BÀ LÃO ĂN XIN BỊ CHỦ QUÁN T:ÁT NG:Ã SẤP GIỮA PHỐ, BỊ Q:UÁT: “C:ÚT ĐI! ĐỪNG ĐỨNG ĐÂY LÀM BẨN M:ẶT TIỀN CỦA TÔI!” CẢ PHỐ IM L:ẶNG, CHO ĐẾN KHI NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRONG CHIẾC XE SANG BƯỚC XUỐNG, Q:UỲ SỤP TRƯỚC BÀ (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

BÀ LÃO ĂN XIN BỊ CHỦ QUÁN T:ÁT NG:Ã SẤP GIỮA PHỐ, BỊ Q:UÁT: “C:ÚT ĐI! ĐỪNG ĐỨNG ĐÂY LÀM BẨN M:ẶT TIỀN CỦA TÔI!” CẢ PHỐ IM L:ẶNG, CHO ĐẾN KHI NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRONG CHIẾC XE SANG BƯỚC XUỐNG, Q:UỲ SỤP TRƯỚC BÀ (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người, đường phố và văn bản

(Tiếp theo phần 1)

Chiếc muôi rơi xuống nền gạch kêu “cạch” một tiếng. Không ai nhặt.

Chị Hà đứng đó, hai tay buông thõng, mắt dán vào tờ giấy như thể nó vừa biến thành một con rắn. Môi chị mấp máy mãi mới ra được một câu.

“Cái này… sao anh có cái này?”

“Sao tôi có thì chị khỏi cần biết.” Người đàn ông vẫn quỳ một gối, một tay đỡ lưng mẹ, tay kia giữ tờ giấy. Giọng ông thấp mà nặng. “Chị chỉ cần trả lời: chữ ký ở dưới là của ai?”

Tôi đứng cách đó ba bước, nhìn không rõ chữ trên giấy. Nhưng tôi thấy cái cách chị Hà nuốt khan, thấy gân cổ chị giật lên. Một người chủ quán quen quát tháo suốt ngày giờ không nói nổi nửa câu.

“Là… là của tôi,” chị Hà thì thào.

“Vậy chị đọc to lên cho cả phố nghe đi.”

“Anh Khôi, anh đừng…”

Khôi. Tôi vừa biết tên ông ấy. Và chị Hà biết ông ấy, rõ ràng là biết từ trước.

Bà cụ khẽ kéo tay áo con trai. “Khôi, thôi con. Về đi. Mẹ không muốn làm ầm lên đâu.”

“Không, mẹ.” Ông Khôi lắc đầu, mắt vẫn nhìn chị Hà. “Một năm nay mẹ im lặng rồi. Hôm nay thì hết.”

Anh xe ôm lúc nãy nổ máy đi mất giờ đã quay lại, đứng cùng mấy người bán hàng bên kia đường, ai cũng thò đầu ra nghe. Tôi thấy mình bước lên, đứng cạnh bà cụ lúc nào không hay. Tôi đã đứng im đủ lâu rồi.

“Bà ơi, bà ngồi tạm lên ghế nhé.” Tôi kéo chiếc ghế nhựa ngoài cửa quán ra, cùng ông Khôi đỡ bà ngồi xuống. Bàn tay bà lạnh ngắt, nhẹ như một nắm xương. Má bà in hằn năm ngón tay đỏ tấy.

Chị Hà nhìn tôi, nhìn ông Khôi, rồi nhìn quanh. Dáng chị bắt đầu co lại. “Anh Khôi, mình vào trong nói chuyện được không? Đừng làm lớn ở ngoài này.”

“Lớn?” Ông Khôi bật cười, cái cười không có chút vui nào. “Chị t:át mẹ tôi giữa phố, đạp vào cái bát của bà, bảo bà làm bẩn mặt tiền. Cả con phố này nhìn thấy hết. Giờ chị mới sợ lớn chuyện?”

Chị Hà không đáp được.

Ông Khôi nhìn lại tờ giấy trong tay, rồi quay sang tôi, như thể nhận ra tôi là người duy nhất ở đây mở miệng bênh mẹ ông. “Cô gái, cảm ơn cô. Cô có thể làm chứng giúp tôi không? Tôi sẽ đọc cho mọi người nghe một thứ, và tôi muốn có người ở đây nghe hết.”

“Tôi ở đây.” Tôi đáp.

Ông mở tờ giấy ra, đưa lên. Đó là một bản hợp đồng viết tay, giấy đã ngả vàng. Tôi liếc được dòng đầu: HỢP ĐỒNG NHƯỢNG LẠI MẶT BẰNG.

“Hai năm trước,” ông Khôi bắt đầu, giọng đều lại, “mẹ tôi có một gian nhà mặt phố, ở ngay chỗ này. Chính cái quán cơm Hà Thành mà chị Hà đang đứng đây.”

