó sớm hơn cần thiết mỗi ngày, sớm hơn cả lúc mây kéo tới, bởi vì có một buổi chiều bà đã không kịp làm.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Bài tiếp theo
Tấm ván mục gãy lúc chín giờ hai mươi, bé trai năm tuổi tụt xuống ống bê tông sâu bảy mét và cả xóm lúc đó chỉ còn người già
Truyện

Tấm ván mục gãy lúc chín giờ hai mươi, bé trai năm tuổi tụt xuống ống bê tông sâu bảy mét và cả xóm lúc đó chỉ còn người già

 · 34 phút đọc · Halab

Tấm ván mục gãy làm đôi lúc chín giờ hai mươi sáng, và thằng bé năm tuổi tụt xuống cái ống bê tông sâu bảy mét mà cả xóm đã quên là nó còn ở đó.

Trong xóm lúc ấy, người khoẻ nhất là một ông thợ khoan giếng sáu mươi ba tuổi đang ngồi vá ruột xe ở đầu ngõ, và trời thì đã bắt đầu chuyển màu chì ở phía sau rặng tre.

*

Chuyện bắt đầu từ con gà con.

Sáng hôm ấy, bà Rớt thả ổ gà mới nở ra sân, mười một con, lông vàng như bột nghệ.

Bà đếm bằng cách chỉ tay từng con một, và bà đếm ba lần mới xong, vì mắt bà mờ.

Thằng Bo ngồi bệt ở bậc thềm, tay cầm cái nắp lon sữa bò cào cào xuống nền xi măng.

Nó năm tuổi, tóc cắt cụt, mặc áo may ô trắng đã ngả màu và cái quần đùi kẻ ca rô rộng thùng thình buộc dây thun.

Chân nó không đi dép, vì đôi dép nhựa xanh nằm úp ở góc sân, một chiếc đứt quai khâu lại bằng chỉ dù.

*

Bố mẹ nó đi từ năm giờ sáng.

Hai người làm thuê cho một xưởng gạch cách đây mười hai cây, đi chung một chiếc xe máy cũ, mẹ ngồi sau ôm cặp lồng cơm, chiều sáu bảy giờ mới về.

Sáng nào mẹ nó cũng ra sân nói với bà một câu.

“Mẹ trông cháu giùm con.”

“Ừ. Đi đi.”

“Nó hay chạy ra sau lắm mẹ.”

“Biết rồi.”

Rồi tiếng xe máy nổ, rồi tiếng xe máy xa dần, rồi con đường đất trước ngõ lại yên.

*

Bà Rớt gần tám mươi.

Bà nhìn gần thì được, nhìn xa thì mọi thứ nhoè ra thành từng mảng màu, và người ta đi ngang ngõ thì bà nhận ra bằng tiếng dép.

Cái kính lão của bà gãy một gọng từ Tết, buộc tạm bằng sợi cước, và bà chỉ đeo khi khâu vá.

Bà trông thằng Bo bằng tai.

Nghe tiếng nắp lon cào xi măng thì biết nó ngồi ở thềm.

Nghe tiếng chân đạp bồm bộp thì biết nó chạy vòng quanh cái lu nước.

Nghe im lặng thì bà đứng dậy.

*

Xóm này có mười chín nóc nhà, nằm dọc một con đường đất rẽ vào từ đường lớn.

Ban ngày đàn ông đàn bà đi hết: xưởng gạch, phụ hồ ngoài thị trấn, bẻ măng, làm keo trên đồi.

Từ bảy giờ sáng tới năm giờ chiều, xóm chỉ còn người già, mấy đứa nhỏ chưa tới tuổi đi học, và một ông thợ khoan giếng đã bỏ nghề vì đau lưng.

*

Cạnh nhà bà Rớt, cách một bờ rào dâm bụt thưa, là mảnh vườn nhà ông Bảy Cẩn.

Ông dọn đi bốn năm rồi, theo con vào trong Nam, để lại cái nhà ba gian mái ngói xô lệch, cửa đóng bằng một sợi xích han rỉ.

Mảnh vườn sau nhà rộng chừng hai sào, cỏ tranh cao ngang bụng người lớn.

Trong đám cỏ tranh ấy có một cái miệng giếng.

*

Cái giếng ấy khoan năm nào thì trong xóm chỉ còn hai người nhớ: bà Rớt, và ông Tứ, người khoan nó.

Hồi đó ông Bảy Cẩn thuê ông Tứ khoan tìm mạch nước, khoan hơn ba chục mét mà chỉ ra nước phèn đỏ quạch, rồi ông bỏ.

Nhưng phần trên cùng của lỗ khoan thì đã lồng sẵn một đoạn ống bê tông đúc, loại ống cống đường kính ba mươi phân, nối bốn khúc.

Bốn khúc ống ấy dài tổng cộng bảy mét.

*

Miệng ống nhô lên khỏi mặt đất chừng một gang, và ông Bảy Cẩn trước khi đi có kê ngang nó một tấm ván ép cũ, dằn lên hai hòn gạch.

Bốn năm mưa nắng, tấm ván ép tách lớp, cong bốn góc, mềm ra như bìa các tông ngâm nước, còn hai hòn gạch thì bị cỏ tranh đội lên, xê ra mép.

Rồi cỏ mọc trùm qua, lá khô phủ lên, và cái chỗ ấy nhìn từ xa chỉ là một mô cỏ hơi cao hơn xung quanh.

*

Chín giờ sáng hôm ấy, mười một con gà con đi tản ra sân.

Con gà mẹ dẫn chúng ra mép sân, chỗ có bụi chuối, và thằng Bo bỏ cái nắp lon đi theo.

Nó thích nhất con nhỏ nhất, lông vàng có một vệt nâu trên lưng như cái yên ngựa.

Nó gọi con đó là con Sún, vì hôm nở ra con đó chậm nhất, mỏ mềm, đi lảo đảo.

Bà Rớt ngồi ở hiên xé lá chuối khô nhóm bếp, tai vẫn theo tiếng chân thằng nhỏ.

Bà nghe tiếng nó chạy bồm bộp về phía bụi chuối.

Rồi bà nghe tiếng nó cười.

Rồi bà không nghe gì nữa.

*

Bà Rớt đứng dậy.

Bà chống tay vào cột hiên, đứng thẳng lưng, rồi gọi.

“Bo.”

Sân yên.

“Bo à.”

Bà đi ra sân, tay quờ theo mép tường, mắt quét một vòng những mảng màu nhoè.

Bà không thấy cái áo may ô trắng ở đâu.

