BÀ CỤ SÁU MƯƠI TÁM TUỔI B:ÁN VÉ SỐ BỊ NGƯỜI PHỤ NỮ GIÀU CÓ T:ÁT LIÊN TIẾP, TRÓI TAY GIỮA XE BUÝT VÌ TỘI “ĂN C:ẮP VÍ BA MƯƠI TR:IỆU”. BÀ KH:ÓC: “TÔI NGHÈO THẬT, NHƯNG TÔI CHƯA BAO GIỜ ĂN C:ẮP CỦA AI!” TÀI XẾ MỞ CAMERA, NGƯỜI PHỤ NỮ T:ÁI M:ẶT (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Tôi chưa kịp mở miệng thì bác tài xế đã dừng đoạn tua, bấm giữ hình đúng khuôn mặt gã thanh niên mũ xám. Gương mặt ấy hiện rõ trên màn hình nhỏ, góc nghiêng, sống mũi cao, một nốt ruồi nhỏ bên dưới khóe mắt.
Chị phụ nữ sang trọng giật mình, vội đưa tay che cái điện thoại đang sáng trong túi.
“Xem… xem xong chưa? Có người móc ví tôi thật, vậy là tôi bị mất ví thật, tôi nói có sai đâu!” Giọng chị ta cao vút, vội vã như để lấp đi nỗi hoảng loạn vừa lộ ra. “Còn bà này, biết đâu là đồng bọn của nó!”
Cả xe im lặng một nhịp. Rồi có tiếng xì xào.
Tôi bước thẳng tới, đứng chắn giữa chị ta và bà Tư.
“Chị vừa nói gì? Camera quay rõ người lấy ví là một thanh niên đã xuống xe từ bến trước. Bà cụ ngồi im từ lúc lên xe đến giờ, cả xe này đều thấy. Chị t:át bà, trói bà, vậy mà bây giờ chị còn dám nói bà là đồng bọn?”
“Tôi… tôi chỉ nghi ngờ thôi. Ai biết được!”
“Nghi ngờ mà ra tay như vậy sao?” Tôi chỉ vào vết đỏ trên má bà. “Mọi người nhìn đi. Đây là dấu bàn tay.”
Gã đàn ông lúc nãy hô hào khám túi giờ cúi gằm mặt. Người phụ nữ vừa kéo dây trói thì lùi ra sau, lúng túng tháo sợi dây khỏi cổ tay bà. Không ai nói lời xin lỗi. Đến tháo dây họ cũng làm như sợ bị nhìn thấy.
Tôi đỡ bà Tư ngồi xuống ghế. Cổ tay bà hằn từng vệt đỏ sậm, bàn tay run đến mức không nắm lại được. Tôi lấy chai nước trong túi, vặn nắp đưa cho bà.
“Bà uống chút nước đi ạ.”
Bà không nhận. Bà chỉ nhìn xuống sàn, nơi xấp vé số vẫn còn nằm tung tóe, giọng thều thào:
“Cô… cô nhặt giúp bà với. Vé của khách đặt trước, bà sợ mất…”
Tôi nghẹn lại. Bị tát, bị trói, bị gọi là kẻ trộm giữa chốn đông người, vậy mà việc đầu tiên bà nghĩ đến vẫn là xấp vé của khách. Tôi quỳ xuống, nhặt từng tờ, phủi bụi, xếp lại ngay ngắn rồi nhét vào túi vải cho bà.
Lúc ngẩng lên, tôi thấy chị phụ nữ kia đang lén lút đi ra phía cửa xuống.
“Chị khoan đã.” Bác tài xế lên tiếng, giọng không to nhưng chắc nịch. “Chị chưa đi được. Có người bị đ:ánh trên xe tôi, tôi phải báo công an. Đoạn camera này tôi giữ lại.”
Chị ta quay phắt lại, mắt trợn trừng.
“Bác đừng làm lớn chuyện! Tôi bị mất ví, tôi mất ba mươi triệu, tôi mới là người bị hại ở đây!”
“Chị là người bị hại, nhưng chị cũng là người ra tay trước.” Bác tài nói. “Việc nào việc nấy.”
Tôi đứng dậy. Tôi không ưa chuyện ầm ĩ, nhưng nhìn bàn tay run rẩy của bà Tư, tôi không thể im.
“Chị ơi, chị vừa nói ‘sao lại là thằng này’. Chị quen cậu thanh niên đó à?”