Cả con phố như nín thở.

Tôi quay sang nhìn cái quán. Quán đông khách mười mấy năm nay. Tôi ăn ở đây từ ngày chuyển về làm gần đây. Chưa bao giờ nghĩ đây là nhà của ai.

“Mẹ tôi cho chị Hà thuê mặt bằng mở quán, với giá rất rẻ, vì mẹ thương chị lúc đó mới ly hôn, một mình nuôi con.” Ông Khôi nói từng chữ. “Mười năm trước. Chị còn nhớ không?”

Chị Hà cúi gằm mặt.

“Cách đây hai năm, ba tôi mất. Tôi đi công tác dài ngày ở nước ngoài, mẹ ở nhà một mình. Chị Hà đến gặp mẹ, nói quán ăn đang thua lỗ, xin mẹ viết giấy nhượng lại căn nhà để chị vay ngân hàng làm ăn. Chị hứa sẽ nuôi mẹ, chăm mẹ đến cuối đời.”

Tôi nghe thấy tiếng ai đó hít vào sau lưng.

“Mẹ tôi tin. Mẹ ký. Ba tháng sau, chị Hà đổi ổ khóa, đuổi mẹ tôi ra khỏi chính căn nhà của mẹ.”

“Không phải đuổi!” Chị Hà bật lên, giọng the thé. “Tôi nói bà ở đâu đó một thời gian, tôi sửa lại quán, rồi tính tiếp. Bà tự bỏ đi!”

“Tự bỏ đi?” Giọng ông Khôi bỗng rất khẽ. “Một bà cụ bảy mươi hai tuổi, vừa mất chồng, không biết số điện thoại của con trai, tự bỏ đi?”

Tôi quay sang bà cụ. Bà ngồi cúi đầu, bàn tay run run xoắn vào vạt áo, không phản bác điều gì.

“Bà ơi,” tôi hỏi khẽ, “bà có muốn nói gì không ạ?”

Bà ngẩng lên. Đôi mắt đục mờ nhìn tôi, rồi nhìn chị Hà. “Con Hà nó khổ lắm cô ạ. Hồi trước nó ngồi khóc ở cửa, bà thương mới cho thuê rẻ… Bà không ngờ…”

“Mẹ!” Ông Khôi nghẹn lại. “Mẹ còn bênh người ta?”

“Mẹ không bênh. Mẹ chỉ… mẹ già rồi, mẹ không muốn kiện tụng với ai.”

Chị Hà bắt đầu khóc. Không phải kiểu khóc hối hận. Tôi nhìn kỹ, đó là cái khóc của người đang tìm đường lui. “Anh Khôi, anh hiểu lầm rồi. Tôi chưa bao giờ ép bà. Giấy tờ đó bà tự ký, có người làm chứng. Quán này giờ là của tôi, hợp pháp. Anh muốn gì thì lên tòa!”

Ông Khôi im lặng một lúc. Rồi ông làm một việc làm tôi bất ngờ: ông bật cười thật nhẹ.

“Chị nói đúng. Giấy tờ đó hợp pháp.”

Chị Hà sững lại. Cả phố cũng sững.

“Hợp pháp, nếu nó là thật.” Ông Khôi giơ tờ giấy lên, ngón tay chỉ vào góc dưới bên phải. “Chị Hà, tôi hỏi chị. Giấy này ghi ‘Hợp đồng nhượng lại mặt bằng, lập ngày mười hai tháng tư’. Mẹ tôi ký, chị ký, người làm chứng là ông Bảy, hàng xóm cũ. Đúng không?”

“Đúng!”

“Vậy chị giải thích giúp tôi một chuyện.” Ông lấy từ trong phong bì ra thêm một tờ nữa, một tấm giấy xác nhận có dấu đỏ. “Ông Bảy đã mất từ tháng hai năm đó. Hai tháng trước ngày giấy này được lập. Chữ ký làm chứng trên đây là ai ký?”

Không khí như đặc lại.

Tôi thấy chị Hà há miệng, rồi khép lại. Môi chị trắng bệch. Chị lùi một bước, va vào cái bàn gần cửa, mấy chiếc đũa lăn xuống nền gạch.

“Tôi… tôi không biết… Chắc ông ấy ký trước…”

“Ông Bảy mất vì đột quỵ trong bệnh viện, hồ sơ còn nguyên.” Giọng ông Khôi trầm đi. “Chị có muốn tôi nhờ cơ quan công an giám định chữ ký không?”

Chị Hà ngồi sụp xuống chiếc ghế gần nhất. Hai tay ôm lấy mặt. Tôi nghe thấy tiếng thở nặng nề của chị ta, rồi một tiếng thút thít nghẹn.

