BÀ TỔ TRƯỞNG H:ẤT TÚI VÉ SỐ CỦA CHỊ GÓA CHỒNG XUỐNG ĐẤT, ÉP Q:UỲ GIỮA NHÀ VĂN HÓA VÌ BỊ VU ĂN C:ẮP BA MƯƠI TR:IỆU T:IỀN QUỸ. “THỨ NGƯỜI NHƯ CÔ MÀ CŨNG Đ:ÒI SỐNG TỬ TẾ À?” CHỊ CHỈ LẶNG LẼ NHẶT TỪNG TỜ VÉ, C:ON TR:AI CHỊ KH:ÓC NỨC NỞ XIN MỌI NGƯỜI ĐỪNG LÀM NH:ỤC MẸ. (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Tôi đứng dậy. Cái ghế nhựa kêu một tiếng chói tai, cả phòng quay sang nhìn tôi.
“Cháu không nhìn gì cả,” tôi nói. “Cháu chỉ thấy tờ giấy rơi ra từ túi áo chị Hạnh, và nét chữ trên đó giống hệt chữ trên phong bì bác đang cầm.”
Bà Sương siết chặt chiếc phong bì, các đốt ngón tay trắng bệch.
“Cô mới dọn đến một tháng, biết gì mà xen vào chuyện khu phố!” Bà gắt. “Ngồi xuống!”
“Chị Hạnh,” tôi quay sang chị, giọng cố dịu lại, “chị cho em xem tờ giấy đó được không?”
Chị Hạnh vẫn quỳ giữa nền gạch, tay còn ôm một nắm vé số. Chị ngẩng lên, mắt đỏ hoe, ngơ ngác nhìn tôi, rồi nhìn xuống túi áo mình, như thể chính chị cũng quên mất trong đó có gì.
“Dạ… cái đó…” Chị lắp bắp. “Cái đó là giấy bác Sương đưa em hồi tháng trước, em không dám vứt…”
“Đừng đưa!” Bà Sương lao tới.
Nhưng Tí nhanh hơn. Thằng bé mười một tuổi, người gầy nhom, bất ngờ thò tay vào túi áo mẹ, rút tờ giấy ra, chạy vội về phía tôi. Nó đặt vào tay tôi, thở hổn hển, mắt vẫn còn đẫm nước.
“Cô xem đi ạ. Mẹ con không ăn c:ắp.”
Tôi mở tờ giấy ra giữa phòng. Chữ viết tay, mực xanh, nét nghiêng đều.
“Ngày 15 tháng trước. Tôi, Lê Thị Sương, có nhận của chị Hạnh số tiền ba mươi triệu đồng, là tiền chị gửi tôi giữ giùm để dành cho cháu Tí đóng học phí và mua thuốc. Khi nào cần chị sẽ lấy lại. Đã nhận.”
Phía dưới là chữ ký của bà Sương, và dấu vân tay màu đỏ nhòe ở bên cạnh.
Cả phòng im phăng phắc.
“Ba mươi triệu,” tôi đọc to, từng chữ một. “Đúng bằng số tiền quỹ bị mất.”
“Đó là… đó là giấy giả!” Bà Sương hét lên, giọng the thé. “Con đàn bà đó làm giả để vu cho tôi!”
“Giả?” Tôi giơ tờ giấy lên cao. “Vậy bác cho bà con xem chữ trên phong bì bác đang cầm. Cùng mực xanh, cùng nét nghiêng này.”
Bà Sương siết phong bì chặt hơn, lùi một bước.
Chú Tư, ông bảo vệ nhà văn hóa, sáu mươi tuổi, nãy giờ ngồi lặng ở hàng ghế đầu, bỗng đứng dậy. Chú gãi đầu, mặt đỏ bừng.
“Bà tổ trưởng, bà đưa cái phong bì đó cho bà con xem đi. Tôi cũng thấy lạ từ hôm trước rồi.”
“Chú nói gì?” Bà Sương quay phắt lại.
