CẢ XÓM GỌI ÔNG LÀ “THẰNG Đ:IÊN”, XUA NHƯ XUA TÀ, VẬY MÀ THÁNG NÀO ÔNG CŨNG LẶN LỘI ĐEM T:IỀN ĐẾN ĐÓNG HỌC PHÍ CHO MỘT ĐỨA BÉ XA LẠ. NGÀY TÔI HỎI THẲNG, ÔNG CHỈ C:ƯỜI: “CHÁU KHÔNG CẦN BIẾT LÀM GÌ, TÔI CÒN SỐNG NGÀY NÀO, NÓ CÒN ĐƯỢC ĐI HỌC NGÀY ĐÓ” (PHẦN 2 – BẢN ĐẦY ĐỦ)

(Tiếp theo phần 1)
Tôi ngồi thừ ra trước bàn làm việc, tay vẫn cầm tờ giấy khai sinh phô tô đã ố vàng. Dòng chữ ghi tên cha của bé Tí là “Trần Văn Sơn”. Cái tên đó khiến tôi lạnh cả sống lưng, vì tôi từng nghe qua, không phải một lần, mà rất nhiều lần, từ chính miệng bà ngoại tôi kể lại hồi còn nhỏ.
Tôi vội gấp tờ giấy lại, cất vào cặp, rồi chạy sang nhà bà ngoại — người sống gần trọn đời ở cái xóm này, biết rõ mọi chuyện xưa cũ của làng.
“Ngoại ơi, ngoại có nhớ ông Bảy hồi trẻ làm nghề gì không? Ông có quen ai tên Trần Văn Sơn không ngoại?” Tôi hỏi, giọng gấp gáp.
Bà ngoại tôi đang ngồi têm trầu, nghe vậy thì khựng tay lại, nhìn tôi dò xét: “Sao tự nhiên con hỏi chuyện đó? Cái tên Sơn đó lâu lắm rồi bà không nghe ai nhắc tới.”
“Con tình cờ thấy tên đó trong giấy tờ ở trường, thấy quen quen nên hỏi ngoại thử.” Tôi nói dối một phần, không muốn để lộ hết chuyện đang điều tra.
Bà ngoại tôi thở dài, đặt miếng trầu xuống, giọng chậm rãi kể lại: “Sơn là con trai độc nhất của ông Lộc, bạn thân từ nhỏ của ông Bảy. Hồi đó hai người cùng làm ở lò gạch đầu làng. Có một lần lò gạch bị sập, ông Lộc đã đẩy ông Bảy ra ngoài kịp, còn bản thân ông ấy thì kẹt lại trong đó, không qua khỏi.”
Tôi nín thở nghe tiếp. Bà ngoại kể, sau khi ông Lộc mất, ông Bảy day dứt khôn nguôi, coi như mình nợ mạng người bạn. Ông nhận nuôi dưỡng, lo lắng cho đứa con trai duy nhất của ông Lộc là Sơn, khi đó mới lên năm tuổi, coi như con cháu trong nhà, dù không máu mủ ruột thịt. Nhưng vài năm sau, mẹ của Sơn đi bước nữa, đưa con về quê ngoại sinh sống, cắt đứt liên lạc với ông Bảy vì sợ mang tiếng nhờ vả người ngoài nuôi con riêng.
“Từ đó ông Bảy không còn tin tức gì về thằng Sơn nữa. Nghe đâu ông ấy buồn dữ lắm, sinh ra lẩn thẩn, hay nói nhảm một mình từ dạo đó.” Bà ngoại kết luận, giọng ngậm ngùi.
Tôi ngồi lặng người, ghép nối các mảnh thông tin lại. Vậy ra, Sơn — người được ghi tên cha trong khai sinh của bé Tí — chính là đứa trẻ mà ông Bảy từng cưu mang năm xưa, con trai của người bạn đã c:hết thay ông trong vụ sập lò gạch. Nhưng vì sao giờ đây bé Tí, con của Sơn, lại xuất hiện ở chính ngôi làng này, và ông Bảy lại âm thầm đóng học phí cho nó?