“Tôi chỉ muốn giữ cái quán…”

“Chị giữ cái quán bằng cách làm giả giấy tờ của một bà cụ mất chồng à?” Tôi không nhịn được. “Chị bảo bà làm bẩn mặt tiền. Cái mặt tiền đó là nhà của bà.”

Chị Hà ngẩng lên nhìn tôi, mắt sưng đỏ. Không trả lời.

Tôi nhìn ông Khôi, thấy ông đang cố giữ cho mình khỏi run. Tôi hiểu rồi. Ông ấy tìm mẹ cả một năm, đi hỏi từng người, đến từng bệnh viện, từng trạm cứu trợ. Ông chỉ tìm thấy tấm giấy này trong đống đồ cũ của cha, khi dọn lại nhà. Và hôm nay, trên đường đi, ông tình cờ nhìn thấy bà.

Tôi đoán vậy. Nhưng tôi chưa kịp hỏi thì ông Khôi đã quay sang bà cụ, quỳ xuống nắm hai tay bà.

“Mẹ, con xin lỗi. Con không ở nhà lúc mẹ cần. Con tưởng mẹ có chị Hà lo, ai ngờ…”

“Không phải lỗi con.” Bà vỗ nhẹ mu bàn tay ông. “Mẹ giấu. Mẹ không muốn con lo khi con đang làm xa.”

Tôi nhìn cảnh đó và thấy cổ họng mình nghẹn lại.

Nhưng có một thứ làm tôi nhíu mày. Một điều nhỏ, đến giờ vẫn chưa ai giải thích: lúc ông Khôi bước xuống xe, ông đã nhìn thấy bà và gọi “mẹ” ngay, như thể ông đã biết trước mình sẽ gặp bà ở đây. Nhưng ông nói ông tìm mẹ một năm trời. Nếu ông tìm mẹ cả năm không thấy, vì sao hôm nay ông lại dừng xe đúng trước quán cơm này, đúng lúc chị Hà t:át bà?

Tôi nhìn xe của ông. Cửa xe vẫn mở, và trên ghế phụ có một chiếc hộp gỗ nhỏ.

“Anh Khôi,” tôi hỏi, “anh đến đây có việc gì? Anh biết mẹ anh ở đây à?”

Ông Khôi ngẩng lên, nhìn tôi, rồi nhìn xuống đôi bàn tay của mẹ mình. Ông im lặng một lúc lâu.

“Không,” ông nói. “Tôi đến đây vì một lý do khác. Tôi định gặp chị Hà hôm nay để thương lượng về cái quán. Tôi biết căn nhà bị chiếm, nhưng tôi không biết mẹ tôi còn sống ở ngoài đường. Tôi nghĩ mẹ đã ở với người quen, hoặc về quê. Tôi tìm, nhưng không ai nói là bà đi xin ăn.”

“Sao anh biết nhà bị chiếm?”

“Vì hai tuần trước, tôi nhận được một cuộc gọi.” Ông Khôi nuốt khan. “Một người đàn ông, giọng lạ, nói mẹ tôi đang ở gần phố này, và nếu muốn biết sự thật thì đến đây, đúng giờ trưa nay.”

Tôi lạnh sống lưng. “Ai gọi?”

“Tôi không biết. Số đó giờ đã không liên lạc được.”

Chị Hà bỗng ngẩng đầu lên. Trong mắt chị không còn nước mắt nữa, mà là một nỗi sợ khác, đầy hoảng loạn.

“Người gọi… anh có biết người đó nói gì nữa không?”

“Nói gì?” Ông Khôi nhìn thẳng vào chị.

Chị Hà lắc đầu liên tục, miệng lẩm bẩm: “Không thể nào… ông ta đã hứa… ông ta nói sẽ không…”

“Ai? Ai đã hứa với chị?” Tôi hỏi.

Nhưng chị Hà không đáp. Chị ôm đầu, người run lên như lá.

Ông Khôi đứng dậy, chậm rãi bước đến bên xe, cầm chiếc hộp gỗ trên ghế phụ ra. Tôi tưởng ông định đưa cho chị Hà xem. Nhưng ông chỉ đặt nó vào lòng mẹ mình.

“Mẹ mở ra đi. Con tìm thấy trong tủ của ba, cất sau lớp quần áo cũ.”

Bà cụ run run mở nắp. Bên trong là một xấp thư và một chiếc chìa khóa đồng.

Bà nhìn chiếc chìa khóa, sắc mặt thay đổi hẳn.

“Cái này… sao lại ở đây? Mẹ tưởng ba con đã…”

Bà ngừng giữa chừng, mắt chợt liếc sang chị Hà. Và lần đầu tiên từ lúc tôi gặp, tôi thấy trong ánh mắt hiền lành của bà thoáng qua một tia lạnh buốt.