“Hôm mất tiền, người cầm chìa khóa két đâu phải chị Hạnh.” Chú Tư nuốt khan. “Chị Hạnh chỉ vào lấy chìa khóa nhà vệ sinh giùm tôi, năm phút là ra. Còn cái két, chìa khóa duy nhất ở trong túi bà tổ trưởng, bà quên rồi sao?”
Tiếng xì xào dậy lên khắp phòng. Mấy bà cô lúc nãy gật đầu hùa theo giờ cúi gằm mặt, có người quay sang nhìn nhau, có người bặm môi.
“Chú nói bậy!” Bà Sương quát. “Chú bị con này mua chuộc!”
“Mua chuộc?” Chú Tư chỉ vào chị Hạnh, giọng run lên. “Chị ấy nhờ tôi cho nợ bó rau muống còn không dám, mua chuộc nổi cái gì?”
Tôi bước đến, đỡ chị Hạnh dậy. Đầu gối chị run rẩy, bàn tay lạnh toát trong tay tôi.
“Chị Hạnh, chị kể cho em nghe được không? Tờ giấy này là sao?”
Chị Hạnh nhìn tôi rất lâu. Rồi chị nhìn bà Sương, nhìn Tí, nhìn cả phòng. Giọng chị khàn đặc, từng chữ như phải kéo ra từ cổ họng:
“Tháng trước… em được nhận bảo hiểm chồng em. Ba mươi triệu. Chồng em mất ba năm rồi, công ty chậm chi trả, mãi tháng trước mới có. Em sợ để trong nhà sẽ bị lấy cắp, mà em không có tài khoản ngân hàng. Bác Sương bảo để bác giữ giùm, bác là tổ trưởng, ai cũng tin. Bác viết giấy cho em.”
“Đồ nói dối!” Bà Sương gào lên.
“Em không nói dối.” Chị Hạnh nhìn thẳng bà, lần đầu tiên tôi thấy ánh mắt chị không né tránh. “Hôm đó có thằng Tí ở bên cạnh, nó nhìn bác viết, nhìn bác ký.”
Tí gật đầu mạnh.
“Cháu thấy ạ! Bác Sương còn dặn mẹ cháu đừng nói với ai, vì sợ người ta ghen tị!”
Bà Sương đứng sững. Lớp phấn trên mặt bà dường như nứt ra, để lộ những nếp nhăn run rẩy bên dưới.
“Bác Sương,” tôi nói, “bác nói quỹ khuyến học mất ba chục triệu, đúng hôm chị Hạnh vào nhà văn hóa. Nhưng chị Hạnh có giấy chứng minh số tiền ba mươi triệu ấy là tiền của chị, đang nằm trong tay bác. Vậy tiền quỹ mất thật không, hay bác đang cần một lý do để không phải trả lại tiền cho chị ấy?”
“Cô… cô ăn nói hàm hồ!”
“Cháu cho bà con xem sổ quỹ nhé?” Tôi quay sang đám đông. “Cháu làm văn phòng, cháu biết đọc sổ sách. Ai có thể cho cháu mượn sổ quỹ khuyến học ba tháng gần đây?”
Một bà cô ở hàng thứ hai giơ tay, giọng lí nhí:
“Tôi là thủ quỹ, sổ nằm trong túi tôi… bà Sương bảo tôi đừng đem ra vì sợ mất công.”
Bà Sương lao tới định giật, nhưng chú Tư đã bước chắn ngang. Chú không nói một câu, chỉ đứng đó như một bức tường.
Bà thủ quỹ run run đưa cuốn sổ cho tôi. Tôi lật nhanh từng trang, ngón tay lướt qua từng cột số. Mười phút trôi qua trong im lặng. Tôi nghe tiếng quạt trần quay, tiếng thở của chính mình, và tiếng bà Sương nuốt nước bọt.
Rồi tôi ngẩng lên.
“Quỹ khuyến học tháng trước thu được bốn mươi hai triệu từ các hộ. Nhưng sổ ghi chi hai mươi triệu mua quà trung thu, mười hai triệu sửa mái nhà văn hóa. Còn lại mười triệu cất trong két. Nghĩa là đúng ra trong két phải có mười triệu, không phải ba mươi.”
