Mẹ chồng chia 1000m2 đất giá 10 tỷ cho 2 chị chồng nhưng chồng tôi vừa mất nên mẹ con tôi không có phần

Mẹ chồng chia 1000m2 đất giá 10 tỷ cho 2 chị chồng nhưng chồng tôi vừa mất nên mẹ con tôi không có phần

Cơn mưa rào tháng Bảy xối xả đập vào mái tôn như muốn xé toạc không gian tĩnh lặng, nhưng vẫn không lạnh lẽo bằng không khí trong phòng khách nhà chồng tôi lúc này. Trên bàn thờ, di ảnh của Minh – chồng tôi – khói hương vẫn còn chưa tan hết. Anh mới mất được 49 ngày vì tai nạn lao động. Nỗi đau mất chồng còn chưa nguôi, tôi đã phải ngồi đây để nghe “phán quyết” cuối cùng của mẹ chồng.

Bà Hường, mẹ chồng tôi, ngồi trên ghế tràng kỷ, tay mân mê chuỗi hạt. Hai bên là chị Hai và chị Ba, ánh mắt hau háu nhìn vào tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đặt trên bàn. “Thằng Minh vắn số, nó đi rồi thì thôi, con dâu chỉ là người dưng nước law”. – Giọng bà Hường ranh mãnh, không chút run rẩy. – “Cái nhà này giờ chỉ còn mẹ và hai chị. Mảnh đất 1000m2 mặt tiền thị trấn này là ông bà để lại, giờ mẹ quyết định sang tên, chia đôi cho cái Lan và cái Huệ. Mỗi đứa 500m2”.

Tôi sững người, ôm chặt bé Bin vào lòng. Thằng bé mới 3 tuổi, ngây thơ chưa hiểu chuyện gì, chỉ biết dụi đầu vào ngực mẹ tìm hơi ấm. – “Mẹ”… – Tôi nghẹn ngào lên tiếng. – “Vậy còn mẹ con con? Bin là cháu đích tôn của dòng họ, là giọt máu duy nhất anh Minh để lại. Mẹ không để lại chút gì cho cháu sao”? Chị Hai bĩu môi, chen vào: – “Thím nói hay nhỉ? Chồng chết thì vợ đi bước nữa mấy hồi. Giờ chia đất cho thím, mai mốt thím rước thằng đàn ông khác về hưởng, rồi thằng Bin cũng theo họ người ta. Lúc đó đất nhà họ Trần này hóa ra dâng cho thiên hạ à”?

Bà Hường gật gù đắc ý: – “Chị con nói đúng đấy. Dâu là con người ta. Con gái mới là con mình. Mẹ già rồi, phải dựa vào con gái. Còn con, con còn trẻ, tự lo thân đi. Mẹ cho phép hai mẹ con ở lại cái chái bếp phía sau thêm 1 tháng để tìm trọ, thế là tử tế lắm rồi”. Tôi nhìn ba người phụ nữ trước mặt. Một người là bà nội của con tôi, hai người là cô ruột. Vậy mà trước khối tài sản khổng lồ, tình máu mủ bỗng chốc hóa thành người dưng nước lã.

Tôi không khóc. Nước mắt tôi đã cạn khô trong đám tang chồng rồi. Tôi cũng không cãi. Vì tôi hiểu, khi lòng tham đã che mờ mắt, mọi lý lẽ đều vô nghĩa. Tôi đứng dậy, dắt tay bé Bin, cúi đầu chào bà Hường một cái thật sâu – cái cúi đầu cuối cùng cho trọn nghĩa dâu con. – “Con cảm ơn mẹ. Mẹ nói đúng, con là người ngoài. Vậy từ nay về sau, sướng khổ có nhau, mong mẹ và hai chị bảo trọng. Con xin phép đưa cháu đi ngay trong đêm nay”.

Tôi dọn đi ngay lúc đó, chỉ với hai vali quần áo và số tiền bảo hiểm ít ỏi của Minh. Tôi chặn mọi liên lạc, xóa mọi ký ức về gia đình đó, bắt đầu cuộc sống mới nơi thành phố khác. Hai năm trôi qua.

Tôi làm việc điên cuồng, ban ngày làm kế toán, tối bán hàng online. Trời không phụ lòng người, nhờ sự nhanh nhạy, tôi phất lên nhanh chóng, mua được căn chung cư và lo cho Bin học trường quốc tế. Tôi nghe loáng thoáng đâu đó, mảnh đất 1000m2 kia sau khi chia xong thì hai cô con gái xúi mẹ bán đi lấy tiền tiêu xài, chơi bời, rồi đầu tư tiền ảo thua lỗ sạch sành sanh. Bà Hường giờ sống lay lắt trong căn nhà cấp 4 dột nát, tiền thuốc men cũng phải chạy vạy từng bữa.