“Hà,” bà nói rất khẽ, “con nói với mẹ ba con Khôi bị bệnh đột ngột. Nhưng cái chìa này… là chìa khóa phòng làm việc của ổng. Ổng không bao giờ để ai chạm vào.”

Chị Hà đứng bật dậy, mặt không còn một giọt máu.

“Bà đừng nói bừa…”

“Bà không nói bừa.” Bà cụ nhìn xuống xấp thư. Tờ trên cùng có dòng chữ viết tay, mực còn mới hơn mấy tờ bên dưới. Bà đọc nhẩm, môi run lên, rồi đưa tờ thư cho con trai.

Ông Khôi đọc. Tôi thấy mặt ông biến sắc từng chút một, từ tái xanh đến xám xịt. Ông ngẩng lên nhìn chị Hà, ánh mắt như muốn xuyên thủng cô ta.

“Chị Hà,” giọng ông khản đặc, “ba tôi mất ngày nào, chị có nhớ không?”

“Ngày… ngày mười lăm tháng ba…”

“Không.” Ông Khôi giơ tờ thư lên cho tôi nhìn. Dòng chữ nghiêng nghiêng, viết vội, ký tên ông Quốc, ba của ông, đề ngày hai mươi hai tháng ba, tức là bảy ngày sau cái ngày chị Hà nói ông đã mất. Bên dưới có một dòng: “Nếu tôi có mệnh hệ gì, người đến lấy chìa khóa này không phải người nhà.”

Tôi nghe tiếng chị Hà thở hắt ra một hơi, rồi cả người chị đổ sụp xuống.

Ông Khôi không đỡ. Ông đứng yên, tay siết chặt tờ thư.

“Vậy thì ba tôi… đã đi đâu trong bảy ngày đó, và ai là người đã thật sự gọi cho tôi sáng nay?”

Không ai trả lời câu hỏi của ông Khôi. Cả con phố chỉ còn tiếng thở dốc của chị Hà và tiếng tờ thư run lên trong tay ông.

Rồi từ đầu phố vọng lại một âm thanh rất nhỏ, đều và chậm: tiếng bánh xe lăn trên nền gạch lổn nhổn. Tôi quay lại.

Một chiếc taxi vừa đỗ cách quán chừng ba chục mét. Một cậu thanh niên gầy, mặc áo xanh có thêu tên cơ sở chăm sóc, đang đẩy một chiếc xe lăn. Phía sau là một người đàn ông ngoài năm mươi, bụng phệ, mồ hôi nhễ nhại, ôm chiếc cặp da trước ngực như ôm cục than nóng. Trên xe lăn là một ông cụ tóc bạc cắt cụt, nửa người bên phải rũ xuống, tấm chăn mỏng đắp ngang đầu gối dù trời nắng như đổ lửa.

Chị Hà nhìn thấy trước tất cả. Chị há miệng nhưng không ra tiếng, chỉ lùi lại, lưng đập vào cánh cửa kính quán.

Bà cụ ngẩng lên. Cái hộp gỗ trượt khỏi lòng bà, rơi xuống nền gạch, xấp thư tung ra.

“Ông…” Môi bà run đến mức tôi không nghe rõ. “Ông Quốc?”

Chiếc xe lăn dừng lại cách bà ba bước. Ông cụ cố ngẩng đầu, nửa mặt méo xệch, nhưng đôi mắt thì sáng, sáng một cách đau đớn. Miệng ông mấp máy mãi mới ra được tiếng, nặng và ngọng, như có hòn sỏi ngậm trong họng.

“Bà… bà nó… tôi… xin lỗi…”

Bà cụ lao tới. Bà bảy mươi hai tuổi, vừa bị t:át ngã sấp ban nãy, vậy mà tôi chưa từng thấy ai chạy nhanh như vậy. Bà quỳ sụp xuống trước xe lăn, hai bàn tay gầy guộc ôm lấy bàn tay còn cử động được của chồng, áp lên má mình, vừa khóc vừa gọi tên ông, gọi liên tục, như sợ chỉ cần ngừng một nhịp là ông sẽ tan đi.

Ông Khôi đứng chết lặng. Tờ thư tuột khỏi tay ông.

“Ba…” Cuối cùng ông cũng thốt ra được. “Ba… Hai năm nay con thắp hương cho ba…”

Ông Quốc quay sang con trai. Nước mắt chảy xuống phần má bên liệt, không có cảm giác, nên ông không biết mình đang khóc. Tôi đứng đó, tay còn cầm hộp cơm đã nguội ngắt từ bao giờ, và nhận ra mình cũng đang khóc.

Người đàn ông bụng phệ lên tiếng trước, giọng khản đặc: “Anh Khôi. Người gọi cho anh hai tuần trước là tôi.”

Ông Khôi từ từ quay lại. “Chú là ai?”