Cả phòng ồ lên.
“Quỹ không hề mất ba mươi triệu,” tôi nói chậm rãi. “Con số ba mươi triệu bác Sương nêu ra là con số trùng khớp với đúng số tiền bác đang giữ của chị Hạnh.”
“Tôi… tôi chỉ nhầm số…” Bà Sương lắp bắp.
“Nhầm?” Chị Hạnh khẽ hỏi, giọng nghèn nghẹn. “Bác nhầm số, mà bắt em quỳ trước mặt con em sao, bác?”
Bà Sương không đáp được. Bà lùi dần, lưng chạm vào bàn họp. Chiếc phong bì trắng tuột khỏi tay bà, rơi xuống nền gạch. Tôi cúi xuống nhặt.
Trên mép phong bì là dòng chữ viết tay: “Chuyển cho con trai Dũng, 30 triệu, gấp.”
Tôi đưa phong bì cho cả phòng xem. Bên trong là biên lai chuyển tiền ngân hàng, người nhận Nguyễn Văn Dũng, ngày mười sáu tháng trước, đúng một ngày sau khi bà Sương viết giấy nhận tiền của chị Hạnh.
“Con trai bác…” Một ông già ở hàng ghế đầu lẩm bẩm. “Thằng Dũng nghiện cờ bạc ở Sài Gòn, cả khu ai chẳng biết.”
Bà Sương ngồi sụp xuống ghế, hai tay ôm mặt. Giọng bà bật ra nghẹn ngào, khác hẳn người đàn bà quát tháo lúc nãy:
“Thằng Dũng nó nợ người ta… nó bảo nếu không có ba mươi triệu, họ sẽ chặt tay nó… Tôi hoảng quá… Tôi tính đợi nó có tiền trả lại ngay… Tôi không ngờ con Hạnh nó đòi sớm…”
“Chị ấy chưa đòi gì cả,” tôi nói. “Bác tự dựng chuyện mất quỹ trước, để khi chị ấy hỏi tiền thì bác đã có sẵn lý do là chị ấy ăn cắp.”
Bà Sương không nói thêm. Chị Hạnh đứng đó, nước mắt chảy dài, không khóc thành tiếng. Tí ôm lấy chân mẹ, mặt vùi vào bụng chị.
Trong phòng, có tiếng ai đó khẽ thở dài. Rồi một bà cô đứng dậy, đi đến bên chị Hạnh.
“Chị Hạnh, bà con xin lỗi chị. Chúng tôi hồ đồ quá.”
Lần lượt vài người khác đứng lên. Có người cúi đầu, có người nắm tay chị. Chú Tư nhặt từng tờ vé số còn rơi vương vãi, xếp ngay ngắn trở lại vào chiếc túi vải. Một bác trai đưa chị chai nước, một bà cô lặng lẽ nhét vào tay Tí gói bánh.
Tôi đứng nhìn, lòng nhẹ đi một chút, nhưng chưa trọn vẹn. Tôi gọi:
“Bác Sương.”
Bà ngẩng lên, đôi mắt đỏ hoe.
“Bác phải trả lại ba mươi triệu cho chị Hạnh. Ngay tối nay.”
“Tôi không có… tiền đã gửi cho thằng Dũng rồi…”
“Vậy bác gọi cho anh Dũng, bảo anh ấy gửi lại.”
Bà Sương run run rút điện thoại ra. Tay bà bấm số mấy lần mới đúng. Điện thoại đổ chuông rất lâu, rồi một giọng nam lạ hoắc vang lên ở đầu dây, to đến mức cả phòng nghe rõ:
“Alo? Bà là mẹ thằng Dũng phải không? Thằng Dũng bị tụi tôi giữ rồi. Ba chục triệu bà gửi chỉ đủ trả lãi tuần này thôi. Còn vốn một trăm triệu nữa, bà liệu mà chuẩn bị. Có tiền thì lên đón con, không thì đừng trách.”
Điện thoại tuột khỏi tay bà Sương, rơi xuống nền gạch. Bà ngồi bất động, mắt trợn trừng nhìn khoảng không.