Mặt chị ta tái đi thêm một lần nữa. Tay chị siết lấy quai túi đến trắng bệch.
“Cô nghe nhầm rồi!”
“Cả xe đều nghe.” Bác tài nói. “Và tin nhắn vừa hiện trên điện thoại chị, cô gái này nhìn thấy.”
Chị ta bật quay sang tôi, ánh mắt như muốn ăn tươi nuốt sống. Nhưng chỉ một giây sau, cái nhìn ấy vụt tắt, thay vào đó là một thứ gì đó rất khác. Hoảng hốt, và cầu xin.
“Cô… cô đừng nói gì nữa. Tôi xin cô.”
Chính câu nói ấy làm tôi hiểu có điều gì đó không bình thường. Một người phụ nữ vừa tát một bà cụ giữa xe đông, giờ lại đứng đây xin tôi im lặng.
Công an phường đến sau khoảng mười lăm phút. Hai anh cảnh sát lên xe, nghe bác tài trình bày, xem lại camera. Họ yêu cầu chị phụ nữ và bà Tư cùng xuống làm việc. Tôi xin đi theo làm nhân chứng. Cả xe buýt hôm ấy chậm gần một tiếng.
Ở trụ sở công an phường, bà Tư ngồi trên chiếc ghế nhựa, hai tay đặt trên đầu gối, vẫn còn hằn dấu dây. Một chị cán bộ bưng cho bà ly nước ấm, hỏi han nhẹ nhàng. Bà chỉ cúi đầu, không dám nhìn ai, cứ lặp đi lặp lại:
“Tôi không lấy. Tôi bán vé số hai mươi năm nay, chưa lấy của ai một đồng.”
“Bà đừng lo.” Chị cán bộ vỗ nhẹ lên tay bà. “Camera đã chứng minh bà trong sạch rồi.”
Bà ngẩng lên, nước mắt trào ra. Không phải khóc vì được minh oan, tôi đoán vậy. Bà khóc vì mấy chục năm qua chưa ai gọi bà là người trong sạch.
Ở phòng bên, chị phụ nữ giàu có được hỏi riêng. Tên chị là Quỳnh, bốn mươi lăm tuổi, chủ một cửa hàng nội thất. Tôi ngồi ngoài hành lang, nghe loáng thoáng qua cánh cửa chưa khép hẳn.
“Chị Quỳnh, chị có nhận ra người trong đoạn video không?”
Im lặng khá lâu.
“Không… tôi không biết.”
“Chị chắc chứ? Nếu chị biết, chị nên khai ngay, để chúng tôi truy tìm cho nhanh.”
“Tôi nói rồi, tôi không biết.” Giọng chị ta dồn dập, gấp gáp. “Tôi chỉ muốn làm xong thủ tục rồi về. Tôi không cần đòi lại ví nữa, coi như xui xẻo.”
Anh cảnh sát im một chút rồi nói, giọng rất bình tĩnh:
“Chị mất ba mươi triệu mà không muốn truy tìm kẻ lấy? Điều đó hơi lạ đấy.”
Không có tiếng trả lời. Tôi nghe tiếng ghế kéo kẹt một cái, rồi chị Quỳnh bước ra, mắt đỏ hoe, mặt cố giữ vẻ cứng cỏi.
Chị ta nhìn tôi, rồi nhìn bà Tư. Chị đi chậm lại, như muốn nói điều gì. Nhưng rồi chị chỉ siết chặt túi xách, cúi đầu đi nhanh ra cổng.
Tôi đứng phắt dậy.
“Chị ơi!”
Chị ta khựng lại ở bậc thềm nhưng không quay đầu.
“Chị còn nợ bà cụ một lời xin lỗi.”
Một lúc lâu, chị mới quay lại. Gương mặt bóng bẩy ban nãy giờ chỉ còn vẻ mệt mỏi. Chị ta bước đến chỗ bà Tư, nhìn thấy dấu dây trên cổ tay bà, môi run lên.
“Bà…” Chị nuốt khan. “Tôi… xin lỗi bà.”
Giọng chị nhỏ đến mức tôi phải nghiêng người mới nghe rõ. Bà Tư ngẩng lên, nhìn chị một lúc rất lâu, rồi khẽ lắc đầu.
“Cô không cần xin lỗi tôi. Tôi già rồi, quen bị người ta nhìn xuống. Nhưng tôi thấy cô… cô cũng đang sợ chuyện gì đó, phải không?”