“Tôi tên Thịnh. Tôi giữ một cơ sở dưỡng lão nhỏ ở ngoại thành.” Ông ta nuốt khan. “Hai năm nay, tôi giữ ba anh ở chỗ tôi.”

Chị Hà bật dậy như bị điện giật.

“Ông Thịnh! Ông đã hứa! Ông đã hứa là không nói với ai!”

Ông Thịnh nhìn chị, và tôi thấy trong ánh mắt ông ta có nhiều thứ lẫn lộn: sợ, xấu hổ, và một thứ quyết tâm của người đã chịu đựng đến hết mức.

“Tôi hứa khi chị trả tiền đều. Bốn tháng nay chị cắt rồi. Tôi nuôi ông cụ bằng tiền túi, còn chị thì chặn số tôi.” Ông ta hít một hơi. “Mà hứa giữ kín một ông cụ còn sống, trong khi cả nhà đang thắp hương cho ông ấy, thì lời hứa đó tôi giữ không nổi nữa.”

Cả con phố đổ dồn mắt về phía chị Hà. Chị đứng giữa vòng người, hai tay buông thõng, môi mấp máy mà không thành lời. Cái dáng đanh đá thường ngày đã biến mất, chỉ còn lại một người đàn bà bốn mươi lăm tuổi trơ trọi giữa nắng.

Ông Khôi bước tới trước mặt chị, giọng rất thấp: “Chị nói đi. Ba tôi ngã bệnh ngày mười lăm tháng ba, đúng không? Sau đó thì sao?”

Chị Hà không nói. Thay chị, ông Thịnh mở chiếc cặp da, lôi ra một cuốn sổ ghi chép cũ và một chiếc điện thoại.

“Hôm đó chị Hà đưa ông cụ đến chỗ tôi trên một chiếc xe thuê. Ông cụ vừa bị đột quỵ, nằm viện mấy ngày thì chị ấy đưa ra. Chị nói gia đình không đủ sức chăm, nhờ tôi nhận nuôi, đừng cho ai liên lạc, vì người nhà đang có chuyện rắc rối giấy tờ.” Ông ta lật cuốn sổ. “Chị còn đưa tôi xem bản sao một tờ hợp đồng, nói bà nhà đã đồng ý hết, ký rồi. Tôi chụp lại một bản để phòng thân. Bản anh đang cầm trên tay chính là tôi gửi anh hai tuần trước, kèm cái giấy xác nhận của phường về ông Bảy. Cái giấy đó tôi nhờ người quen xin được, vì tôi thấy ngày ông Bảy mất nó cứ sai sai.”

“Chú nhận tiền của chị ấy?” Ông Khôi hỏi.

“Nhận. Hai năm, mỗi tháng một lần. Tôi nhận, và tôi xin chịu tội.” Ông Thịnh cúi đầu. “Tôi tưởng đó là chuyện gia đình, người ta bất hòa, chị này là con dâu hay người nhà gì đó. Cho đến khi ông cụ khỏe lên một chút, nói chuyện được, và tôi nghe ông kể.”

Ông Quốc khẽ nâng bàn tay lành lặn lên, ra hiệu. Cậu thanh niên áo xanh cúi xuống sát miệng ông, rồi nhìn ngẩng lên nói to, giọng hơi run:

“Bác Quốc nói để bác tự kể. Bác nói chậm, mọi người cố nghe giùm.”

Cả phố im phăng phắc. Anh xe ôm, mấy bà bán hàng, người đi đường, không ai nhúc nhích. Ông Quốc nhắm mắt một lúc, gom sức, rồi bắt đầu nói. Mỗi câu của ông là một quãng nghỉ dài, nhưng chữ nào ra khỏi miệng cũng rõ.

“Hà… đến nhà… xin tôi ký. Giấy nhượng nhà. Tôi không ký.” Ông thở. “Tôi nói… đợi thằng Khôi về. Hôm sau tôi… ngã.”

Bà cụ siết tay chồng, nước mắt lã chã.

“Tôi tỉnh dậy… ở bệnh viện. Hà ngồi cạnh. Nó nói… nó lo hết. Rồi nó cho tôi đi… không biết đi đâu.” Ông mở mắt, nhìn chị Hà không chớp. “Nó nói với tôi, nếu tôi lên tiếng, bà nhà sẽ không có chỗ ở.”

Chị Hà ôm mặt. “Tôi không… tôi không nói vậy…”

“Chị Hà.” Giọng tôi bật ra khỏi cổ họng trước khi tôi kịp nghĩ. “Có bao nhiêu người ở đây nghe rồi. Chị còn muốn nói không?”

Chị Hà ngước nhìn tôi. Trong mắt chị là một thứ gì đó mà tôi không muốn gọi tên.

Ông Quốc tiếp tục, mệt nhưng không dừng.