*

Điều bà Rớt chưa biết, lúc ấy, là hàng rào dâm bụt phía sau bụi chuối có một chỗ hở.

Chỗ hở ấy do đàn bò nhà bên kia đi ngang húc ra, rộng bằng vai một đứa nhỏ, và cỏ hai bên đã bị giẫm rạp thành một cái lối.

Con Sún chui qua chỗ ấy trước.

Thằng Bo chui theo sau.

*

Trong vườn ông Bảy Cẩn, cỏ tranh cao ngang ngực thằng bé.

Lá cỏ tranh có răng cưa ở rìa, cào vào hai cánh tay trần nó thành những vệt đỏ mảnh, và nó không để ý.

Nó chỉ nhìn cái đốm vàng đang chạy lúp xúp phía trước, chui qua chui lại giữa các gốc cỏ.

Nó gọi.

“Sún. Sún ơi.”

Con gà con dừng lại ở một mô đất cao hơn xung quanh, chỗ có mấy tàu lá chuối khô nằm phủ.

Nó đứng trên đó, kêu chíp chíp.

Thằng Bo bước tới, giơ hai tay ra, và nó bước lên cái mô đất ấy.

*

Cái tấm ván ép ấy đã mềm từ mùa mưa năm ngoái.

Nó không kêu răng rắc.

Nó chỉ oằn xuống một cái, rồi tách ra làm hai mảnh, êm như xé một tờ giấy ướt.

Con gà con nhảy vọt sang bên.

Thằng Bo tụt thẳng xuống.

*

Ống bê tông đường kính ba mươi phân.

Vai thằng bé năm tuổi rộng hơn hai mươi lăm phân một chút.

Nó rơi theo tư thế đứng, hai tay giơ lên trước lúc rơi rồi bị thành ống ép ngược xuống, ép sát vào hai bên sườn.

Nó trượt trong lòng ống chừng bốn mét thì mắc lại ở mối nối giữa khúc hai với khúc ba, chỗ hai đầu ống lệch nhau chừng đốt ngón tay thành một cái gờ.

Cái gờ ấy chặn ngang dưới nách nó, và nó dừng ở đó, hai chân thõng trong khoảng không, đầu ngửa lên.

Trên đầu nó, cách bốn mét, là một cái lỗ tròn nhỏ bằng cái miệng bát, sáng trắng.

*

Trong ống tối.

Không tối hẳn, vì cái lỗ tròn phía trên vẫn hắt xuống một quầng sáng nhợt.

Thành ống lạnh và nhám, đầy rêu khô, chỗ rêu còn ẩm thì trơn như xà phòng.

Thằng Bo cố nhấc tay lên, và tay nó lên được chừng một đốt ngón tay rồi vướng.

Nó cố lần thứ hai, mạnh hơn, và lần này vai nó bị thành ống miết vào, đau.

Rồi nó khóc.

*

Tiếng khóc trong lòng một cái ống bê tông không đi lên như tiếng khóc ngoài trời.

Nó dội vào thành ống, quẩn lại, rồi mới thoát ra khỏi cái miệng bằng cái bát ở trên kia, và ra tới mặt đất thì chỉ còn là một tiếng mỏng, nghe như tiếng mèo con kêu dưới gầm nhà.

Và ở giữa mảnh vườn hai sào cỏ tranh, cách nhà gần nhất bốn chục mét, không có ai đứng đó để nghe.

*

Bà Rớt tìm quanh sân bốn phút, tìm trong buồng, dưới gầm giường, sau cái lu nước, trong bếp.

Rồi bà ra ngõ, gọi hai tiếng, giọng chưa gấp.

Bà Tám nhà đối diện, tám mươi hai, chống gậy đi ra.

Hai bà già đứng giữa ngõ và gọi, mỗi người quay về một hướng, giữa hai lần gọi thì đứng im để nghe.

Cái nghe được, ở khoảng cách bốn chục mét, xuyên qua một bờ rào dâm bụt và hai sào cỏ tranh, là không có gì.

*

Chín giờ ba mươi lăm.

Con Nhiên, mười một tuổi, cháu bà Tám, đang ngồi trong nhà học bài hè thì bị bà nó gọi ra.

“Mày chạy quanh xóm coi thằng Bo có ở nhà đứa nào không.”

Nó chạy hết mười chín nóc nhà mất mười hai phút.

Nhà nào cũng cửa mở, nhà nào cũng chỉ có người già hoặc trẻ con, và nhà nào cũng lắc đầu.

Nó quay về, thở.

“Không có bà ơi.”

*

Ở dưới ống, thằng Bo khóc được chừng mười lăm phút thì mệt.

Nó nín, rồi thút thít, rồi im.

Nó gọi bà.

Nó gọi cái tiếng “bà ơi” bằng giọng bình thường ba lần, rồi bằng giọng to nhất nó có sáu lần, rồi lại bằng giọng bình thường.

Đứa nhỏ năm tuổi chưa biết để dành hơi.

*

Cái nó thấy khó chịu nhất, lúc ấy, không phải hai tay bị kẹp. Là cái lạnh.

Thành ống bê tông ẩm áp vào hai bên sườn nó qua lớp áo may ô mỏng, và cái lạnh ấy không đi qua, nó ngấm vào, đều, không dứt.

Thằng bé bắt đầu run.

Nó run thì người nó co lại, và người co lại thì nó tụt xuống thêm một chút.

Cái gờ ống bây giờ không chặn dưới nách nó nữa.

Nó chặn ngang giữa ngực.

*

Chín giờ năm mươi, con Nhiên chạy ra đầu ngõ, tới chỗ ông Tứ.

Ông Tứ ngồi trên cái ghế đẩu gỗ trước hiên, một cái ruột xe đạp vắt qua đùi, tay cầm miếng nhựa vá.

Ông sáu mươi ba, người khô, hai bàn tay to bè, bỏ nghề khoan giếng ba năm nay vì cái lưng.

Cái giàn khoan của ông thì vẫn còn, tháo rời, xếp trong cái chái sau nhà, phủ bạt.

“Ông Tứ ơi.”

“Gì con.”

“Thằng Bo con chú Thảo mất rồi ông ơi.”

Ông Tứ đặt cái ruột xe xuống.

“Mất là mất sao.”

“Bà Rớt tìm không thấy. Con chạy hết xóm rồi.”

*

Ông Tứ đứng dậy chậm, một tay chống vào đùi, vì lưng ông không cho ông đứng nhanh.

Rồi ông hỏi con bé cái câu mà một người đi khoan giếng bốn mươi năm sẽ hỏi.

“Nhà nó gần chỗ nào có nước không.”