Nhưng tôi mặc kệ. Tôi đã là “người dưng” cơ mà. Cho đến đêm hôm qua. Đang thiu thiu ngủ sau một ngày làm việc mệt nhoài, điện thoại tôi bỗng rung lên bần bật. Số lạ. Tôi tắt máy. Nó lại reo. Lại tắt. Liên tục như vậy đến cuộc thứ 10, tôi linh cảm có chuyện chẳng lành nên bắt máy. Đầu dây bên kia là tiếng gào khóc thảm thiết của chị Hai: – “Thảo ơi! Cứu mẹ! Mẹ bị tai biến, đang cấp cứu ở bệnh viện X. Bác sĩ bảo phải phẫu thuật gấp, cần 300 triệu đóng viện phí ngay lập tức. Chị và cái Huệ hết sạch tiền rồi. Em về ngay đi, em còn tình nghĩa gì thì cứu mẹ với”!

Tôi cúp máy. Sau đó là một cơn bão cuộc gọi. Tổng cộng 52 cuộc gọi nhỡ từ cả chị Hai, chị Ba và số lạ của hàng xóm. Tin nhắn Zalo nhảy liên tục: “Mày có phải con người không?”, “Dù gì cũng là bà nội thằng Bin”, “Anh Minh linh thiêng sẽ oán trách mày”, “Cô giàu có thế mà tiếc tiền cứu mạng người à?”… Tôi nhìn màn hình điện thoại sáng rực trong đêm, lòng bình thản đến lạ lùng. Tôi không thấy hả hê, chỉ thấy nực cười. Tôi mở tin nhắn, soạn một dòng duy nhất và gửi vào nhóm chat chung của gia đình họ – nơi tôi chưa từng thoát ra để giữ lại bằng chứng về sự bạc bẽo năm xưa.

Sáng hôm sau, tôi đến bệnh viện. Chị Hai và chị Ba đang ngồi vật vờ ở hành lang, mắt sưng húp. Thấy tôi xuất hiện với bộ vest sang trọng, túi xách hàng hiệu, hai người họ lao đến như bắt được vàng. – “Trời ơi Thảo! Em đến rồi! – Chị Ba nắm chặt tay tôi, móng tay sắc nhọn bấm cả vào da thịt. – Tiền đâu? Đóng viện phí nhanh lên không bác sĩ trả về bây giờ”!

Tôi nhẹ nhàng gỡ tay chị ta ra, phủi phủi tay áo như vừa chạm phải thứ gì dơ bẩn lắm. Tôi nhìn thẳng vào mắt hai người chị chồng, rồi nhìn qua khe cửa kính phòng cấp cứu, nơi bà Hường đang nằm thoi thóp. Tôi rút trong túi ra chiếc điện thoại, mở lại tin nhắn tôi đã soạn đêm qua nhưng chưa gửi, rồi dõng dạc nói lớn, đủ để cả dãy hành lang nghe thấy: – “Hai năm trước, khi chia 1000m2 đất trị giá 10 tỷ, mẹ đã nói một câu chắc như đinh đóng cột: “Dâu là người dưng, con gái mới là người nhà. Tài sản cho người nhà hưởng, khó khăn người nhà tự lo.”

Mặt chị Hai cắt không còn giọt máu. Chị Ba há hốc mồm. Tôi tiếp lời, giọng đanh thép và lạnh lùng: – Lúc chia gia tài, mẹ và các chị coi tôi là người ngoài, sợ tôi cướp mất phần nên đuổi mẹ con tôi đi ngay trong đêm mưa gió, không cho thằng Bin lấy một tấc đất cắm dùi. Giờ đến lúc hoạn nạn, các chị lại nhớ ra tôi là con dâu, là người nhà sao? – “Nhưng… nhưng đó là mạng người”! – Chị Hai lắp bắp. – “Mày giàu thế này, bỏ ra vài trăm triệu thì chết ai”?