“Chừng bảy ngày sau… tôi còn đi được, chống gậy. Tôi nhờ thằng Tín.” Ông hất cằm về phía cậu thanh niên áo xanh. “Nhờ nó chở tôi về quê. Về nhà cũ. Tôi biết… Hà không biết chỗ đó.”

Cậu Tín gật đầu, mặt đỏ bừng: “Dạ, hôm đó bác nằng nặc xin con. Con đưa bác về nhà cũ ở quê hơn một tiếng đường. Bác vào phòng làm việc, ở trong đó rất lâu, ra thì mặt xám ngoét, nhưng bác dặn con đừng nói với ai.”

“Tôi viết thư. Để lại cho Khôi.” Ông Quốc thều thào. “Cất chìa khóa… trong hộp. Giấu sau áo cũ. Tôi sợ… tôi không còn… sống đến ngày con về.”

Tôi đưa mắt nhìn ông Khôi. Ông đang nhắm mắt, vai rung lên từng nhịp.

“Dòng cuối trong thư,” ông nói khẽ, như nói với chính mình, “’nếu tôi có mệnh hệ gì, người đến lấy chìa khóa này không phải người nhà.’ Con đọc mà không hiểu. Giờ con hiểu rồi.”

Ông mở mắt, quay sang chị Hà. Giọng ông bây giờ không còn là giọng người con trai đang khóc, cũng không phải giọng người đi đòi nợ, mà là thứ giọng bình tĩnh đến đáng sợ của một người đã nối xong từng mắt xích.

“Hôm tôi về quê tìm đồ, hàng xóm kể cho tôi nghe một chuyện. Có một người đàn bà đến căn nhà cũ của ba tôi ba lần, hỏi đủ cách xem ai giữ chìa khóa phòng làm việc, rồi lấy cớ đưa tiền nhờ người phá cửa. Cửa gỗ lim, không ai phá nổi.” Ông Khôi dừng một nhịp. “Chị Hà. Chị cần cái gì trong căn phòng đó?”

Chị Hà không đáp. Nhưng tôi thấy gương mặt chị đã tái đi một lần nữa.

“Tôi nói cho chị biết.” Ông Khôi lấy từ túi áo ra thêm một vật nhỏ, chiếc chìa khóa đồng mà bà cụ vừa nhận ra. “Sáng nay, trước khi đến đây, tôi đã mở căn phòng đó. Ngay trong tủ sắt, có hai thứ. Một bản di chúc, ba tôi viết tay, nói rõ căn nhà mặt phố này thuộc về mẹ tôi, sau đó thuộc về tôi. Và một thứ nữa.”

Ông giơ lên một cuốn sổ bìa đỏ.

“Bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đứng tên ba mẹ tôi.”

Cả phố xôn xao.

“Chị cầm một tờ hợp đồng viết tay mà không có sổ gốc,” ông Khôi nói từng chữ, “thì chị không bao giờ sang tên được. Chị không có quyền sở hữu căn nhà này. Chị chỉ có cái ổ khóa chị mới thay. Và mười tám tháng chị ngồi trên nhà của người khác.”

Chị Hà gào lên. Không phải tiếng gào của người bị oan, mà là tiếng của kẻ bị dồn vào chân tường.

“Tôi nuôi cái quán này mười năm! Mười năm tôi một mình, nuôi con, không ai giúp tôi! Bà ấy giàu thế, nhà mặt phố, còn tôi thì ngày nào cũng trả tiền thuê, tiền vay, tiền chợ! Tôi chỉ muốn giữ lại cái tôi đã làm ra!”

“Cái chị làm ra,” bà cụ bỗng lên tiếng.

Cả phố quay sang nhìn bà. Bà vẫn quỳ bên xe lăn, tay vẫn nắm tay chồng, nhưng mặt đã ngẩng lên, nhìn thẳng vào chị Hà. Đôi mắt đục mờ ấy lúc này không còn hiền lành nữa. Tôi nhận ra đó là ánh mắt của người đã nhường rất nhiều và chỉ vừa mới hết chỗ để nhường.

“Cái chị làm ra là mười năm chị nhờ tôi cho thuê rẻ, tôi nhớ chị ngồi khóc ở cửa. Tôi thương. Tôi không đòi một đồng nào tăng giá.” Giọng bà run nhưng từng chữ rất rõ. “Chị nói chị nuôi tôi đến cuối đời. Chị nuôi tôi bằng cái t:át hôm nay à?”

Chị Hà há miệng. Không có gì thoát ra.

“Cái t:át đó tôi không để bụng.” Bà đưa tay sờ lên má mình, chỗ vẫn còn in hằn năm ngón tay đỏ tấy. “Tôi già rồi, ai t:át tôi cũng chịu được. Nhưng chị đem chồng tôi giấu hai năm trời. Chị để tôi thắp hương cho một người còn sống. Chị cho tôi ôm một cái hũ tro của người khác mà khóc. Cái đó, tôi không tha được.”