“Có cái ao nhà bà Chín. Xa lắm ông ơi.”

Ông Tứ gật đầu.

Rồi ông nhìn qua phía nhà bà Rớt, và nhìn cái mái ngói xô lệch của nhà ông Bảy Cẩn nhô lên sau đó.

Ông đứng im chừng ba giây, rồi ông đi vào chái lấy cái đèn pin.

*

Ông Tứ tới nhà bà Rớt lúc chín giờ năm mươi lăm.

Bà Rớt đang ngồi bệt ở bậc thềm, hai tay đặt lên hai đầu gối.

“Thằng nhỏ chơi ở đâu lúc bà thấy nó lần cuối.”

Bà đưa tay chỉ về phía bụi chuối.

“Chỗ đó. Nó đuổi mấy con gà con.”

Ông Tứ ra bụi chuối, vạch lá, cúi xuống, và ông thấy chỗ hở trên hàng rào dâm bụt.

Ông thấy cỏ hai bên chỗ hở bị giẫm rạp thành một cái lối, và trong cái lối ấy có một dấu chân trần nhỏ in trên vũng đất mềm.

*

Ông Tứ không chui qua chỗ hở.

Ông đi vòng ra cổng vườn nhà ông Bảy Cẩn, đạp đổ hai thanh tre chắn ngang, rồi bước vào giữa đám cỏ tranh.

Ông đi thẳng, không tìm quanh, về đúng một chỗ, và được chừng hai chục bước thì dừng lại.

Trước mặt ông, đám cỏ tranh có một khoảng rạp xuống.

Giữa khoảng rạp ấy, hai mảnh ván ép mục nằm gãy gập vào trong.

Và giữa hai mảnh ván là một cái lỗ tròn màu đen.

*

Ông Tứ quỳ xuống bên miệng ống.

Ông không thò đầu vào ngay.

Ông gạt mấy tàu lá chuối khô và mảnh ván ra xa, cẩn thận, không để một mẩu nào rơi xuống.

Rồi ông cúi mặt sát miệng ống và gọi.

“Bo.”

Trong ống có tiếng, nhỏ, đứt quãng, tiếng của một đứa nhỏ đang khóc.

Ông Tứ ngồi thẳng người dậy, đúng hai giây, mặt không đổi.

Rồi ông quay về phía hàng rào và hét, và đó là tiếng to nhất mà con Nhiên từng nghe từ ông.

“Con Nhiên! Chạy về gọi hết người trong xóm ra đây!”

*

Ông soi đèn pin xuống.

Cái vệt sáng đi xuống trong lòng ống, quét qua lớp rêu khô, qua vệt rêu ẩm, qua một mối nối, rồi tới mối nối thứ hai.

Ở đó, ông thấy một mảng trắng.

Cái áo may ô.

Rồi ông thấy một khuôn mặt nhỏ ngửa lên, mắt nheo lại vì chói.

Ông tắt đèn ngay.

*

“Bo.”

“Ông ơi.”

“Ông đây. Ông Tứ đây.”

“Ông ơi con…”

“Nín. Nín đi con. Ông ở trên này rồi.”

Tiếng khóc dưới đó to lên.

Ông Tứ để nó khóc chừng mười giây, rồi ông hạ giọng xuống thấp và đều, thứ giọng người ta dùng khi ngồi kể chuyện ngoài hiên buổi tối.

“Con nghe ông nói không.”

“Dạ.”

“Hai tay con để đâu.”

“Con… con không nhấc tay lên được ông ơi.”

*

Ông Tứ ngồi lùi ra khỏi miệng ống chừng nửa mét.

Ông ngồi xổm, hai bàn tay to úp lên hai đầu gối, nhìn cái lỗ tròn ấy.

Ông biết cái ống này. Ông đúc nó, ông hạ nó, và ông nhớ mối nối giữa khúc hai với khúc ba lệch một chút vì hôm ấy trời tối, ông hạ vội.

Ông đo bằng đèn pin: thằng bé mắc ở chỗ nối thứ hai.

Từ mặt đất xuống chỗ đó là ba mét rưỡi.

Từ chỗ đó xuống đáy ống là ba mét rưỡi nữa.

*

Người đầu tiên tới là bà Rớt.

Bà đi men theo tiếng ông Tứ, vạch cỏ tranh, và bà tới nơi thì bà quỳ xuống bên miệng ống.

Ông Tứ đưa tay ra, chặn bà lại.

“Bà đừng lại gần.”

“Chú cho tôi ngó cháu tôi một cái.”

“Bà đừng lại gần. Đất quanh miệng nó xốp.”

Bà Rớt dừng lại.

Bà ngồi thụp xuống chỗ bà đang đứng, cách miệng ống ba bước, và bà không nói gì nữa.

*

Trong mười phút sau đó, mười bốn người tới.

Chín người trên bảy mươi.

Ba người là trẻ con dưới mười ba tuổi.

Người thứ mười bốn là chú Đàm, ba mươi tám tuổi, thợ sửa xe máy, hôm nay ở nhà vì vợ mới sinh.

Ông Tứ nhìn một lượt cái đám người đứng quanh mình, rồi ông chia việc.

*

“Chú Đàm.”

“Dạ bác.”

“Chú có xe máy chạy được không.”

“Dạ có.”

“Chạy ra xưởng gạch ngoài mười hai cây. Kêu bố mẹ nó về. Rồi chạy tiếp ra chỗ nào có thợ, có người khoẻ, gọi được ai gọi nấy.”

“Dạ.”

“Đi liền. Đừng nói chuyện với ai dọc đường.”

*

Rồi ông quay sang mấy đứa nhỏ.

“Con Nhiên.”

“Dạ ông.”

“Về nhà ông, cái chái sau, có tấm bạt xanh. Dưới bạt có mấy khúc ống nhựa trắng, loại nhỏ. Với một cái bơm hơi xe đạp bằng sắt. Kêu mấy đứa khiêng ra đây hết.”

“Dạ.”

“Với cái cuộn dây thừng treo trên vách.”

*

Ông Tứ quay lại miệng ống.

Ông nằm sấp xuống, ngực áp đất, đầu ghé sát mép, và ông nói xuống.

“Bo.”

“Dạ.”

“Con thấy lạnh không.”

“Lạnh ông ơi.”

“Ừ. Lạnh là còn tốt. Con nghe lời ông cái này.”

“Dạ.”

“Đừng cựa. Đừng nhúc nhích. Con càng cựa con càng tụt.”

Dưới đó im một lúc.

Rồi tiếng thằng bé vọng lên, và nó hỏi đúng cái câu mà ông Tứ sợ nhất.