Tôi quyết định phải tìm gặp bà ngoại của bé Tí để hỏi cho ra lẽ. Chiều hôm đó, tôi ghé qua căn nhà nhỏ nơi hai bà cháu sinh sống, khéo léo hỏi thăm.
“Bà ơi, con là kế toán trên trường, con muốn hỏi thăm chút chuyện về cha của bé Tí. Không biết bà có thể kể cho con nghe không ạ?”
Bà cụ — tên Sáu, đã ngoài bảy mươi — thở dài, mắt đỏ hoe khi nhắc đến chuyện cũ: “Con của tôi là Hạnh, mẹ thằng Tí, lấy chồng tên Sơn cách đây tám năm. Thằng Sơn hiền lành, chăm chỉ, nhưng số nó khổ, mồ côi cha từ nhỏ, mẹ đi bước nữa cũng bỏ bê không thương yêu gì. Hai đứa nó lấy nhau được vài năm thì gặp t:ai n:ạn xe, cả hai vợ chồng đều m:ất, để lại thằng Tí cho tôi nuôi.”
Tôi nghe mà lòng quặn thắt. “Vậy trước khi mất, chú Sơn có bao giờ nhắc đến một người tên Bảy không bà?”
Bà Sáu ngẫm nghĩ một lúc, rồi gật đầu: “Có, có nghe nó nhắc một lần, nói hồi nhỏ có một bác tên Bảy từng nuôi nó mấy năm, thương nó lắm, nhưng sau đó mẹ nó dẫn đi nơi khác nên mất liên lạc. Nó bảo nếu có dịp muốn tìm lại bác ấy để cảm ơn, nhưng chưa kịp tìm thì đã…”
Bà Sáu nghẹn lại, không nói hết câu. Tôi hiểu ra toàn bộ câu chuyện: sau khi cha mẹ Tí mất, không biết bằng cách nào, ông Bảy đã biết được tin tức, tìm ra đứa cháu của người bạn cũ, và âm thầm gánh vác trách nhiệm nuôi dạy, dù không một lời công khai, không một lần nhận công.
Tôi vội trở lại trường, lòng nặng trĩu suy nghĩ phải làm gì tiếp theo. Ngay hôm sau, cô hiệu trưởng gọi tôi lên phòng, vẻ mặt nghiêm trọng:
“Lài, cô vừa nghe mấy phụ huynh xì xào, đồn ông Bảy có thể là ông nội ruột của thằng Tí, giấu giếm chuyện gia đình vì sợ mang tiếng. Có người còn nói ông ấy lợi dụng đứa nhỏ để làm gì đó khuất tất. Con tìm hiểu tới đâu rồi, nói cô nghe thử.”
Tôi hít một hơi, kể lại toàn bộ những gì mình biết được từ bà ngoại và bà Sáu. Cô hiệu trưởng nghe xong, vẻ mặt dần giãn ra, nhưng vẫn còn băn khoăn: “Nếu đúng vậy thì đáng thương thật, nhưng con nghĩ mình có nên công khai chuyện này không? Sợ để lâu, tin đồn linh tinh càng lan xa, ảnh hưởng đến ông Bảy với cả thằng bé.”
Tôi suy nghĩ một lúc rồi quyết định: “Con nghĩ mình nên nói chuyện thẳng với ông Bảy trước, hỏi xem ông có đồng ý để nhà trường làm rõ chuyện này không, để chấm dứt tin đồn thất thiệt, cũng là để ông được ghi nhận đúng những gì ông đã âm thầm làm suốt bao năm qua.”
Chiều hôm đó, tôi tìm đến chòi lá của ông Bảy. Căn chòi nhỏ, đơn sơ, chỉ có chiếc giường tre cũ kỹ và vài vật dụng sinh hoạt tối thiểu. Ông đang ngồi vá lại chiếc áo cũ, thấy tôi đến thì hơi bất ngờ.
“Cô kế toán tìm tôi có chuyện gì?” Ông hỏi, giọng vẫn giữ vẻ dè dặt như mọi khi.