Chị Quỳnh sững người. Cả hành lang như ngừng thở.
Tôi cũng không hiểu vì sao bà Tư, người vừa bị chị tát, lại hỏi như vậy. Nhưng nhìn ánh mắt bà, không có hận, chỉ có thương.
Chị Quỳnh chợt bật khóc, hai vai run lên, tay ôm lấy miệng.
“Đó là con trai tôi.”
Tôi nghe tiếng mình thở hắt ra. Anh cảnh sát vừa bước ra khỏi phòng cũng khựng lại.
“Cái thằng trong camera… là con trai tôi. Tên Khôi, mười chín tuổi.”
Chị Quỳnh ngồi sụp xuống chiếc ghế dài ngoài hành lang, ôm đầu.
“Từ năm ngoái nó bỏ học, đi chơi với đám bạn xấu. Nó nghiện cá độ bóng đá trên mạng, thua mấy trăm triệu. Tôi trả giúp một lần, hai lần, rồi thôi. Tháng trước nó bảo tôi cho thêm, tôi khóa thẻ, chặn tiền. Nó bỏ nhà đi, tôi tưởng nó đã tỉnh ngộ… Không ngờ…”
Chị nghẹn lại một lúc mới nói được:
“Tin nhắn trong điện thoại tôi lúc nãy là nó nhắn, chỉ có bốn chữ: ‘Mẹ, cứu con với.’”
Hành lang im lặng đến nghe rõ tiếng quạt trần quay.
“Vậy lúc ở trên xe, chị đã nhận ra con mình trên camera.” Tôi nói, giọng khô khốc. “Nhưng chị vẫn để bà cụ bị oan, thà để người ta tưởng bà ăn cắp, còn hơn để công an biết con chị là kẻ lấy ví.”
Chị ta không phản bác. Chỉ cúi gằm mặt, nước mắt rơi từng giọt xuống sàn gạch.
“Tôi sợ… tôi sợ nó bị bắt. Nó là con tôi. Tôi sinh nó ra, tôi nuôi nó từ nhỏ… Tôi không biết phải làm gì.”
“Chị sợ con chị bị bắt, nên chị để một bà cụ bị đ:ánh, bị trói thay nó?” Giọng tôi run lên vì tức. “Bà ấy sáu mươi tám tuổi, chị biết không?”
Bà Tư vẫn ngồi đó, lặng lẽ. Một lúc sau bà khẽ nói:
“Cô gái, đừng nói nặng quá. Người làm mẹ, đứng trước con mình, ai cũng yếu đuối cả.”
Tôi quay sang bà, không hiểu nổi. Sao bà có thể vừa bị làm nhục, vừa còn bênh vực chính người làm nhục mình?
Nhưng ngay lúc đó, tôi chợt thấy tay bà Tư đang run bần bật, không phải vì giận, mà vì một điều gì khác. Bà nhìn chằm chằm vào tấm ảnh trên màn hình điện thoại chị Quỳnh đang cầm. Đó là ảnh cậu con trai Khôi hồi nhỏ, chụp cùng chị bên một bờ biển.
Bà Tư thều thào:
“Cô cho tôi xem lại tấm ảnh ấy được không?”
Chị Quỳnh ngạc nhiên, nhưng vẫn đưa điện thoại. Bà cầm lấy, đưa sát lại gần mắt, nhìn rất lâu. Ngón tay gầy guộc của bà chạm lên nốt ruồi nhỏ ở khóe mắt cậu bé trong ảnh.
“Cậu bé này… nốt ruồi này…” Bà lẩm bẩm.
Tôi sởn gai ốc.
“Bà biết cậu ấy sao?” Tôi hỏi.
Bà Tư không trả lời ngay. Bà đưa tay vào túi áo, lục lọi một lúc rồi lôi ra một chiếc ví vải cũ, sờn mép. Bên trong, tôi thấy một tấm ảnh nhỏ đã ố vàng. Bà đặt cạnh điện thoại chị Quỳnh.
Hai tấm ảnh, hai khuôn mặt trẻ con, cùng một nốt ruồi dưới khóe mắt trái, cùng một đường chân mày.
Bà ngẩng lên, nước mắt giàn giụa, giọng run đến mức tôi tưởng bà sắp ngất:
“Con trai bà, Tuấn, đã bỏ bà đi hai mươi năm nay… Đây là con của nó.”