Tôi bật cười, nụ cười khiến họ lạnh gáy: – Tiền tôi kiếm được là mồ hôi nước mắt, là tiền sữa cho con tôi – đứa cháu mà các người từng vứt bỏ. Hôm nay tôi đến đây không phải để đóng tiền. Tôi đến để trả lời cho 52 cuộc gọi đêm qua của các chị. Tôi ghé sát vào tai chị Hai, nói từng tiếng rõ ràng: “Mảnh đất 1000m2 các chị đã bán sạch để ăn chơi, giờ mẹ nằm đó, đó là cái giá các chị phải trả. Bác sĩ bảo cần 300 triệu? Các chị còn hai quả thận, còn hai ngôi nhà đang ở đấy, bán đi mà cứu mẹ. Đừng tìm ‘người dưng’ như tôi, vì người dưng thì không có nghĩa vụ báo hiếu.”

Nói xong, tôi quay lưng bước đi thẳng. Phía sau lưng, tiếng chị Ba gào lên tuyệt vọng, tiếng y tá nhắc nhở trật tự, tất cả hỗn độn như một bản nhạc bi ai của luật nhân quả. Tôi bước ra cổng bệnh viện, bầu trời sau cơn mưa trong xanh lạ thường. Tôi biết mình có thể bị người đời đàm tiếu là tàn nhẫn, nhưng sự tàn nhẫn của tôi hôm nay chính là bài học đắt giá nhất cho thói đời bạc bẽo: Sống có đức thì mặc sức mà ăn, còn sống cạn tàu ráo máng thì đừng mong người khác đưa tay ra cứu vớt.

Tôi lên xe, gọi điện cho con trai: “Bin à, chiều nay mẹ đón con đi ăn kem nhé. Mẹ con mình vẫn sống rất tốt, con nhỉ?”

Ông nội cho chú út 1 căn nhà và 2 mảnh đất, trong khi bố tôi là con cùng cha khác mẹ lại chẳng được một chút gì

Trong cái làng ven sông này, người ta vẫn thường mang câu chuyện của gia đình tôi ra để bàn tán lúc trà dư tửu hậu. Chuyện về một người cha thiên vị đến mức tàn nhẫn và một người con hiếu thảo đến mức “khờ dại”. Bố tôi là con của bà cả, người vợ đầu quá cố của ông nội. Sau khi bà mất, ông đi bước nữa và có thêm chú út. Kể từ đó, ranh giới giữa hai dòng con cái được vạch ra rõ rệt như dòng sông ngăn đôi bờ.

Năm chú út lấy vợ, ông nội cắt một mảnh đất mặt đường và xây tặng chú căn nhà hai tầng khang trang nhất vùng, kèm theo hai mảnh đất vườn màu mỡ. Trong khi đó, gia đình tôi bốn miệng ăn vẫn chen chúc trong căn nhà lá lụp xụp ven đê, mỗi mùa mưa về là cả nhà lại thức trắng đêm để hứng nước dột.

Ông nội giàu có, sở hữu căn biệt thự 5 tầng nguy nga nhất phố huyện, nhưng chưa bao giờ ông bước chân qua cửa nhà tôi. Ngày chị em tôi thiếu tiền đóng học, mẹ đánh bạo sang hỏi vay, ông chỉ lạnh lùng bảo: “Tiền tao để lo cho tương lai của chú út, tụi mày tự làm tự ăn”.

Nghèo khó là thế, nhưng bố tôi chưa bao giờ một lời oán trách. Ông vốn tính lầm lì, chỉ biết làm lụng. Bố có cái nghề chài lưới trên sông. Mỗi lần may mắn kéo được con cá chép to hay con cá lăng quý, mẹ mừng rỡ bảo: “Cái này mang ra chợ bán cũng đủ tiền gạo cho mấy đứa nhỏ cả tuần, anh để em mang đi nha”. Nhưng bố nhất định không chịu. Ông lặng lẽ làm sạch cá, gói ghém cẩn thận rồi đạp chiếc xe cà tàng mang sang biếu nội. Đáp lại lòng thành của bố, chưa bao giờ nội mời bố lấy một chén trà tử tế.

Mùa đông năm nay lạnh hơn mọi năm, ông nội đổ bệnh rồi qua đời đột ngột. Ngày tang lễ, nhà chú út thuê dàn kèn trống rình rang, người xe tấp nập. Gia đình tôi chỉ lặng lẽ lo việc hậu cần, ai sai gì làm nấy, không một lời tranh giành.

Ngày mãn tang, khi con cháu tề tựu đông đủ để nghe về phân chia tài sản, chú út hất hàm nhìn bố tôi – lúc này vẫn mặc bộ quần áo lao động sờn cũ, đứng nép mình ở góc sân. Chú cười lớn, một điệu cười đầy vẻ đắc thắng và khinh miệt:

“À, suýt nữa thì em quên. Lúc lâm chung bố có dặn lại, anh cả tuy chẳng giúp được gì cho dòng tộc nhưng cũng là máu mủ. Đây, bố cho anh cái này làm kỷ niệm!”