“Ông Bảy, con biết hết chuyện rồi. Con biết chú Sơn là con trai của ông Lộc, người bạn đã c:hết thay ông năm xưa. Con cũng biết ông đã nuôi chú Sơn mấy năm, rồi sau này tìm lại được thằng Tí, cháu nội của người bạn cũ, để âm thầm lo cho nó ăn học.”
Ông Bảy sững người, đôi tay đang vá áo khựng lại. Ánh mắt ông thoáng chút hoảng hốt, rồi chùng xuống, giọng trầm buồn: “Cô… cô tìm hiểu kỹ vậy làm gì? Tôi chỉ muốn âm thầm làm, không muốn ai biết, sợ người ta lại nghĩ tôi lợi dụng thằng bé, hay nghĩ tôi có ý đồ gì khác.”
“Ông Bảy, chính vì ông giấu giếm, nên bây giờ cả xóm đang đồn thổi những chuyện không hay về ông. Có người còn nghĩ ông là ông nội ruột giấu giếm gia đình, hoặc lợi dụng đứa nhỏ để làm việc xấu.” Tôi nói thẳng, muốn ông hiểu rõ tình hình.
Ông Bảy bật cười chua chát, giọng nghẹn lại: “Tôi nợ ông Lộc một mạng sống, làm sao trả hết được. Ông ấy c:hết rồi, tôi chỉ còn cách lo cho con cháu ông ấy, coi như trả một phần món nợ đó. Thằng Sơn ngày xưa tôi nuôi nó được vài năm thì mẹ nó dẫn đi, tôi tưởng không bao giờ gặp lại. Ai ngờ mấy năm trước, tình cờ nghe người quen kể chuyện thằng Sơn với vợ nó gặp t:ai n:ạn m:ất hết, để lại đứa con nhỏ, tôi mới lần tìm ra được, âm thầm giúp đỡ, không muốn ai biết vì sợ bà Sáu với thằng Tí ngại, nghĩ tôi thương hại.”
Tôi nghe mà mắt đỏ hoe, xúc động trước tấm lòng của ông lão suốt bao năm bị cả xóm xa lánh, gọi là điên, nhưng lại âm thầm gánh vác một lời hứa danh dự với người bạn đã khuất.
“Ông Bảy, con nghĩ ông không nên giấu chuyện này mãi. Nếu ông đồng ý, con sẽ nói chuyện với cô hiệu trưởng, làm rõ mọi chuyện trước phụ huynh trong buổi họp sắp tới, để mọi người hiểu đúng về ông, cũng là để bà Sáu và thằng Tí biết ơn đúng người đã giúp đỡ mình.”
Ông Bảy im lặng hồi lâu, rồi gật đầu, giọng run run: “Tùy cô thôi. Tôi chỉ mong sao thằng Tí được đi học đàng hoàng, không bị ai coi thường vì cảnh mồ côi. Chuyện của tôi có bị người ta hiểu lầm bao nhiêu năm nay cũng không sao, tôi quen rồi.”
Buổi họp phụ huynh cuối tháng diễn ra đông đủ. Trước sự chứng kiến của cả hội trường, tôi và cô hiệu trưởng công khai toàn bộ câu chuyện về ông Bảy, về mối ân tình với gia đình ông Lộc, về lời hứa âm thầm gánh vác trách nhiệm nuôi dạy cháu nội người bạn đã khuất suốt bao năm qua.
Cả hội trường lặng đi, nhiều phụ huynh không giấu được xúc động, có người còn bật khóc vì hối hận đã từng xa lánh, dè bỉu ông Bảy suốt bao năm. Bà Sáu ngồi ở hàng ghế cuối, tay ôm chặt bé Tí, nước mắt giàn giụa, không ngờ ân nhân âm thầm giúp đỡ cháu mình bao năm nay lại chính là ông lão bị cả xóm gọi là điên.
Sau buổi họp, bà Sáu tìm đến ông Bảy, quỳ sụp xuống trước mặt ông, giọng nghẹn ngào: “Ông ơi, tôi xin lỗi ông. Bao năm nay tôi với thằng Tí sống ở đây mà không hề biết ông chính là người đã giúp đỡ tụi tôi. Tôi thay mặt gia đình, cảm ơn ông vì tất cả.”