Chị Quỳnh tái mặt, đôi môi mấp máy mà không thốt nên lời. Còn tôi đứng giữa hành lang trụ sở công an phường, nhìn hai người đàn bà xa lạ, một bà cụ bán vé số nghèo khổ và một bà chủ giàu có vừa tát bà trước mặt cả xe, và hiểu rằng hôm nay chuyện này chưa thể kết thúc ở một chiếc ví.
“Chị Quỳnh.” Giọng bà Tư khản đặc, từng chữ rơi xuống như đá. “Cô nói thật cho bà biết đi. Cha thằng Khôi là ai?”
Chị Quỳnh ngước lên, gương mặt trắng bệch, ánh mắt hoảng loạn nhìn qua tôi rồi nhìn xuống bàn tay run lẩy bẩy của bà Tư. Chị mở miệng định trả lời, thì điện thoại trong tay chị rung lên. Màn hình sáng, hiện một số lạ cùng một dòng tin nhắn: “Chị Quỳnh, em là bạn của Khôi. Nó đang ở bệnh viện, tình trạng nguy kịch. Chị đến ngay đi.”
Chị Quỳnh hét lên một tiếng rồi chạy thẳng ra cổng. Bà Tư ôm chặt tấm ảnh ố vàng, đứng bật dậy, lảo đảo lao theo sau chị.
Tôi đứng chết trân giữa hành lang vài giây. Rồi tôi chạy theo.
Bác tài xế buýt vẫn chưa đi. Thấy tôi lao ra cổng, ông nổ máy chiếc xe máy cũ dựng sát bậc thềm, hô to:
“Lên đi, cô! Bệnh viện đa khoa thành phố gần nhất, họ chạy hướng đó!”
Tôi không kịp hỏi vì sao ông biết, cứ thế nhảy lên yên sau. Phía trước, chị Quỳnh đã lao lên một chiếc taxi vừa đỗ ven đường, bà Tư lảo đảo chạy theo, suýt ngã. Tôi hét lên:
“Chị Quỳnh, chờ bà cụ với!”
Taxi chững lại nửa giây. Tôi thấy chị Quỳnh quay đầu, ánh mắt thoáng do dự, rồi chị đẩy cửa, kéo bà Tư vào xe. Bác tài chở tôi bám theo sau.
Đến bệnh viện, hành lang cấp cứu sáng trắng và lạnh. Một cậu thanh niên gầy gò, mặt non choẹt, tay còn dính vết máu khô đứng dựa tường, thấy chị Quỳnh thì òa khóc.
“Cô… cô ơi, anh Khôi bị đám cho vay đòi nợ chặn ở ngõ, bị đ:ánh gãy mấy xương sườn, còn bị đạp vào bụng. Em gọi cấp cứu rồi, bác sĩ đang mổ…”
Chị Quỳnh ngã khuỵu xuống sàn. Bà Tư đỡ chị dậy bằng đôi tay còn hằn dấu dây, giọng run run:
“Con ơi, bình tĩnh. Ngồi xuống đây. Thằng bé sẽ không sao đâu.”
Tôi đứng cạnh, bỗng thấy mình thật thừa thãi. Hai người đàn bà ấy, một người vừa tát người kia giữa xe buýt, giờ lại ngồi sát nhau trên băng ghế sắt, tay nắm chặt tay.
Gần hai tiếng sau, cánh cửa phòng mổ mở ra. Bác sĩ cởi khẩu trang, nói với giọng mệt mỏi:
“Người nhà bệnh nhân Khôi đâu? Ca mổ thành công, bệnh nhân qua cơn nguy kịch. Nhưng mất nhiều máu, cần ở lại hồi sức vài ngày.”
Chị Quỳnh bật khóc nức nở. Bà Tư thì nhắm mắt, môi mấp máy một câu gì đó như khấn.
Gần nửa đêm, Khôi được chuyển ra phòng hồi sức. Chị Quỳnh và bà Tư được vào thăm. Tôi ngồi lại ngoài hành lang cùng bác tài, ông mua cho tôi một hộp xôi, bảo ăn đi cho khỏi đói.
“Cháu cảm ơn bác. Mà sao bác biết chạy hướng bệnh viện này ạ?”
“Tôi chạy tuyến xe này hai chục năm, bệnh viện nào gần cũng thuộc.” Ông cười nhạt. “Với lại hôm nay tôi mà không tua camera, chắc ân hận cả đời. Cô thấy không, người ta chỉ cần một cái nhìn là đã kết tội xong cho một con người.”