“Ông ơi, chừng nào con lên.”

*

Ông Tứ không trả lời ngay.

Ông ngồi dậy, phủi đất ở ngực áo.

Rồi ông ghé xuống nói.

“Sắp. Ông đang làm.”

*

Cái ông Tứ đang tính, lúc ấy, không ai quanh đó biết.

Ông tính ba việc, và ông xếp chúng theo thứ tự.

Việc thứ nhất là khí.

Một cái ống bê tông sâu bảy mét, bịt kín bốn năm, đáy là đất ẩm, trong đó không có gió.

Hồi trẻ ông từng thả một cây nến xuống một cái giếng như vậy, và cây nến tắt ở độ sâu bốn mét.

Người ta bảo giếng có hơi độc, còn ông thì không biết cái hơi ấy tên là gì.

Ông chỉ biết một điều: cái gì làm tắt nến thì cũng làm tắt người.

*

Việc thứ hai là mưa.

Ông ngửa cổ nhìn trời.

Lớp mây xám bây giờ đã hạ xuống thấp hơn, và ở phía sau rặng tre, một mảng tối hơn đang trôi tới.

Đám cỏ tranh quanh ông đứng im phăng phắc.

Mưa xuống, nước mặt vườn sẽ chảy về chỗ trũng, mà chỗ trũng của cái vườn này thì chính là chỗ ông đang quỳ.

Miệng ống nhô lên khỏi mặt đất một gang, và một gang thì không giữ được nước lâu.

*

Việc thứ ba là cái ống.

Không thể kéo thằng bé lên bằng dây.

Hai tay nó bị ép sát người, không luồn dây vào nách được, mà vòng dây qua ngực rồi kéo trong lòng ống chật thì cái vai nó sẽ bị chèn.

Không thể đập vỡ ống từ trên xuống, vì mảnh bê tông rơi xuống đầu nó.

Không thể thả người xuống, vì ba mươi phân thì không lọt vai người lớn, cũng không lọt vai một đứa mười một tuổi.

Chỉ còn một cách: đào một cái hố khác song song bên cạnh, xuống ngang chỗ nó mắc, rồi khoét ngang qua và đục thủng thành ống.

Ông Tứ nhìn xuống đất dưới hai đầu gối mình. Đất pha sỏi.

Bốn người khoẻ đào cái hố ấy thì mất một ngày, mà ở đây không có bốn người khoẻ.

Ở đây có ông và một xóm toàn người già.

*

Mười giờ hai mươi, mấy đứa nhỏ khiêng đồ tới: bốn khúc ống nhựa trắng loại hai mươi mốt li, một cái bơm hơi xe đạp bằng sắt, một cuộn dây thừng.

Ông Tứ ướm hai khúc ống vào nhau, rồi bảo con Nhiên chạy về lấy can keo dán.

Trong lúc chờ, ông cắt một khúc ống dài chừng nửa mét, thả xuống lòng ống bê tông.

Nó rơi trúng vai thằng bé, và ông nghe tiếng nó kêu.

“Ông ơi cái gì rơi trúng con.”

“Ống thôi con. Không sao. Con thử sờ nó coi.”

“Con không sờ được ông ơi.”

Ông Tứ gật đầu một mình.

Ông đã biết cái ông cần biết: tay nó bị kẹp thật, không phải nó sợ mà không dám cử động.

*

Ống nhựa nối xong lúc mười giờ ba mươi lăm.

Ông Tứ dán ba khúc thành một cây dài mười hai mét, buộc vào đầu dưới một hòn đá bằng nắm tay cho nó chìm và giữ hướng.

Rồi ông thả nó xuống lòng ống bê tông, thả chậm, men theo thành, phía đối diện chỗ thằng bé mắc.

Ông thả xuống bảy mét, chạm đáy, rồi rút lên chừng một mét.

Đầu trên của cây ống nhựa, ông lắp vào cái bơm hơi xe đạp.

*

“Bo.”

“Dạ ông.”

“Con nghe cái tiếng xì xì gì không.”

Im một lúc.

“Có ông ơi. Ở dưới chân con.”

“Ừ. Đó là ông đang bơm hơi xuống cho con.”

“Hơi gì hả ông.”

“Hơi để thở.”

*

Bà Tám ngồi thay ông bơm, tám mươi hai tuổi, hai tay run, mỗi nhát bơm đi được nửa hành trình.

Ông Tứ nhìn, rồi ông gọi hai đứa nhỏ tới.

“Hai đứa bây thay nhau. Đứa này mỏi thì đứa kia vô liền. Không được ngừng.”

“Bơm tới chừng nào hả ông.”

“Tới chừng nào thằng Bo lên.”

*

Mười một giờ, mưa bắt đầu, thứ mưa bụi mỏng phủ một lớp ướt lên lá cỏ tranh và lên vai áo mọi người.

Ông Tứ đứng dậy nhìn quanh vườn, rồi ông chỉ tay.

“Bà con nghe tôi. Ai còn cầm được cuốc thì lấy cuốc. Không đào hố. Đào rãnh.”

“Rãnh gì hả chú.”

“Rãnh vòng quanh chỗ này. Cách miệng ống ba bước. Đào hở một bên cho nước nó chạy ra phía dốc.”

*

Sáu người già cầm cuốc.

Họ đào một cái rãnh hình vòng cung quanh miệng ống, sâu chừng một gang tay, hở về phía tây, nơi mặt vườn thoải xuống.

Việc ấy mất bốn mươi phút, và nó là việc mà sáu người già làm được.

Ông Tứ, trong bốn mươi phút đó, làm việc khác.

*

Ông cắt cái áo mưa nhựa của mình thành một tấm vuông, khoét giữa một lỗ tròn vừa cây ống nhựa.

Rồi ông trùm nó lên miệng ống bê tông, luồn cây ống qua lỗ, chèn mép bằng đất và đá.

Cái miệng ống bây giờ được đậy lại, kín nước, nhưng vẫn có một cây ống thông xuống dưới.

Ông làm xong thì ngồi thụp xuống, một tay chống đất.

Lưng ông, từ ngang thắt lưng trở xuống, đã bắt đầu cứng lại.

*

Mười một giờ hai mươi, chú Đàm về.

Anh chạy xe vào tận bờ rào, dựng xe, nhảy xuống.

Sau xe anh chở một người đàn ông trạc bốn mươi, mặc áo bảo hộ bạc màu, chân đi ủng.

“Bác Tứ. Con gọi được anh Hoạch, thợ đào giếng bên xóm dưới.”

“Bố mẹ nó.”