Ông Bảy vội đỡ bà Sáu dậy, giọng xúc động: “Bà đừng làm vậy, tôi chỉ trả món nợ ân tình với ông Lộc thôi, không có gì phải cảm ơn cả.”
Từ hôm đó, thái độ của cả xóm đối với ông Bảy thay đổi hoàn toàn. Không còn ai gọi ông là thằng điên, xua đuổi như trước. Người ta bắt đầu nhìn ông bằng ánh mắt kính trọng, thỉnh thoảng lại mang biếu ông ít gạo, ít rau, coi như bù đắp cho những năm tháng đối xử tệ bạc.
Nhưng đúng lúc mọi chuyện tưởng như đã có cái kết ấm lòng, một buổi sáng, tôi nhận được điện thoại từ trạm y tế xã, giọng người y tá gấp gáp:
“Cô Lài ơi, ông Bảy vừa được đưa vào trạm y tế cấp cứu, người ta phát hiện ông ngất xỉu trong chòi lá từ tối qua. Bác sĩ khám thì phát hiện ông bị bệnh nặng lắm, có vẻ như đã âm thầm chịu đựng lâu rồi mà không ai hay biết.”
Tôi bàng hoàng, buông vội cây bút đang cầm trên tay, chạy vội ra trạm y tế. Trên đường đi, đầu óc tôi rối bời với hàng loạt câu hỏi: ông Bảy bị bệnh gì mà giấu kín đến vậy? Và nếu chẳng may ông không qua khỏi, liệu việc học của bé Tí, lời hứa danh dự suốt bao năm ông gìn giữ, sẽ đi về đâu?
Tôi chạy như bay đến trạm y tế xã, hơi thở đứt quãng, tim đập loạn nhịp. Vừa bước vào phòng cấp cứu, tôi thấy ông Bảy nằm trên giường bệnh, người gầy gò, da xanh xao, dây truyền dịch cắm trên tay. Bác sĩ trực đang xem lại kết quả xét nghiệm, gương mặt trầm ngâm.
“Bác sĩ, ông Bảy bị sao vậy ạ?” Tôi hỏi, giọng run run.
Bác sĩ nhìn tôi, rồi nhìn lại hồ sơ bệnh án, giọng nghiêm túc: “Ông cụ bị suy tim giai đoạn nặng, kèm theo suy dinh dưỡng kéo dài. Qua thăm khám, tôi nghi ngờ ông đã có triệu chứng từ rất lâu rồi, nhưng không đi khám, không điều trị gì, để bệnh âm thầm tiến triển đến mức này.”
Tôi nghẹn lại, không dám tin những gì mình vừa nghe. Bác sĩ nói thêm, giọng có phần ái ngại: “Với tình trạng hiện tại, ông cụ cần được điều trị tích cực, có thể phải chuyển lên bệnh viện tỉnh để theo dõi kỹ hơn. Chi phí điều trị chắc chắn không nhỏ, gia đình cần chuẩn bị tinh thần.”
Tôi đứng lặng người. Ông Bảy không vợ con, không họ hàng, tiền bạc dành dụm cả đời chỉ để lo cho một đứa trẻ không máu mủ. Giờ đây, khi chính ông cần được cứu chữa, ai sẽ là người đứng ra lo liệu?
Đúng lúc đó, ông Bảy tỉnh lại, đôi mắt mở he hé nhìn quanh, thấy tôi đứng bên giường thì khẽ mỉm cười yếu ớt: “Cô kế toán… sao lại đến đây…”
“Ông Bảy, ông nằm yên nghỉ ngơi, đừng nói nhiều.” Tôi nắm lấy bàn tay gầy guộc của ông, cố kìm nước mắt.
Ông lắc đầu nhẹ, giọng thều thào: “Tôi không sao đâu, chỉ là mệt chút thôi. Cô về lo cho thằng Tí đi, đừng lo cho tôi.”
“Ông Bảy, bác sĩ nói ông bị suy tim nặng, đã âm thầm chịu đựng lâu rồi. Sao ông không đi khám sớm, để bệnh nặng đến mức này?” Tôi hỏi, giọng nghẹn ngào.