Tôi gật đầu, không nói gì.
Sáng hôm sau, tôi xin nghỉ làm, quay lại bệnh viện. Tôi thấy chị Quỳnh ngồi ngoài hành lang, hai mắt thâm quầng, tóc rối, chiếc áo khoác dạ hôm qua nhăn nhúm. Cạnh chị, bà Tư đang đút từng thìa cháo cho chị, như đút cho một đứa trẻ.
Chị Quỳnh nhìn thấy tôi, định đứng dậy thì bà Tư giữ lại.
“Cô gái, ngồi đi. Có chuyện này bà muốn nhờ cô.”
Tôi ngồi xuống. Bà Tư rút từ túi áo ra tấm ảnh ố vàng hôm qua, đặt lên đùi.
“Hôm qua trong lúc thằng bé ngủ, chị Quỳnh kể hết cho bà nghe.” Bà nói chậm. “Cô giúp bà nghe lại cùng, để sau này đừng ai bảo bà nghe nhầm.”
Chị Quỳnh hít một hơi sâu, đôi môi khô nứt, giọng khàn đặc:
“Hai mươi năm trước, tôi hai mươi lăm tuổi. Tôi làm phục vụ quán ăn gần bến xe, quen anh Tuấn. Anh ấy là thợ hồ, hiền, ít nói, nhà ở quê, mẹ làm nghề bán vé số. Chúng tôi yêu nhau một năm thì tôi có thai. Tôi báo với anh, anh vui lắm, hứa sẽ về quê xin mẹ cưới tôi.”
Bà Tư nghẹn lại, bàn tay siết tấm ảnh.
“Hôm đó thằng Tuấn về quê, nói với bà là muốn lấy vợ, đứa nhỏ sắp ra đời. Bà bảo con có vợ con thì phải cố gắng lo cho đàng hoàng, bà bán thêm vé số, dành dụm tiền cưới cho con. Rồi một tuần sau… thằng bé biến mất.”
Chị Quỳnh lau nước mắt.
“Anh ấy không biến mất. Hôm đó anh Tuấn đi làm công trình, đang bê vữa trên giàn giáo thì ngã xuống. Anh ấy mất tại chỗ.”
Tôi nghe tim mình hẫng đi một nhịp.
“Công ty thầu xây dựng bồi thường một khoản nhỏ rồi ép người nhà ký giấy không khiếu nại. Anh ấy mồ côi cha, mẹ ở xa, tôi lại là người yêu chưa cưới nên chẳng ai báo tin cho ai. Tôi đi tìm anh thì chỉ nghe nói anh ‘bỏ việc về quê’. Tôi nghĩ anh bỏ tôi.”
Bà Tư lắc đầu thật chậm, nước mắt lăn xuống nếp nhăn.
“Bà không biết chị Quỳnh là ai. Bà chỉ nghe tin con bà ngã giàn, bà chạy lên thì họ đã đưa thằng bé đi hỏa táng, họ bảo là theo thủ tục. Bà ôm hũ tro về quê, tự lo hậu sự, rồi từ đó bà bán vé số ngày đêm. Bà đi tìm người yêu thằng Tuấn khắp nơi, nhưng không biết tên, không biết mặt. Hai chục năm nay, bà vẫn mang tấm ảnh này theo bên mình.”
“Thế còn tin ‘bỏ bà đi hai mươi năm’ mà bà nói hôm qua?” Tôi hỏi.
Bà cười buồn.
“Hôm qua bà sợ quá, nói ra câu ấy theo thói quen. Hai mươi năm nay, bà vẫn tự nhủ con bà bỏ đi cho đỡ đau lòng.”
Tôi im lặng. Hóa ra suốt hai mươi năm, hai người đàn bà cùng đi tìm nhau mà không hề hay biết, một người bán vé số lang thang khắp các tuyến xe, một người dựng nghiệp từ quán ăn nhỏ, nuôi con một mình.
Chị Quỳnh nấc lên:
“Tôi sinh Khôi ra, nuôi nó một mình. Tôi sợ nó thiếu cha nên chiều nó mọi thứ, để nó sống đủ đầy. Tôi quên mất một điều, đứa trẻ cần dạy dỗ chứ không chỉ cần tiền. Cuối cùng nó đi trộm ví của chính mẹ, rồi làm cho một bà cụ vô tội bị nhục nhã giữa xe buýt…”
Chị quay sang bà Tư, quỳ xuống ngay giữa hành lang bệnh viện.