Tôi nghe tiếng ai đó nấc lên ở phía sau lưng. Quay lại, một bà bán rau đang lấy tay áo lau mắt.

“Hũ tro…” Ông Khôi lẩm bẩm, rồi quay sang chị Hà, giọng như từ dưới đáy giếng vọng lên. “Cái hũ tro trên bàn thờ nhà tôi. Của ai?”

Chị Hà ngã khuỵu xuống nền gạch. Rất lâu sau, chị mới nói, như thì thào với cái bóng của chính mình:

“Tôi nhờ người quen bên nhà tang lễ… xin tro của một người vô thừa nhận… Tôi nghĩ… nếu ông ấy ch:ết rồi thì bà sẽ dễ ký hơn.”

Không ai nói gì. Có những khoảnh khắc im lặng mà người ta nghe rõ cả tiếng nắng chiếu xuống mặt đường.

Chị Hà đột ngột đứng dậy. Tôi thấy chị đảo mắt nhìn ra con phố, tìm một khe hở. Chị vớ lấy túi xách trên bàn, xô một chiếc ghế nhựa rồi lao ra phía bên kia đường.

“Đứng lại!”

Người đầu tiên chặn chị lại không phải ông Khôi, cũng không phải tôi. Là anh xe ôm, người đã nổ máy bỏ đi khi chị Hà đánh bà cụ. Anh dựng chiếc xe ngang đường, dang tay chặn ngay trước mặt chị. Phía sau, mấy bà bán hàng đã đứng thành một hàng, im lặng, không ai nhường lối.

“Tôi xin lỗi,” anh xe ôm nói, không nhìn chị Hà mà nhìn về phía bà cụ. “Hồi nãy tôi đã bỏ đi. Giờ thì tôi không đi nữa.”

Tôi rút điện thoại ra, gọi cho công an phường. Tay tôi vẫn còn run, nhưng lần này không phải vì sợ. Vừa nói địa chỉ xong, tôi nghe chị Hà bật ra một tiếng nức nở rất dài, rồi chị ngồi sụp xuống vỉa hè, ngay chỗ bà cụ nằm sấp lúc nãy.

Hai cán bộ công an đến sau mười phút. Họ nghe ông Khôi trình bày, xem hợp đồng, xem giấy xác nhận, xem cuốn sổ của ông Thịnh, nghe ông Quốc nói bằng giọng ngọng nghịu nhưng không sai một chữ, nghe cậu Tín xác nhận. Tôi đứng ra làm chứng những gì mình đã thấy và đã nghe, từ lúc chị Hà t:át bà cụ cho đến khi tiếng xe lăn vang lên trên nền gạch.

Khi họ đưa chị Hà lên xe, chị ngoái lại. Chị nhìn bà cụ, nhìn ông Quốc, nhìn cái quán của mình lần cuối. Chị mấp máy môi định nói gì đó, nhưng bà cụ đã quay mặt đi, nắm chặt tay chồng.

Còn một người nữa phải đi cùng. Ông Thịnh tự giơ hai tay ra trước mặt công an, không đợi ai yêu cầu.

“Tôi nhận tiền để giữ người trái ý gia đình,” ông nói, giọng nhẹ như đã trút được một khối đá. “Tôi xin chịu mọi trách nhiệm. Chỉ xin anh Khôi đừng để ông cụ bị ngắt thuốc tập vật lý trị liệu. Ông ấy mới nói được vài chữ sau hai năm.”

Ông Khôi nhìn ông ta một lúc lâu. “Tôi sẽ lo cho ba tôi. Còn chuyện của chú, để pháp luật xem xét.” Rồi ông khẽ nói thêm: “Nhưng nếu hôm nay chú không gọi cho tôi, thì mẹ tôi vẫn đang ngồi ngoài đường xin cơm thừa. Cảm ơn chú.”

Chiếc xe công an lăn bánh. Con phố vẫn còn đông người đứng, nhưng không ai nói gì, chỉ nhìn theo. Rồi lần lượt, mỗi người quay về chỗ của mình, nhẹ nhàng và lặng lẽ.

Chiều hôm đó, tôi ngồi với ba người họ trong quán cơm Hà Thành, nay không còn ai đứng bếp. Ông Khôi mua ba suất cơm từ một quán đối diện, nhưng bà cụ chỉ ăn được mấy thìa. Bà cứ nhìn chồng mãi, như sợ chớp mắt một cái ông sẽ biến mất. Ông Quốc ngồi trên xe lăn, bàn tay lành lặn đặt trong lòng bàn tay vợ.

Bà bỗng quay sang ông Khôi.