Ông Bảy im lặng một lúc, rồi thở dài, giọng yếu ớt nhưng rõ ràng: “Tôi biết mình bệnh từ hai năm trước rồi. Lúc đó đi khám, bác sĩ dặn phải uống thuốc đều, bồi dưỡng đầy đủ. Nhưng tiền tôi để dành đóng học phí cho thằng Tí, tôi không nỡ tiêu vào thuốc men cho mình. Tôi nghĩ, mình già rồi, sống được ngày nào hay ngày đó, miễn sao thằng bé còn được đi học đến nơi đến chốn.”
Tôi bật khóc, không kìm được nữa. Câu nói ngày trước ông từng bảo tôi — “Tôi còn sống ngày nào, nó còn được đi học ngày đó” — giờ đây tôi mới hiểu hết ý nghĩa sâu xa, đau lòng đến nhường nào. Ông Bảy đã âm thầm đánh đổi cả sức khỏe, cả mạng sống của mình, để giữ trọn lời hứa danh dự với người bạn đã khuất.
Tin ông Bảy nhập viện nhanh chóng lan khắp xóm. Chiều hôm đó, bà Sáu dẫn bé Tí đến thăm, gương mặt bà đầy lo lắng, ân hận. Bé Tí nắm chặt tay ông Bảy, giọng non nớt: “Ông ơi, ông mau khỏe lại đi, con hứa sẽ học thật giỏi để không phụ lòng ông.”
Ông Bảy mỉm cười, xoa đầu đứa trẻ, ánh mắt tràn đầy yêu thương: “Ông tin con mà. Con cứ ráng học, chuyện của ông không có gì đáng lo.”
Nhưng tình hình sức khỏe của ông Bảy không mấy khả quan. Bác sĩ ở trạm y tế xã đề nghị chuyển ông lên bệnh viện tỉnh gấp để điều trị chuyên sâu, chi phí ước tính không dưới ba mươi triệu đồng cho đợt điều trị đầu tiên. Số tiền quá lớn so với một ông lão sống một mình, không có nguồn thu nhập, không có tài sản gì đáng giá ngoài căn chòi lá xiêu vẹo.
Tôi trăn trở suốt đêm, cuối cùng quyết định đến gặp cô hiệu trưởng, đề xuất một ý tưởng: “Cô ơi, con nghĩ nhà trường mình nên đứng ra kêu gọi, vận động phụ huynh và các nhà hảo tâm quyên góp giúp ông Bảy chữa bệnh. Ông ấy đã âm thầm hy sinh vì một đứa trẻ trong trường mình suốt bao năm, giờ đến lượt mình phải giúp lại ông.”
Cô hiệu trưởng gật đầu ngay lập tức: “Cô cũng đang nghĩ tới chuyện này. Để cô soạn thông báo, gửi đến toàn bộ phụ huynh, cũng đăng lên trang thông tin của xã, kêu gọi mọi người chung tay.”
Chỉ trong ba ngày, tin tức về ông Bảy — người đàn ông bị cả xóm hiểu lầm là điên nhưng âm thầm nuôi dạy cháu nội người bạn đã khuất suốt nhiều năm — lan truyền khắp xã, rồi lan sang cả những xã lân cận. Nhiều người xúc động trước câu chuyện, tự nguyện đóng góp, người vài chục nghìn, người vài trăm nghìn, có nhà hảo tâm ở xa còn gửi về hẳn năm triệu đồng.
Chỉ sau một tuần, số tiền quyên góp đã vượt xa con số ba mươi triệu cần thiết cho đợt điều trị đầu tiên của ông Bảy. Tôi mang toàn bộ số tiền, cùng danh sách người đóng góp minh bạch, đến tận giường bệnh trình bày với ông.
“Ông Bảy, đây là tiền bà con quyên góp giúp ông chữa bệnh. Ông đừng từ chối, đây là tấm lòng của mọi người, muốn bù đắp lại cho những gì ông đã âm thầm hy sinh bao năm qua.”