Nói rồi, chú vứt cái ba lô vải cũ rích, sờn rách và bám đầy bụi bặm xuống nền gạch, ngay sát chân bố. Đám con cháu nhà chú út cười rộ lên: “Đấy, ông công bằng thế còn gì, đúng là người nào đồ nấy!”.

Bố tôi chẳng nói nửa lời, cúi xuống nhặt cái ba lô cũ, ôm chặt vào lòng như ôm một báu vật rồi lẳng lặng dắt xe ra về. Nhìn bóng dáng tiều tụy của bố đổ dài trên con đường làng, tôi thấy lòng mình thắt lại vì uất ức.

Tối hôm đó, căn nhà lá của chúng tôi im lìm dưới ánh đèn dầu leo lét. Bố đặt chiếc ba lô lên bàn gỗ, tay run run mở khóa. Ban đầu, bố chỉ muốn lấy tấm ảnh cũ của nội ra để thờ, nhưng khi lật lớp lót bên dưới, một túi nylon lớn hiện ra. Bố mở túi, và rồi, cả nhà tôi như ngưng thở.

Trên bàn là một tập giấy tờ dày cộp. Trên cùng là cuốn sổ đỏ mang tên bố tôi, sở hữu toàn bộ khu đồi trồng rừng rộng hơn 10 hecta – mảnh đất mà bấy lâu nay chú út vẫn thèm khát để xây khu nghỉ dưỡng. Bên dưới đó là một tờ giấy chuyển nhượng khác: Quyền sở hữu căn biệt thự 5 tầng cùng toàn bộ khu đất thổ cư lâu năm của ông nội. Cuối cùng là một cuốn sổ tiết kiệm trị giá 3 tỷ đồng.

Giữa đống giấy tờ là một lá thư tay với nét chữ run rẩy của ông nội:

“Gửi con trai cả của bố! Bố biết con sẽ buồn vì sự ghẻ lạnh của bố suốt bao năm qua. Nhưng bố buộc phải đóng kịch như vậy để bảo vệ tài sản này cho con. Thằng út bản tính ham chơi, phá tán, nếu thấy bố đưa cho con, nó sẽ không để gia đình con yên ổn. Bố vờ cho nó nhà cửa, đất vườn để nó tưởng nó đã thắng, nhưng thực chất những gì giá trị nhất, bố đều để lại cho con – đứa con hiếu thảo, chưa bao giờ bỏ rơi bố dù chỉ là một con cá nhỏ hay một lời hỏi thăm âm thầm. Hãy dùng số tiền này để lo cho các cháu ăn học. Bố nợ con một đời…”

Bố tôi đọc đến đó thì òa khóc nức nở như một đứa trẻ. Hóa ra, ông nội không hề mù quáng. Ông đã quan sát tất cả. Ông nhìn thấy sự bội bạc của chú út trong những ngày ông nằm trên giường bệnh và nhìn thấy cả sự nhẫn nại, chân thành của bố tôi.

Sáng hôm sau, khi chú út hùng hổ sang nhà tôi định đòi lại cái ba lô vì “tiếc rẻ” cái khóa kéo, chú đã chết lặng khi thấy bố tôi đang đứng đợi với tờ di chúc có chứng thực của luật sư.

Cả căn biệt thự và khu đồi quý giá – niềm tự hào duy nhất của dòng họ – nay đã thuộc về người mà chú vẫn luôn gọi là “kẻ nghèo hèn”. Chú út ngã quỵ xuống sân, còn bố tôi, ông không hề chì chiết. Ông chỉ nhìn chú rồi bảo: “Tiền tài là vật ngoài thân, cái bố để lại cho anh không phải là sổ đỏ, mà là sự thanh thản trong tâm hồn. Chú đã có quá nhiều, giờ hãy học cách sống sao cho xứng đáng với những gì bố đã cho”.

Gia đình tôi không còn sống trong cảnh dột nát nữa, nhưng bố vẫn giữ thói quen cũ. Thỉnh thoảng, ông vẫn đi kéo lưới, rồi mang con cá to nhất ra mộ nội, ngồi đó tâm sự thật lâu. Tôi hiểu rằng, sự đổi đời này không phải từ trên trời rơi xuống, mà là quả ngọt của một đời sống thiện lương và hiếu nghĩa, dù cho bóng tối của sự bất công có bao phủ bao lâu đi chăng nữa

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*