“Con báo rồi. Xưởng cho về. Hai người đang chạy về, chừng nửa tiếng nữa.”

“Còn ai nữa không.”

Chú Đàm im một nhịp.

“Con chạy được ba chỗ. Người ta đi làm hết rồi bác.”

*

Anh Hoạch bước tới miệng ống, quỳ xuống, ghé tai.

Rồi anh đứng lên, mặt anh không đổi.

“Bác tính sao.”

“Đào hố song song. Bên phía này, cách miệng ống một mét hai.”

“Sâu bao nhiêu.”

“Ba mét tám là tới chỗ nó.”

Anh Hoạch nhìn xuống đất, lấy mũi ủng day day.

“Đất này pha sỏi bác.”

“Ừ.”

“Hai người mình đào ba mét tám trong đất này thì tới tối.”

Ông Tứ không nói gì.

Ông đi về phía chái nhà ông Bảy Cẩn, chỗ để cuốc xẻng.

*

Ở dưới, thằng Bo đã thôi khóc từ lâu.

Nó nói ít hơn, và mỗi lần ông Tứ gọi thì nó đáp chậm hơn một nhịp.

Cái lạnh bây giờ đã đi hết vào trong người nó, và nó không còn run nữa.

Ngừng run không phải là hết lạnh.

Ông Tứ biết vậy, và ông không nói ra.

*

“Bo.”

“Dạ.”

“Con đếm cho ông nghe cái coi.”

“Đếm gì hả ông.”

“Đếm từ một tới hai chục. Đếm to.”

“Một… hai… ba…”

Nó đếm tới mười lăm thì dừng.

“Rồi sao nữa con.”

“Con quên rồi ông.”

“Mười sáu.”

“Mười sáu… mười bảy… mười tám…”

*

Bà Rớt vẫn ngồi ở chỗ cũ, cách miệng ống ba bước, từ mười giờ tới giờ chưa đứng lên.

Mưa bụi làm ướt cái áo bà ba của bà, và ai đó khoác lên vai bà một tấm ni lông, bà cũng không biết.

Có một lúc, bà đưa hai tay lên tháo cái kính lão buộc cước, chùi vào vạt áo, rồi đeo lại.

Bà làm cái việc ấy như một thói quen, dù chẳng có gì để nhìn.

*

Mười một giờ bốn mươi, hai người đàn ông bắt đầu đào.

Họ đào một cái hố vuông, mỗi cạnh một mét, cách miệng ống bê tông một mét hai.

Ba chục phân đầu là đất mặt, mềm, đi nhanh. Sau đó là sỏi.

Mỗi nhát cuốc bổ xuống thì nảy lên, tiếng của nó là tiếng kim loại chạm đá.

Sau bốn mươi phút, cái hố sâu được sáu chục phân.

Ông Tứ ngồi xuống mép hố, thở, và ông làm một phép tính mà ông không nói ra với ai.

Sáu chục phân trong bốn mươi phút, thì ba mét tám hết bốn tiếng.

Bốn tiếng nữa là ba giờ rưỡi chiều.

*

Mưa nặng hạt lên lúc mười hai giờ mười.

Nó đổ xuống thành từng đợt, và tiếng nó trên đám cỏ tranh nghe như tiếng ai đó vò một bao giấy.

Cái rãnh vòng cung sáu người già đào lúc nãy đầy nước trong bốn phút, rồi nước chạy theo rãnh đổ về phía tây.

Nhưng cái hố mới đào thì không có rãnh.

Nó hứng nước, và sáu chục phân độ sâu của nó bắt đầu biến thành một cái vũng.

*

Anh Hoạch nhảy lên khỏi hố.

“Bác. Đào kiểu này không được.”

“Tôi biết.”

“Đào tới đâu nước nó về tới đó. Với lại đất ướt là nó sụt.”

Ông Tứ đứng nhìn cái hố đang đầy nước.

Rồi ông quay đầu nhìn về phía chái nhà mình, phía sau hàng rào dâm bụt, chỗ có tấm bạt phủ.

Ông nhìn về phía đó khá lâu.

*

Cái giàn khoan của ông Tứ là loại giàn nhỏ, khoan tay quay có gắn mô tơ.

Ông sắm nó năm bốn mươi tuổi, trả góp hai năm, rồi đi khoan giếng thuê bằng nó suốt hai mươi ba năm.

Nó gồm một khung sắt ba chân, một mô tơ điện, một bộ cần khoan thép ống nối từng đoạn và một mũi khoan chóp răng.

Ba năm nay nó nằm trong chái, tháo rời, bôi mỡ, phủ bạt.

Con trai ông ngoài thị trấn đã hỏi mua lại mấy lần, ông không bán.

Ông bảo để đó, biết đâu.

*

“Chú Đàm.”

“Dạ bác.”

“Chú với thằng Hoạch theo tôi. Qua nhà tôi.”

“Chi vậy bác.”

“Khiêng cái giàn khoan.”

Anh Hoạch ngẩng lên.

“Bác khoan hả bác. Khoan thì mũi nó ăn ngang qua chỗ thằng nhỏ.”

“Không khoan chỗ đó.”

Ông Tứ lấy ngón tay vạch xuống nền đất ướt hai cái vòng tròn cách nhau một quãng.

“Đây là ống bê tông. Đây là chỗ mình đào. Tôi không khoan cái hố cứu.”

Ông vạch thêm ba chấm quanh cái vòng thứ hai.

“Tôi khoan ba lỗ quanh cái hố. Khoan sâu hơn đáy hố. Nước trong đất nó chảy vô ba lỗ đó, mình múc ra.”

“Rồi cái hố khô hả bác.”

“Không khô. Nhưng nó bớt sụt.”

*

Dòng điện kéo từ nhà bà Rớt sang bằng ba cuộn dây nối vào nhau, đấu vào cái ổ trong bếp.

Mô tơ nổ lúc mười hai giờ năm mươi, và trong mảnh vườn đầy cỏ tranh với mưa, đó là tiếng máy đầu tiên kể từ sáng.

Ông Tứ đứng cầm cần khoan được mười phút thì anh Hoạch phải đỡ ông ra, vì cái rung truyền lên tay, lên vai, xuống lưng ông.

Ông Tứ ngồi xuống mép hố, chỉ.

“Nghiêng ra ngoài. Đừng khoan thẳng đứng. Nghiêng ra xa cái ống.”

*

Lỗ khoan thứ nhất xong lúc một giờ mười lăm, sâu bốn mét rưỡi, và nước trong đất rịn vào nó ngay khi rút cần lên.

Lỗ thứ hai xong lúc một giờ bốn mươi, lỗ thứ ba lúc một giờ năm mươi lăm.