Ông Bảy nhìn xấp tiền, nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, giọng nghẹn ngào: “Tôi… tôi không ngờ mọi người lại thương tôi đến vậy. Bao năm nay họ xa lánh, gọi tôi là thằng điên, giờ lại…”
“Ông Bảy, đó là vì trước đây mọi người chưa hiểu hết về ông thôi. Giờ ai cũng biết ông là người tốt, người sống có nghĩa có tình. Ông cứ yên tâm chữa bệnh, để còn nhìn thằng Tí lớn lên, học hành thành tài.” Tôi nói, giọng chan chứa xúc động.
Ông Bảy được chuyển lên bệnh viện tỉnh điều trị suốt hai tuần liền. Nhờ được chăm sóc y tế kịp thời, kết hợp với tinh thần lạc quan hơn khi biết mình không còn đơn độc, sức khỏe ông dần hồi phục. Bác sĩ dặn dò ông cần uống thuốc đều đặn, tái khám định kỳ, tránh làm việc nặng, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng.
Ngày ông Bảy xuất viện trở về xóm, cả xóm kéo ra đón, người mang gạo, người mang trứng, người biếu ít tiền dưỡng bệnh. Căn chòi lá xiêu vẹo của ông cũng được bà con trong xóm góp sức, góp của sửa sang lại khang trang hơn, không còn dột nát như trước.
Bà Sáu, sau khi bàn bạc kỹ lưỡng, quyết định mời ông Bảy về sống chung trong căn nhà nhỏ của hai bà cháu, viện lý do nhà rộng, có người qua lại chăm sóc lẫn nhau cũng đỡ hiu quạnh tuổi già. Ban đầu ông Bảy từ chối, sợ làm phiền, nhưng trước sự chân thành của bà Sáu và sự nài nỉ của bé Tí, cuối cùng ông cũng đồng ý.
“Ông về ở với bà cháu con đi, con muốn ông kèm con học bài mỗi tối, với lại con cũng muốn có ông ở gần, giống như ông nội vậy.” Bé Tí nói, ánh mắt trong veo đầy chân thành.
Ông Bảy xúc động, ôm chầm lấy đứa trẻ, giọng run run: “Được, ông sẽ ở gần con, kèm con học, nhìn con lớn lên, học hành thành tài, coi như trả trọn món nợ ân tình với cha con ngày xưa.”
Từ đó, cuộc sống của ba con người vốn không cùng huyết thống, nhưng gắn kết bởi ân nghĩa và tình thương, trở nên ấm áp hơn bao giờ hết. Mỗi chiều, người trong xóm lại thấy ông Bảy ngồi trước hiên nhà bà Sáu, dạy bé Tí học chữ, kể cho nó nghe những câu chuyện về người cha nó chưa từng có cơ hội hiểu rõ.
Ba tháng sau, tôi có dịp ghé thăm, thấy bé Tí khoe tấm giấy khen học sinh giỏi học kỳ một, mặt mày rạng rỡ. Ông Bảy đứng cạnh, ánh mắt tự hào không giấu giếm, sức khỏe đã hồi phục đáng kể, không còn dáng vẻ liêu xiêu, lẩn thẩn như trước.
“Cô Lài coi nè, thằng Tí học giỏi lắm, được cô giáo khen hoài.” Ông Bảy khoe, giọng đầy tự hào như một người ông thực thụ.
Tôi mỉm cười nhìn cảnh tượng ấm áp trước mắt, lòng dâng lên niềm vui khó tả. Từ một ông lão bị cả xóm xa lánh, gọi là thằng điên, giờ đây ông Bảy đã tìm lại được vị trí xứng đáng trong lòng mọi người, tìm lại được một gia đình thực sự, dù không cùng chung dòng máu.
Câu chuyện của ông Bảy sau đó được nhiều người truyền tai nhau như một bài học về lòng nhân nghĩa, về việc đừng vội đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài hay những lời đồn thổi thiếu căn cứ. Đôi khi, đằng sau một con người bị cả xã hội ruồng bỏ, lại ẩn chứa một tấm lòng cao cả, một lời hứa danh dự được gìn giữ bằng cả cuộc đời, mà chỉ khi sự thật được phơi bày, người ta mới thấu hiểu và trân trọng.
-HẾT-