“Khôi. Cái Hà nó còn đứa con. Đứa nhỏ không có tội. Con đừng để nó chịu thiệt vì chuyện của mẹ nó.”

Ông Khôi sững lại, rồi gật đầu, rất chậm. “Dạ. Con sẽ lo.”

Tôi nhìn bà cụ, người vừa bị cướp nhà, mất chồng suốt hai năm, bị đánh ngã giữa phố trong ngày đầu tiên gặp lại gia đình, vậy mà vẫn nhớ đến một đứa trẻ mà bà chưa chắc đã từng bế. Lúc đó tôi mới hiểu vì sao bà cứ nhất quyết không kiện, nhất quyết im lặng suốt một năm. Không phải vì bà yếu đuối. Bà chỉ không biết cách nào căm ghét một người cho đủ sâu.

Bốn tháng sau, tòa tuyên án. Chị Hà bị kết tội làm giả giấy tờ, chiếm đoạt tài sản, cùng nhiều hành vi liên quan đến việc giam giữ và che giấu một người trái ý gia đình. Bản án là nhiều năm tù. Ông Thịnh, nhờ tự nguyện khai báo và giao nộp chứng cứ, nhận mức án nhẹ hơn nhiều. Ngày nghe án, tôi ngồi hàng ghế dự thính. Chị Hà không nhìn tôi lần nào, nhưng lúc tòa đọc xong, tôi thấy chị cúi đầu rất thấp, thấp hơn cả lúc đứng giữa phố hôm ấy.

Căn nhà mặt phố được trả về đúng chủ. Đứa con của chị Hà được ông Khôi lo học phí và chỗ ở, không một lời kể công với ai. Còn ông Quốc, sau nửa năm tập vật lý trị liệu, đã nói được từng câu ngắn rõ ràng hơn, và đã có thể tự cầm thìa ăn cơm.

Cuối năm đó, một buổi trưa, tôi đi ngang phố Bình V như mọi ngày, và dừng lại ngay trước quán cũ.

Tấm biển Hà Thành đã được tháo xuống. Thay vào đó là tấm bảng gỗ nhỏ, chữ viết tay hơi nghiêng, nét chữ tôi nhận ra là của ông Khôi. Bên dưới tấm bảng, bà cụ ngồi trên chiếc ghế nhựa quen thuộc, tóc chải gọn gàng, áo mới, má đã hồng hào hơn hẳn. Bà thấy tôi, mỉm cười, vẫy tay.

“Cô Ngân vào ăn cơm đi con.”

Tôi bước vào. Trong quán, ông Quốc ngồi ở góc bàn gần cửa sổ, đang chậm rãi lau từng chiếc đũa bằng bàn tay còn khỏe. Cậu Tín, giờ làm thêm ở quán sau giờ học nghề, bê nồi canh ra bàn. Ở cuối quán, ngay lối vào, có một chiếc bàn dài kê sát tường, trên đó xếp mấy hộp cơm và một chồng bát sạch. Phía trên chiếc bàn treo một tấm bảng nhỏ:

“Ai đói cứ vào. Không cần trả tiền. Không cần hỏi.”

Một người đàn ông gầy gò, áo sờn vai, đứng ngập ngừng ngoài cửa. Bà cụ đứng dậy, bước ra, nắm tay ông ta, dịu dàng như nắm tay một đứa cháu.

“Vào đi con. Cơm còn nóng.”

Người đàn ông ấy cúi đầu thật thấp rồi bước vào. Tôi nhìn theo, rồi nhìn ra con phố đang ồn ào xe cộ ngoài kia. Anh xe ôm năm nào ngang qua, giơ tay chào bà cụ. Mấy bà bán hàng bên kia đường gật đầu, cười, tay vẫn không ngừng xếp rau.

Tôi ngồi xuống bàn, đặt hộp cơm mình mang theo sang một bên, và gọi một suất. Bà cụ tự tay bê ra cho tôi, đặt bát canh trước mặt, vỗ nhẹ lên mu bàn tay tôi.

“Cảm ơn con, hôm đó con đã đứng ra.”

“Dạ, con đứng muộn quá bà ạ.” Tôi cúi đầu. “Lúc đó con cũng như cả phố, đứng nhìn.”

“Muộn còn hơn không đứng.” Bà cười, nếp nhăn quanh mắt xô lại thành một đường rất hiền. “Đa số người ta, cả đời cũng chỉ đứng nhìn thôi con.”

Tôi cúi xuống, múc thìa canh đầu tiên. Canh còn nóng, vị thanh, thoang thoảng mùi rau thơm. Ngoài kia nắng đổ xuống vỉa hè, đúng chỗ bà từng ngã. Giờ chỗ ấy có một người ăn xin đang ngồi nghỉ chân dưới bóng mát của mặt tiền quán, và không ai đuổi ông ta đi cả.

-HẾT-