Ba đứa nhỏ thay nhau múc nước từ ba cái lỗ ấy bằng cái gáo dừa buộc dây, mỗi lần được chừng nửa lít.

Việc ấy vô ích một nửa. Nhưng cái hố cứu, từ chỗ ngập tới mắt cá, chỉ còn ướt nhẹp ở đáy.

*

Hai giờ chiều, bố mẹ thằng Bo về tới.

Mẹ nó chạy vào giữa vườn, trượt ngã hai lần trong cỏ tranh ướt, tới miệng ống thì quỳ sụp xuống, hai tay úp lên mặt đất.

Chị gọi tên con, và dưới đó có tiếng đáp.

“Bo ơi con.”

“Mẹ.”

“Mẹ đây con. Mẹ về rồi.”

“Mẹ ơi con lạnh.”

Bố nó đứng phía sau, không nói câu nào.

Anh cởi cái áo khoác ướt, ném xuống đất, rồi anh nhảy xuống cái hố cứu và anh giằng lấy cây cuốc trong tay anh Hoạch.

*

Từ hai giờ chiều, cái hố đi nhanh hơn.

Ba người đàn ông thay nhau không nghỉ: người đào ở dưới, người kéo đất lên bằng xô buộc dây, người thứ ba nghỉ đúng mười phút rồi xuống.

Ông Tứ không xuống hố nữa. Ông ngồi bên miệng ống bê tông, và việc của ông từ lúc đó là nói chuyện với thằng bé.

*

“Bo.”

“Dạ ông.”

“Con biết ba con về chưa.”

“Con biết rồi.”

“Ba con đang đào ở bên cạnh con đó.”

“Đào chi hả ông.”

“Đào cái đường qua chỗ con. Rồi ba con chui qua bồng con lên.”

Dưới đó im một lúc lâu.

“Ông ơi.”

“Ừ.”

“Con Sún nó có bị rớt xuống không ông.”

*

Ông Tứ ngẩng đầu lên.

Trong đám cỏ tranh cách đó mấy bước, con gà con lông vàng có vệt nâu trên lưng vẫn đang chạy lúp xúp từ sáng, ướt nhẹp, không chịu về sân.

“Không con. Nó ở trên này. Nó đứng ngay đây nè.”

“Ông giữ nó giùm con nghe ông.”

“Ông giữ.”

*

Ba giờ chiều, cái hố sâu hai mét mốt.

Ba giờ bốn mươi, hai mét sáu.

Bốn giờ mười lăm, ba mét.

Ở độ sâu ba mét, thành hố bắt đầu sụt.

Không sụt cả mảng, chỉ trút xuống từng vốc đất pha sỏi, và mỗi vốc rơi trúng lưng người đang cúi đào ở dưới.

Anh Hoạch ngoi lên.

“Bác. Nó sụt.”

“Chống.”

“Chống bằng gì bác.”

*

Ông Tứ nhìn quanh mảnh vườn.

Rồi ông nhìn cái nhà ba gian bỏ hoang của ông Bảy Cẩn.

Cái nhà ấy có một hàng hiên, và hàng hiên có bốn cây cột gỗ.

“Chú Đàm.”

“Dạ.”

“Chú lấy búa với xà beng, qua đó hạ cho tôi bốn cây cột hiên.”

“Nhà người ta bác ơi.”

“Ông Bảy đi bốn năm rồi. Có gì tôi chịu.”

*

Bốn cây cột gỗ hạ xuống lúc bốn giờ ba mươi, cưa mỗi cây làm ba khúc, thả xuống hố, và bố thằng Bo dựng chúng thành khung chống bốn mặt, chèn ván cửa vào giữa.

Việc ấy ăn mất năm mươi phút, và trong năm mươi phút đó cái hố không sâu thêm được một phân nào.

Ông Tứ ngồi trên miệng ống nghe tiếng búa dưới hố, rồi ông ghé xuống gọi.

“Bo.”

Không có tiếng đáp.

Ông gọi lần thứ hai.

“Bo. Con nghe ông không.”

*

Chừng bốn giây trôi qua.

Rồi có tiếng, và nó rất nhỏ.

“Dạ.”

“Con ngủ hả.”

“Con mỏi mắt ông ơi.”

Ông Tứ quay sang chỗ hai đứa nhỏ đang thay nhau bơm.

“Bơm mạnh lên.”

Rồi ông ghé lại miệng ống.

“Bo. Không ngủ. Con đếm tiếp cho ông.”

“Con đếm rồi ông ơi.”

“Đếm nữa. Đếm ngược. Từ hai chục xuống một.”

“Hai chục… mười chín… mười tám…”

*

Năm giờ chiều, trời bắt đầu tối.

Mưa ngớt thành mưa nhỏ, nhưng nước trong đất thì đã no.

Người ta treo hai cái bóng đèn tròn lên hai cây cọc, kéo điện từ nhà bà Rớt sang.

Dưới ánh đèn ấy, mảnh vườn hiện ra: một cái hố vuông có khung gỗ chống, một cái ống bê tông đậy tấm nhựa, ba lỗ khoan sủi nước, và chừng hai chục người.

Đa số họ ngồi, và đa số họ không làm được gì.

Nhưng không ai về.

*

Năm giờ bốn mươi, cái hố chạm ba mét tám.

Bố thằng Bo ở dưới, gọi lên.

“Tới rồi bác ơi.”

“Đừng khoét ngang liền. Đo lại bằng dây, từ mặt đất xuống đáy hố.”

Người ta thả dây đo.

Ba mét bảy lăm.

Ông Tứ nhẩm, rồi ông lắc đầu.

“Sâu thêm ba chục phân nữa.”

“Chi vậy bác.”

“Khoét ngang ở dưới chỗ nó mắc. Khoét ngang đúng chỗ nó thì mình lôi nó ra bằng cách nào.”

*

Ba chục phân cuối cùng mất bốn mươi phút.

Sáu giờ hai mươi, người ta bắt đầu khoét ngang, một đường hầm dài một mét hai vừa đủ người trườn nghiêng, đào bằng xà beng ngắn với hai bàn tay vì trong đó không vung cuốc được.

Bố thằng Bo trườn vào trước, đào hai mươi phút thì lùi ra, mặt trắng, thở dốc.

“Trong đó ngộp lắm bác.”

Ông Tứ nối thêm khúc ống nhựa thứ tư, thả vào đường hầm ngang, đầu trên lắp vào cái bơm hơi thứ hai mà chú Đàm mượn từ tiệm sửa xe.

*

Bảy giờ tối.