“Bà ơi, con xin lỗi bà. Con tát bà, con để người ta trói bà, con còn im lặng khi biết bà vô tội. Con không dám xin bà tha thứ, con chỉ xin bà một điều: bà cho con và Khôi được gọi bà là bà nội.”
Cả hành lang im phăng phắc. Mấy cô y tá đi ngang cũng chậm bước lại.
Bà Tư nhìn chị rất lâu. Bàn tay gầy của bà đặt lên vai chị.
“Đứng dậy đi con.” Bà nói. “Cái tát hôm qua đau, nhưng không đau bằng hai chục năm bà không biết con trai bà còn để lại một đứa cháu. Bà không còn gì để trách ai. Bà chỉ muốn nhìn thằng bé một lần cho đàng hoàng.”
Chị Quỳnh nấc lên, ôm lấy bà. Hai bóng người, một cao sang, một nhỏ bé còng lưng, run run trong vòng tay nhau.
Tôi không dám nhìn lâu. Tôi quay mặt đi, mắt cay xè.
Chiều hôm đó, chị Quỳnh đưa tôi vào phòng hồi sức. Khôi đã tỉnh, mặt xanh xao, băng trắng quấn quanh ngực. Cậu nhìn thấy bà Tư đứng bên giường, ánh mắt thoáng ngạc nhiên rồi hoảng hốt.
“Mẹ… ai đây?” Giọng cậu yếu ớt.
“Đây là bà nội con.” Chị Quỳnh nói. “Mẹ của ba con. Và cũng là bà cụ mà hôm qua bị mẹ…”
Chị nghẹn lại, không nói tiếp được.
Khôi nhìn bà Tư. Cậu nhìn thấy dấu hằn đỏ trên cổ tay bà, nhìn gương mặt gầy guộc, rồi nhìn tấm ảnh ố vàng bà đang cầm. Môi cậu run lên, nước mắt trào ra.
“Bà… con xin lỗi.” Cậu thều thào. “Con lấy trộm ví mẹ, con không biết… Con chỉ đang hoảng, bọn nó dọa giết con. Con không muốn hại ai, con không biết bà bị…”
“Thôi, thôi con.” Bà Tư nắm lấy bàn tay cậu. “Lúc con bị người ta đ:ánh, bà còn không biết con là ai. Con sống được là bà mừng rồi.”
Khôi òa khóc như một đứa trẻ. Chị Quỳnh đứng cạnh, tay ôm miệng, vai rung lên.
Tôi quay ra ngoài hành lang, ngồi xuống băng ghế, lặng lẽ thở ra một hơi dài. Vừa lúc ấy, anh cảnh sát hôm trước bước tới.
“Chào cô Hạnh. Tôi muốn nói chuyện về vụ việc hôm qua.”
“Dạ, anh cứ nói.”
“Vụ trộm ví ba mươi triệu, người bị hại là chị Quỳnh, người lấy là con trai chị ấy. Chị ấy xin rút đơn, vì là chuyện gia đình, số tiền cũng đã được hoàn lại. Phía công an chỉ xử lý theo hướng nhắc nhở, giáo dục.” Anh nói rành mạch. “Còn vụ t:át và trói bà cụ, theo quy định thì cần xử lý nghiêm. Nhưng bà Tư đã viết đơn xin không truy cứu, trong đơn bà chỉ yêu cầu hai điều.”
Tôi tò mò.
“Điều gì ạ?”
“Thứ nhất, chị Quỳnh phải công khai xin lỗi trên chuyến xe hôm đó. Thứ hai, những hành khách đã trói bà phải đến xin lỗi bà trực tiếp.”
Tôi sững người. Chỉ hai điều đó thôi. Không đòi tiền, không đòi xử phạt.
Ba ngày sau, tôi lại đi chuyến buýt cũ. Lần này, bà Tư ngồi chỗ cạnh cửa sổ như mọi khi, nhưng bên cạnh bà là chị Quỳnh, mặc bộ đồ giản dị, không trang điểm. Bác tài xế dừng xe giữa tuyến, quay xuống, nói qua loa:
“Thưa bà con, hôm nay có người muốn nói một lời.”