Chị Hạnh khẽ buông một hơi thở dài. Tí ngẩng lên nhìn tôi, ánh mắt vẫn còn sợ hãi.
“Cô ơi, vậy mẹ con có lấy lại được tiền không?”
Tôi không trả lời ngay được. Một cuộc gọi, một giọng đàn ông lạ, một trăm triệu nữa chưa có lời giải. Tôi nhìn xuống chiếc điện thoại nằm trên sàn, màn hình vẫn sáng, số máy hiển thị ở dòng gọi đến không phải một dãy số lạ.
Đó là số của chính chị Hạnh.
Tôi cúi xuống nhặt chiếc đ:iện th:oại của bà Sương. Màn hình vẫn sáng, dòng số hiện rõ mồn một. Tôi quay sang chị Hạnh, giơ máy lên.
“Chị Hạnh, số này chị có quen không?”
Chị Hạnh nhìn dãy số rất lâu, môi mấp máy đọc nhẩm từng chữ. Mặt chị tái dần.
“Số này… là số cũ của em. Em dùng bốn năm, từ hồi chồng em còn nằm viện. Ba năm trước, sau khi anh ấy m:ất, em không có t:iền nạp, nhà mạng cắt luôn số. Em mua số khác rồi, bỏ số này lâu rồi.”
Cả phòng nhìn nhau. Có tiếng ai đó thì thầm: “Số cũ mà còn nghe máy? Là sao?”
Tôi nhìn bà Sương. Bà ngồi gục trên ghế, hai bàn tay vặn vào nhau, không dám ngẩng đầu.
“Bác Sương,” tôi nói, giọng nhỏ nhưng chắc, “số này bác lưu trong máy là số của anh Dũng, đúng không?”
Bà không đáp.
“Bác trả lời đi.” Tiếng chú Tư vang lên từ phía sau, trầm như tiếng chuông. “Giờ không phải lúc giấu nữa.”
Bà Sương nấc lên một tiếng, rồi gật đầu.
“Nó… nó đưa tôi số này hồi đầu năm. Nó bảo số cũ của nó bị người ta theo dõi, bọn đòi n:ợ gọi suốt, bảo mẹ gọi số mới này thôi. Tôi… tôi không biết số này là của ai…”
Tôi hít một hơi thật sâu. Trong đầu tôi, mọi mảnh ghép bắt đầu rơi vào đúng chỗ, nhưng càng khớp, lưng tôi càng lạnh.
“Bác là tổ trưởng,” tôi nói chậm rãi, “hằng năm bác thu bản sao căn cước của từng hộ để làm danh sách nhận quà, lập sổ bảo hiểm y tế, đúng không ạ?”
“Thì… thì phải làm thế.”
“Những bản sao đó để ở đâu?”
Bà Sương im lặng.
“Trong tủ nhà bác,” thủ quỹ khẽ nói, giọng run run. “Tôi từng thấy, cả một xấp dày, bác để ngay ngăn trên cùng.”
Tôi quay sang chị Hạnh.
“Chị Hạnh, ba năm trước chị có đưa căn cước cho bác Sương không?”
“Có…” Chị Hạnh lắp bắp. “Hồi chồng em m:ất, bác Sương làm giấy hỗ trợ khó khăn cho em. Em đưa căn cước, bác photo.”
Tôi hiểu rồi. Hiểu đến mức thấy lòng bàn tay mình lạnh ngắt.
“Số điện thoại cũ của chị bị thu hồi,” tôi nói, nhìn thẳng vào bà Sương, “rồi có người dùng đúng căn cước của chị để đăng ký lại số đó. Người đó có thể lấy căn cước từ cái xấp giấy nhà bác. Bác Sương, trong nhà bác ngoài bác ra còn ai biết chỗ để xấp giấy ấy?”
Bà Sương ôm mặt. Rất lâu sau mới có tiếng bà thoát ra, nghẹn đặc như bị ai bóp cổ:
“Thằng Dũng.”
Cả phòng thở hắt ra một hơi. Tôi nghe thấy tiếng ai đó khẽ gọi trời.