Từ trong đường hầm ngang, có tiếng xà beng chạm vào bê tông.

Cái tiếng ấy đi ngược ra ngoài, lên miệng hố, và cả mảnh vườn im lại.

Anh Hoạch trườn ra, ngồi bệt xuống mép hố.

“Chạm ống rồi bác.”

“Chạm chỗ nào.”

“Chạm cái thành. Con sờ được cái mối nối.”

Ông Tứ đứng dậy.

Rồi ông làm cái việc mà cả ngày hôm đó ông chưa làm.

Ông tự trườn xuống hố.

*

Người ta phải đỡ ông xuống, vì lưng ông không cho ông cúi.

Ông nằm sấp ở cửa đường hầm ngang, đưa tay vào, sờ dọc mặt bê tông ẩm.

Ông tìm cái mối nối.

Ông tìm được, và ông áp tai vào thành ống.

Trong đó, có tiếng thở.

Nó ngắn, và nó nhanh, và nó là tiếng thở của một đứa nhỏ đang rất mệt.

*

Ông Tứ trườn ra, ngồi tựa vào vách hố.

“Đục cái mối nối. Đừng đục giữa thành.”

“Sao vậy bác.”

“Chỗ nối là chỗ yếu nhất. Đục chỗ khác thì phải đục lâu gấp ba, mà rung gấp ba.”

“Đục bằng gì.”

“Đục nhẹ. Búa nhỏ với cái đục sắt. Đục từng nhát một. Không được nện.”

*

Việc đục bắt đầu lúc bảy giờ hai mươi.

Mỗi nhát búa, thằng bé ở trong ống lại kêu một tiếng, vì cái rung truyền qua bê tông vào người nó.

Người đục là bố nó.

Anh đục được ba mươi nhát thì phải lùi ra, và anh lùi ra không phải vì mỏi tay.

Anh Hoạch vào thay.

*

Ở trên, mẹ thằng Bo nằm sấp bên miệng ống bê tông, mặt áp xuống tấm nhựa.

Chị nói xuống liên tục, và cứ chừng nửa phút chị lại hỏi một câu.

Dưới đó thằng bé đáp bằng một tiếng “dạ”.

Có lúc cái tiếng ấy không tới, và chị phải gọi thêm hai lần.

*

Tám giờ mười, mảng bê tông ở mối nối vỡ ra.

Nó không vỡ thành lỗ.

Nó bung ra một miếng bằng bàn tay, rồi anh Hoạch cạy tiếp, và cái lỗ ấy rộng dần thành một khoảng bằng cái nón.

Anh thò tay vào.

Anh sờ thấy hai bàn chân nhỏ đang thõng xuống, lạnh ngắt.

Anh trườn lùi ra, gọi vọng lên.

“Bác. Con sờ được chân nó rồi.”

*

Ông Tứ hỏi xuống, và ông hỏi rất chậm.

“Lỗ rộng bao nhiêu.”

“Cỡ cái nón.”

“Chưa đủ.”

“Bác.”

“Chưa đủ. Vai nó rộng hơn cái nón. Rộng thêm hai bên. Rộng đều.”

“Nó lạnh lắm rồi bác ơi.”

“Tôi biết. Rộng thêm. Kéo ép vai nó qua cái lỗ thì gãy xương đòn.”

*

Việc rộng lỗ mất thêm hai mươi lăm phút.

Tám giờ ba mươi lăm, anh Hoạch trườn vào lần cuối.

Anh nằm nghiêng, một tay chống, một tay luồn qua cái lỗ, và anh làm cái việc không ai dạy anh.

Anh không kéo chân. Anh luồn tay lên, lách bàn tay vào giữa thành ống với cánh tay thằng bé.

Rồi anh đẩy vai nó nghiêng đi một chút.

Chỉ một chút.

Cái vai ấy, nghiêng đi rồi, thì không còn bị cái gờ mối nối chặn nữa.

Thằng bé tụt xuống mười phân.

Và mười phân ấy đưa nó ngang tầm cái lỗ.

*

Anh Hoạch vòng tay ôm ngang người nó, kéo ra.

Nó ra khỏi ống bê tông lúc tám giờ bốn mươi hai, sau mười một giờ hai mươi hai phút.

Trong đường hầm ngang tối, anh Hoạch không nhìn thấy gì.

Anh chỉ biết cái người anh đang ôm rất nhẹ, và nó ướt, và nó lạnh như một hòn đá dưới suối.

Anh trườn lùi ra bằng hai khuỷu tay, một tay giữ đầu nó.

*

Ở trên miệng hố, người ta thả xuống một sợi dây có buộc cái thúng lót chăn.

Anh Hoạch đặt thằng bé vào thúng, buộc lại, rồi ông Tứ và chú Đàm kéo lên.

Cái thúng lên tới mặt đất lúc tám giờ bốn mươi lăm.

Không có tiếng reo.

Người ta xúm lại, và người ta im.

Bố nó bế nó ra khỏi thúng.

Hai cánh tay thằng bé, khi được thả tự do, không buông thõng xuống.

Chúng vẫn ép vào sườn nó, y như lúc còn trong ống.

*

Người ta quấn nó vào ba lớp chăn khô, và mẹ nó ôm nó, ngồi bệt giữa vườn cỏ tranh ướt.

Thằng bé mở mắt, nhìn cái đèn tròn treo trên cọc, nhìn mấy chục cái mặt đang cúi xuống.

Rồi nó nói một câu, giọng khàn đặc, nhỏ tới mức chỉ mấy người sát bên nghe được.

“Ông Tứ đâu.”

*

Ông Tứ đang ngồi trên mép hố, hai chân buông xuống, lưng gập lại.

Người ta gọi ông.

Ông đứng dậy không được.

Chú Đàm phải xốc nách đỡ ông đứng lên, rồi dìu ông đi bốn bước tới chỗ mẹ con thằng bé.

Ông Tứ ngồi thụp xuống bên cạnh, và cái ngồi thụp ấy giống ngã hơn giống ngồi.

“Ông đây con.”

Thằng bé không hỏi thăm gì.

Nó chỉ hỏi đúng một câu, câu mà nó đã hỏi từ chiều.

“Con Sún đâu ông.”

*

Bà Rớt là người đưa con gà con ra.

Suốt từ chiều, bà ngồi ở chỗ cũ, và trong lòng bà, dưới hai bàn tay khum lại, là con gà con lông vàng có vệt nâu trên lưng.

Bà bắt được nó lúc bốn giờ, khi nó chạy vào lòng bà tránh mưa, và bà giữ nó trong lòng gần năm tiếng, không nói với ai.