Chị Quỳnh đứng dậy, bàn tay nắm chặt thành ghế. Giọng chị run run nhưng rõ ràng:
“Thưa bà con, tôi là người đã vu oan cho bà cụ này ba hôm trước. Tôi nói bà ăn c:ắp ví của tôi, tôi t:át bà, tôi để người ta trói bà. Sự thật là bà không làm gì cả, chiếc ví bị lấy bởi người khác. Tôi thành thật xin lỗi bà Tư, và xin lỗi tất cả những ai đã chứng kiến.”
Chị cúi gập người. Cả xe im lặng. Rồi người phụ nữ từng cầm dây trói bà đứng lên, mặt đỏ bừng:
“Bà ơi, con xin lỗi. Hôm đó con nóng quá… con làm bà đau.”
Gã đàn ông trung niên từng hô hào khám túi cũng gãi đầu, đứng dậy:
“Bà thông cảm cho chú. Chú xin lỗi.”
Một vài người khác cũng lục tục nói lời xin lỗi. Bà Tư ngồi đó, hai tay đặt trên đầu gối, gật đầu từng người một. Bà không nói gì, chỉ mỉm cười, nụ cười lần đầu tiên tôi thấy trên gương mặt bà.
Chị Quỳnh ngồi xuống, lấy từ túi ra một phong bì, đặt vào tay bà Tư.
“Bà nội, đây là tiền con để dành. Bà đừng đi bán vé số nữa. Con thuê cho bà một căn phòng gần nhà con, bà về ở với mẹ con con được không?”
Bà Tư lắc đầu, đẩy phong bì lại.
“Bà không cần tiền. Bà chỉ cần có người ăn cơm cùng. Còn bán vé số… để bà bán nốt, rồi bà nghỉ. Mấy chục năm nay, bà quen khách quen đường rồi, bỏ ngang bà nhớ.”
Chị Quỳnh khóc, gật đầu. Chị cầm tay bà, nói khẽ:
“Vậy thì bà bán vé số cho con trước nhé. Con mua hết xấp vé hôm nay.”
Bà Tư bật cười, nước mắt cũng rơi cùng một lúc.
Mấy tuần sau, Khôi xuất viện. Cậu tự nguyện đến đồn cảnh sát gặp anh cảnh sát hôm nọ, khai rõ cả đường dây cho vay nặng lãi đã đòi nợ cậu và nhiều thanh niên khác. Nhờ lời khai ấy, công an triệu tập mấy kẻ cầm đầu. Khôi bị phạt hành chính và yêu cầu hoàn trả số tiền đã lấy, còn con đường đi học nghề lại được mở ra qua một chương trình dạy nghề của thành phố mà anh cảnh sát giới thiệu.
Cuối năm, tôi nhận được một tấm thiệp mời. Chị Quỳnh tổ chức lễ giỗ hai mươi năm cho anh Tuấn, tại ngôi nhà nhỏ của bà Tư ở quê. Lần đầu tiên, bà được đặt tên cháu nội cạnh bàn thờ con trai. Trên bàn thờ có hai tấm ảnh, một là ảnh anh Tuấn thời trẻ, một là ảnh bà Tư và Khôi chụp chung, cậu cao hơn bà cả cái đầu.
Tôi đứng ở cuối nhà, nhìn ba thế hệ cùng thắp hương, mà nghĩ đến chiều hôm ấy trên xe buýt. Nếu hôm đó không ai bật camera, nếu hôm đó tôi im lặng, có lẽ bà Tư mãi mãi là một bà cụ ăn c:ắp trong mắt người ta, còn chị Quỳnh mãi mãi là người đàn bà giàu có đã từng bỏ lỡ chính mẹ chồng của mình.
Một sự thật nhỏ đủ làm đổ cả một lời kết án. Và một lời xin lỗi thật lòng đủ nối lại hai mươi năm thất lạc.
Tối đó, bà Tư tiễn tôi ra cổng. Bà đưa cho tôi một tờ vé số, nắm chặt tay tôi.
“Cô gái, cầm lấy. Bà không có gì quý để cảm ơn, chỉ có tờ vé này.”
Tôi cười, cất vào ví. Hôm sau dò số, tờ vé chẳng trúng đồng nào. Nhưng tôi vẫn giữ nó cho đến bây giờ, như một lời nhắc rằng có những điều quý giá hơn bất kỳ giải thưởng nào: một người dám đứng lên, một người dám nhận lỗi, và một người dám tha thứ.
-HẾT-