Tôi không để bà kịp gục xuống. Tôi bật loa ngoài, bấm gọi lại đúng dãy số ấy. Chuông đổ ba hồi, người đàn ông lúc nãy bắt máy, giọng gắt gỏng:
“Bà lại gọi gì? Tiền đâu?”
“Anh cho tôi nói chuyện với anh Dũng.” Tôi nói. “Ngay bây giờ, tôi muốn nghe tiếng anh ấy.”
Đầu dây im lặng một nhịp. Tôi nghe tiếng thở, tiếng sột soạt, rồi tiếng ai đó cười khẽ.
“Cô là ai?”
“Tôi là người đang ghi âm cuộc gọi này, và c:ông an phường sắp đến.” Tôi nói. “Anh biết số này đăng ký tên ai không? Tên một người phụ nữ bán vé số, bị giả mạo giấy tờ. Anh muốn nói chuyện với c:ông an về chuyện đó không?”
Máy cúp ngang.
Tôi quay sang chú Tư. Chú đã nhanh hơn tôi một bước.
“Chú chạy qua trụ sở c:ông an phường rồi, cô Ngọc.” Chú thở dốc, vừa mở cửa vừa nói. “Anh Quang trực tối nay. Hai ngõ thôi, chú chạy hết chưa đầy năm phút.”
Chưa đầy mười phút, anh Quang, c:ông an khu vực, ba mươi lăm tuổi, bước vào nhà văn hóa cùng chú Tư. Anh nghe tôi kể từng chi tiết, xem tờ giấy nhận tiền, xem phong bì chuyển tiền, nghe lại đoạn ghi âm. Mặt anh sầm dần.
“Thế này là dạng giả bắt c:óc để moi tiền người nhà,” anh nói. “Gần đây xảy ra nhiều lắm. Có điều, nếu số điện thoại đăng ký bằng căn cước của chị Hạnh thì chuyện còn nghiêm trọng hơn.” Anh quay sang chị Hạnh. “Chị có vay tiền ở đâu không?”
“Dạ không! Em không biết ai cho em vay hết…”
“Để em kiểm tra giúp,” tôi nói. “Chị đưa em căn cước.”
Chị Hạnh run run lấy giấy tờ từ trong túi vải. Tôi mở điện thoại, đăng nhập cổng tra cứu thông tin tín dụng của công dân, điền từng số. Mấy chục con mắt đổ dồn vào màn hình nhỏ xíu. Vài giây trôi qua dài như cả buổi họp.
Rồi trang kết quả hiện ra.
Tôi đọc to, giọng khô lại:
“Hai khoản vay qua ứng dụng, đứng tên Nguyễn Thị Hạnh. Một khoản bốn mươi triệu, một khoản sáu mươi triệu. Tổng một trăm triệu. Đăng ký tám tháng trước, đã quá hạn, đang bị tính lãi phạt.”
Chị Hạnh lảo đảo. Tí vội đỡ lấy mẹ, hai bàn tay nhỏ xíu nắm chặt cánh tay chị.
“Em không vay…” Chị thều thào. “Em chưa từng vay…”
“Chị không vay,” tôi nói. “Có người vay thay chị, bằng căn cước của chị, bằng số điện thoại cũ của chị. Một trăm triệu trong cuộc gọi lúc nãy chính là khoản này, người ta đang dồn nó về phía bác Sương vì đây là mẹ của người vay.”
Bà Sương ngẩng lên, đôi mắt vằn đỏ. Ngay lúc ấy, tôi thấy bà hiểu ra tất cả, cả cái bẫy mà con trai bà đã dựng quanh chính mẹ mình.
“Thằng Dũng…” Bà thì thào. “Nó biết tôi sẽ không dám báo c:ông an vì thương nó. Nó biết tôi sẽ ôm hết… Nó cho người gọi tôi, đòi thêm t:iền, mà cái n:ợ lại đứng tên con Hạnh…”
Anh Quang bước lên một bước, giọng nghiêm lại:
“Bà Sương, bà có biết con trai bà đang ở đâu không?”