Bà lê đầu gối tới, mở hai bàn tay ra.

Con gà con ướt, run, mỏ hé.

Thằng bé nhìn nó.

Rồi nó nhắm mắt lại.

*

Người ta chở nó đi ngay trong đêm bằng chiếc xe bán tải chở gạch mà chú Đàm mượn được, lót rơm, trải chăn, mẹ nó ngồi ôm nó trong thùng.

Xe chạy khỏi ngõ lúc chín giờ tối.

Trong mảnh vườn còn lại hai cái bóng đèn tròn, một cái hố sâu bốn mét mốt có khung gỗ chống, ba lỗ khoan đang sủi nước, và một giàn khoan sắt đứng nghiêng dưới mưa.

*

Người ta lấp cái hố trong ba ngày sau đó.

Cái ống bê tông thì ông Tứ không cho lấp bằng đất, vì lấp đất thì mười năm nữa nó lún thành cái hố khác.

Ba ngày ấy, ông ngồi trên cái ghế đẩu giữa vườn mà chỉ, vì ông không cúi được nữa.

*

Cái giàn khoan không dựng lại được.

Cái khung ba chân, hôm khiêng qua bờ rào, cong một chân ở chỗ mối hàn, còn cái mô tơ chạy hơn một tiếng dưới mưa thì nước vào, cháy.

Bộ cần khoan còn tốt, nhưng thiếu khung với mô tơ thì nó chỉ là mấy đoạn ống thép.

Con trai ông Tứ ngoài thị trấn về, nhìn một lượt, rồi nói với bố.

“Cái mô tơ này quấn lại cũng hết bằng nửa cái mới bố ạ.”

“Ừ.”

“Mà quấn xong thì cái khung nó cũng cong rồi.”

“Ừ.”

Ông Tứ ngồi im một lúc.

Rồi ông đứng dậy, đi vào chái, lấy tấm bạt cũ, và ông tự tay phủ lên đống sắt ấy.

Ông phủ xong thì đứng nhìn nó một lát.

Ông không nói thêm câu nào về chuyện quấn lại hay không quấn lại.

*

Thằng Bo về nhà sau chín ngày.

Nó gầy đi, và hai cánh tay nó phải tập, vì suốt một thời gian sau đó nó cứ để chúng ép vào sườn theo thói quen.

Mẹ nó ngày nào cũng cầm hai cổ tay nó kéo dang ra rồi hạ xuống, hai chục lần buổi sáng, hai chục lần buổi chiều.

Nó không thích tập. Nó khóc.

Nhưng nó vẫn giơ tay ra khi mẹ nó gọi.

*

Bố mẹ nó nghỉ xưởng gạch một tháng.

Rồi họ đi làm lại, vì phải đi làm.

Nhưng từ đó, mỗi sáng, trước khi nổ máy xe, mẹ nó dắt nó sang nhà ông Tứ.

Ông Tứ ngồi trên cái ghế đẩu trước hiên, và thằng bé ngồi bệt dưới nền, cạnh chân ông.

Việc của nó là đưa đồ.

Ông kêu “cái kéo”, nó đưa cái kéo.

Ông kêu “miếng nhựa”, nó đưa miếng nhựa.

Có hôm nó đưa nhầm, ông không mắng, ông chỉ nói tên lại một lần nữa.

*

Cỏ tranh trong vườn nhà ông Bảy Cẩn thì người trong xóm phát hết, phát trong hai buổi chiều, người già cũng ra, mỗi người một con dao.

Phát xong thì nhìn thấy hết: cái nền nhà ba gian không còn cột hiên, và chỗ lấp ống đắp cao hơn xung quanh một gang.

Rồi ông Tứ bảo con Nhiên lấy sơn trắng, quét lên hai hòn đá, đặt hai bên chỗ ấy.

“Sơn chi vậy ông.”

“Để đứa nào tới sau nó biết dưới đó có cái gì.”

“Rồi nó không biết đọc thì sao ông.”

“Thì nó thấy hai hòn đá trắng. Thấy lạ thì nó hỏi.”

*

Một tối tháng sau, thằng Bo ngồi ở hiên nhà ông Tứ, chờ mẹ nó về.

Con Sún bây giờ đã lớn bằng nắm tay, lông ra màu nâu đất, không còn vàng nữa, và nó lon ton trong sân.

Thằng bé nhìn nó, rồi ngẩng lên hỏi ông Tứ một câu.

“Ông ơi.”

“Ừ.”

“Hôm đó ông nói con Sún nó đứng ngay đó.”

Ông Tứ đang cạo cái miếng vá, tay ông ngừng lại.

“Ừ.”

“Mà nó đâu có đứng đó. Nó ở trong tay bà nội con.”

Ông Tứ đặt miếng vá xuống.

Ông nhìn thằng bé một lúc, rồi ông nói ra cái đúng như nó đã xảy ra, không tránh đi chỗ nào.

“Ông nói dối con.”

*

Thằng bé không hiểu.

Nó ngồi im, hai tay đặt trên hai đầu gối.

“Sao ông nói dối con.”

“Tại lúc đó ông cần con nói chuyện với ông.”

“Con nói chuyện chi hả ông.”

“Nói gì cũng được. Con mà im thì ông không biết con còn thức hay không.”

Thằng bé gật đầu, dù nó chưa hiểu hết.

Rồi nó hỏi câu tiếp theo, cái câu mà từ hôm đó tới giờ chưa ai trong nhà nó dám hỏi ông.

“Ông ơi, cái máy của ông hư luôn hả ông.”

*

Ông Tứ nhìn ra sân.

Ngoài đó, dưới hiên chái, đống sắt phủ bạt vẫn nằm nguyên chỗ cũ, và mấy tháng nay không ai giở tấm bạt ấy ra.

“Hư rồi.”

“Rồi ông có buồn không ông.”

Ông Tứ cầm cái ruột xe lên, xoay nó tìm chỗ thủng.

Ông xoay chậm, và ông tìm hồi lâu, dù cái chỗ thủng ấy nằm ngay dưới ngón tay cái của ông.

Rồi ông trả lời.

“Cái máy đó ông đi khoan hai mươi ba năm. Khoan chừng bốn trăm cái giếng.”

“Nhiều quá.”

“Ừ. Nhiều.”

Ông đưa ngón tay cái miết lên chỗ thủng.

“Bốn trăm cái giếng đó, ông không nhớ cái nào.”

Ông ngẩng lên nhìn thằng bé đang ngồi bệt dưới nền, hai cánh tay đã biết dang ra khỏi sườn.

“Cái lỗ cuối cùng ông khoan, ông nhớ.”