“Tôi… tôi không biết. Nó gọi cho tôi ba ngày trước, bảo nó bị giữ ở Thủ Đức…”
“Bà có số thật của anh ấy không?”
Bà run run mở danh bạ, tìm một cái tên khác. Bà từng lưu, nhưng nhiều tháng nay không gọi vì Dũng cứ bảo chuyển sang số mới. Anh Quang ghi lại số, gọi một cuộc báo về đội điều tra. Anh bảo chúng tôi chờ.
Không ai về. Cả phòng ngồi lặng, có người rót nước, có người mang thêm ghế cho chị Hạnh. Ngoài sân, tiếng ve đã tắt, chỉ còn tiếng côn trùng rả rích.
Gần mười giờ đêm, điện thoại anh Quang đổ chuông. Anh nghe, gật đầu mấy lần, rồi đặt máy xuống.
“Tìm thấy rồi.” Anh nói. “Dũng đang ở một phòng trọ ở Thủ Đức, cùng hai người nữa. Không ai bắt c:óc ai cả. Anh ta tự dựng vở kịch bị giữ làm con tin, để mẹ gom t:iền trả cho đồng bọn, vì đám người đó chính là nhóm cho vay ứng dụng, và anh ta là kẻ trong nhóm.”
Bà Sương òa lên. Không còn là tiếng quát, không còn là giọng the thé. Bà khóc như một đứa trẻ bị người lớn bỏ rơi giữa chợ.
“Mười năm tôi nuôi nó… Tôi bán đất, tôi bán vàng, tôi trả n:ợ cho nó hết lần này đến lần khác… Tôi chỉ có mỗi nó thôi mà…”
Tôi nhìn bà. Giữa cơn giận còn lại, tôi chợt thấy thương hại. Người phụ nữ năm mươi tám tuổi ấy vừa bị chính đứa con mình cưng chiều lừa, vừa trở thành kẻ lừa người khác bằng chính bàn tay run rẩy ấy.
Bà gạt nước mắt, đứng dậy một cách vụng về, rồi đi thẳng đến trước mặt chị Hạnh.
Tôi tưởng bà sẽ nói gì đó. Nhưng bà không nói. Bà từ từ khuỵu hai đầu gối xuống nền gạch, ngay nơi mười phút trước chị Hạnh từng q:uỳ.
“Bác xin lỗi chị.” Giọng bà vỡ nát. “Bác có lỗi với chị, với cháu Tí. Bác bắt chị q:uỳ, bác làm nh:ục chị trước con chị, bác…bác không còn mặt mũi nào…”
Cả phòng nín thở.
Chị Hạnh đứng đó, hai tay buông thõng. Tôi thấy môi chị run lên. Chị nhìn bà Sương q:uỳ dưới chân, nhìn cả những người hàng xóm từng quay mặt đi lúc nãy, rồi nhìn xuống Tí.
Thằng bé buông tay mẹ, bước tới, cúi xuống đỡ bà Sương dưới cánh tay gầy nhom của mình.
“Bà đứng dậy đi ạ.” Giọng Tí nhỏ nhưng rất rõ. “Mẹ cháu dạy cháu, không ai phải q:uỳ trước ai hết. Mẹ cháu q:uỳ lúc nãy cũng là vì mẹ không muốn cháu thấy mẹ cãi nhau. Nhưng bà đừng q:uỳ. Bà đứng lên đi.”
Bà Sương nhìn đứa trẻ mười một tuổi, miệng há ra, không thốt được tiếng nào.
Chị Hạnh cúi xuống, cùng con đỡ bà dậy. Giọng chị rất khẽ:
“Bác đứng lên đi bác. Em không q:uỳ để bác phải q:uỳ lại. Em chỉ muốn… em chỉ muốn lấy lại tiền của em, và muốn con em thôi không phải thấy mẹ nó bị chỉ tay vào mặt.”
Có người trong phòng đã khóc. Tôi nghe tiếng khịt mũi ở hàng ghế sau, tiếng ai đó khẽ nói “khổ thân”. Chú Tư quay mặt đi lau mắt bằng gấu áo.
Anh Quang chờ mọi người bình tĩnh rồi mới nói tiếp, giọng điềm đạm:
“Bà Sương, những việc này phải làm theo pháp luật. Bà phải lên phường cùng tôi lập biên bản, trình bày việc sử dụng giấy tờ của người dân, và việc ép buộc chị Hạnh q:uỳ nhận tội oan trước đông người. Còn anh Dũng, đội điều tra sẽ xử lý về hành vi giả mạo giấy tờ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản.”
Bà Sương gật đầu. Bà không phản đối. Bà nhìn tôi, rồi nhìn chị Hạnh, cuối cùng đưa hai tay run rẩy cầm chiếc phong bì trắng cho anh Quang.
“Tôi đi.”
Bà bước ra cửa. Lúc đi ngang qua, bà dừng lại một nhịp, thì thầm:
“Cô gái, cảm ơn cô, vì không để tôi đi tiếp con đường đó.”
Tôi không biết nói gì. Chỉ lặng lẽ gật đầu.
Mười ngày sau, mọi việc được thu xếp rõ ràng.
Hai khoản vay một trăm triệu đứng tên chị Hạnh được tổ chức cho vay xóa khỏi hồ sơ sau khi c:ông an xác nhận danh tính người vay thật là Dũng. Tôi cùng chị Hạnh đến phường, đến ngân hàng, đến nhà mạng, ngồi hết văn phòng này đến văn phòng khác. Tôi làm văn phòng mười năm, lần đầu tiên thấy kỹ năng nhàm chán của mình có ích đến vậy.
Dũng bị bắt giữ cùng hai người trong nhóm. Anh ta thừa nhận đã lấy căn cước của nhiều hộ trong khu phố, không chỉ của chị Hạnh, từ xấp giấy ở nhà mẹ, và đăng ký sáu số điện thoại cùng bốn khoản vay, trong đó chỉ khoản của chị Hạnh là lớn nhất, vì chị nghèo, ít người để ý, lại không bao giờ tra cứu gì. Vụ án được chuyển lên cơ quan điều tra.
Bà Sương bị bãi nhiệm chức tổ trưởng ngay trong cuộc họp tổ dân phố tuần sau. Không ai nói to, không ai chỉ tay. Cả khu chỉ lặng lẽ giơ tay biểu quyết, và bà ngồi hàng ghế cuối, cúi đầu nhìn xuống nền gạch.
Hôm sau, bà bán hết số vàng cuối cùng, gom đủ ba mươi triệu cộng thêm mười triệu tiền bồi thường, tự tay mang đến nhà chị Hạnh. Chị Hạnh nhận ba mươi triệu, trả lại mười triệu kia.
“Cái đó là bác đền cho cháu Tí,” bà Sương nói.
“Bác giữ mà lo cho bác,” chị Hạnh đáp. “Bác còn phải đi thăm anh Dũng, còn phải ăn uống nữa.”
Bà Sương bật khóc. Lần này không phải khóc vì bị vạch mặt. Bà khóc vì không biết dùng từ nào để đáp lại.
Khu phố không để chuyện dừng ở đó. Chú Tư đề xuất, chị thủ quỹ ủng hộ, cuối tuần ấy cả khu họp lại lần nữa. Lần này không có tiếng quát, không có ai đứng giữa phòng chỉ vào ai. Một thùng quyên góp nhỏ được đặt ở nhà văn hóa, ba hôm là đầy. Có hộ góp năm chục, có hộ hai trăm, có bà cô góp cả chiếc nhẫn cưới kỷ niệm. Tổng cộng được hai mươi mốt triệu. Mười tám triệu trả nốt viện phí còn nợ của chồng chị Hạnh, ba triệu còn lại chú Tư nhất quyết đổi thành một xe đẩy nhỏ.
Chị Hạnh cầm chìa khóa chiếc xe, đứng lặng rất lâu giữa sân nhà văn hóa. Chiếc xe đẩy sơn lại màu xanh, mặt kính sạch bóng, bên trên là tấm bảng nhỏ viết bằng bút lông: “Nước mía, nước sâm, vé số. Chị Hạnh.”
“Bán vé số mới sống được ít, còn thêm cái xe này…” Chị nghẹn ngào. “Chị không biết phải cảm ơn thế nào.”
“Chị cứ bán cho đàng hoàng,” chú Tư cười, gãi đầu. “Đứa nào nói chị ăn cắp, chú đem chổi ra chắn cửa cho chị.”
Chị Hạnh bật cười, lần đầu tiên tôi nghe chị cười thành tiếng.
Quỹ khuyến học, đúng như lẽ ra phải thế, được kiểm tra lại từng khoản. Thủ quỹ mới là bà cô từng giơ tay đưa tôi cuốn sổ, giờ đã dám cầm sổ ra họp công khai mỗi quý. Tuần đầu tháng, tên Tí được đọc to trong buổi trao học bổng, vì thằng bé đứng nhất lớp Sáu. Phần thưởng là một bộ sách giáo khoa mới và một ba lô xanh. Tôi đứng ở hàng ghế cuối, nhìn thằng bé bước lên bục, cái áo trắng đã được mẹ là phẳng phiu, hai bím vạt áo không còn bị túm chặt.
Nó cầm bằng khen, quay xuống nhìn mẹ, rồi quay sang nhìn tôi, nhoẻn miệng cười.
Tôi vẫn là Ngọc, ba mươi tuổi, nhân viên văn phòng, người thuê phòng cuối ngõ. Sau chuyện ấy, người trong khu đổi cách gọi tôi từ “cô mới dọn đến” thành “cô Ngọc”, rồi thành “con Ngọc” thân thiết như người nhà. Tổ dân phố bầu tôi làm thư ký, kiêm giữ sổ. Tôi nhận, với một điều kiện: mọi giấy tờ của người dân phải cất trong tủ có khóa, mỗi lần dùng phải ghi sổ rõ ràng, dùng xong phải hủy.
Một buổi chiều cuối tháng, tôi đi ngang cổng nhà văn hóa, thấy chị Hạnh đang đứng sau chiếc xe đẩy, tay cắt mía, miệng nói chuyện với một ông khách. Thằng Tí ngồi cạnh làm bài tập, cái cặp xanh dựng bên chân. Khách đến mua nước, mua vé số, có người hỏi thăm, có người kéo ghế ngồi lại nói chuyện cho lâu.
Lúc ấy bà Sương đi tới.
Bà mặc chiếc áo bà ba cũ, đội nón lá, tóc bạc nhiều hơn tháng trước. Bà dừng cách xe đẩy chừng ba bước, đứng rất lâu, bàn tay vân vê quai nón. Chị Hạnh nhìn thấy bà, đặt con dao xuống.
Tôi tưởng chị sẽ quay đi.
Nhưng chị rót một ly nước sâm, đặt lên mặt kính, đẩy nhẹ về phía bà.
“Bác uống đi bác. Trời nóng.”
Bà Sương nhìn ly nước, nhìn chị, bàn tay run lên khi đưa ra cầm lấy. Bà uống một ngụm, rồi lặng lẽ đặt ly xuống, cúi đầu thật sâu. Không có lời xin lỗi nào được nói thêm. Chị Hạnh cũng không cần bà nói.
Bà đi, bóng nhỏ dần cuối con ngõ, nghiêng nghiêng dưới nắng chiều.
Tôi đứng bên kia đường, nhìn chị Hạnh cầm con dao lên, cắt tiếp thân mía ráo nước, lưng thẳng, đầu ngẩng cao. Chiếc túi vé số vẫn treo ở góc xe, những tờ vé xếp ngay ngắn như vừa được nhặt lên từ mặt đất hôm nào.
Có những người cả đời bị chỉ tay vào mặt chỉ vì nghèo, mà không ai nghĩ rằng một ngày nào đó, sự thật sẽ đứng về phía họ. Tôi không nghĩ mình làm điều gì lớn lao. Tôi chỉ đứng dậy khi những người khác ngồi yên. Và đôi khi, chỉ cần một người đứng dậy, cả căn phòng sẽ nhớ ra rằng mình cũng có đôi chân.
-HẾT-